Phía sau trăng là, nụ cười

Xem tranh thiền tính của họa sĩ Khánh Trường

 

1.
Mới năm ngoái, ông có một cuộc triển lãm tranh ở thiền viện Sùng Nghiêm. Khi đến xem tranh, tôi thấy gam màu xanh, đậm, chủ đạo cho phong cách Khánh Trường tràn vào mắt thường bắt gặp trước đây, đã mất đi nhiều. Nhường lại, tranh ông bấy giờ là những phong màu trắng, gần như trùm lấp hết một cõi tranh chủ đề thiền tính.

Người đến xem tranh, hẳn có nhiều xúc cảm khác nhau, nhưng dựa vào chủ đề ‘Ðáo Bỉ Ngạn’ do tác giả nói, rồi bàn, thì qua hết sông, là đã đến được bến giác. Là ngộ chăng!?

Tranh Thiền tính chủ đề ‘Ðáo Bỉ Ngạn’ của họa sĩ Khánh Trường

Riêng tôi, vẫn thấy xuyên và sau những lớp màn sương trắng mỏng tượng hình cho cõi không, chưa mất hết những rôm rả cuộc đời, vẫn xanh thẳm biển, lồng lộng mây, sừng sững núi và người đàn bà khoả thân nằm oải mình bên quả táo chín đỏ. Thiền tính trong tranh ông, tưởng tân toan vay mượn cành mai Mãn Giác, vắt ngang quả núi Tu di*, hay là đà xà trên mái chùa ngói nâu; những vừng trăng tròn khuyết bốn mùa thay đổi như tâm động mà phướn không động… Tranh thiền tính Khánh Trường, khi tôi đứng đối diện, vẫn muốn vén phăng bức màn gam trắng để tìm lại cõi uyên nguyên xanh thẳm thuở trước. Khánh Trường thành công, khi ông bắt mình lúc xem tranh, nhận ra cái gì đang hiện hữu và không hiện hữu trong cùng một thực thể, cùng một thời khắc.

Một họa phẩm mang thiền tính, khi nó đạt ở chỗ không cần vẽ vời. Trắng cũng được mà xanh cũng được. Có lẽ nào chỉ đòi hỏi thiền tính nơi tác giả, mà người xem tranh thì không!? Khánh Trường chỉ mượn màu sắc và hình tượng qua trường phái hội hoạ để vẽ và cùng lúc, để xóa.

Xóa gì? Và có gì để xóa?

 

2.
Hôm nay đến thăm ông, ở trong gian nhà chính, tôi không thấy ông bày biện nhiều tranh do chính mình vẽ, duy chỉ có một bức họa thiết trí nơi góc phòng tối. Ngoài ra chỉ có tượng của Ưu Ðàm, khắc họa chân dung ông sắc diện thuở phong trần.

Trên cỗ xe lăn mỗi ngày quay bánh, đời người cũng quay theo, ông vẫn mỉm cười tự tay mình, đẩy mình đi, tới, và có lẽ, ông đã thật thấy mình vượt qua được bờ kia. Giây phút đó, hệt như lần ông đã thấy trăng, dù còn đứng ở bờ này.

Sau một ngày vượt suối băng rừng, cả nhóm quyết định dựng trại trong một hẻm núi, khuất gió. Gã thiếu niên là tôi của ngót nửa thế kỷ trước vừa ngã lưng xuống tấm bạt, đã ngủ ngay, như chết. Nửûa khuya thức giấc nhìn ra ngoài. Qua khe núi, tôi bàng hoàng nhìn thấy mặt trăng tròn sáng rực treo lơ lửng giữa một bầu trời trong vắt không gợn mây.
Từ ngày ấy đến nay, gần 50 năm, rất nhiều lần tôi tái ngộv ới trăng, nhưng không bao giờ nữa tôi có đươc cảm giác choáng ngợp, như đã.” – Phan Tấn Hải, Tranh Thiền Khánh Trường: Hình Ảnh ‘Đáo Bỉ Ngạn’

Phía sau núi là trăng, sau trăng là gì nữa?

Suốt buổi, tôi mừng vì chỉ thấy ông luôn mỉm cười.

Phía sau vừng trăng Khánh Trường, có lẽ, là nụ cười tự tại của người hành giả chăng?

15 tháng Hai, 2013
UYÊN NGUYÊN

 

*Núi Tu Di là tên của một ngọn núi trong truyền thuyết thần thoại cổ Ấn Độ, còn gọi là Tu Di Lâu, Mạn Đà La. Theo quan niệm Phật giáo, núi Tu Di là vua của các ngọn núi, là trung tâm của thế giới, là vũ trụ quan của Phật giáo.

 

 

Tượng họa sĩ Khánh Trường, tác phẩm của Ưu Ðàm trong vườn nhà họa sĩ Rừng
Chân dung do Uyên Nguyên chụp tại tư gia 

Advertisements


Chuyên mục:Nghệ thuật, Nhân vật, Sự kiện

Thẻ:,

2 replies

  1. Trước đây nhân gian thường cho rằng núi Tu Di nằm ở ngay trên địa cầu (Ấn Độ), đây là lầm lẫn lớn. Chính Ngài Dalai Lama cũng từng xác nhận là Ấn Độ không có núi Tu Di.

    Vì trong kinh nói, núi Tu Di là trung tâm của một tiểu thế giới, núi ấy do bốn báu hợp thành, nằm giữa đại hải, cao khỏi mặt nước ba trăm ba mươi sáu vạn dặm. Mặt ngoài có chín ngọn núi, tám biển. Phía ngoại vi của núi Tu Di gọi là “Thiết Vy sơn,” nên ít nhất núi Tu Di phải là một thiên thể to bằng mặt trời đó chú Uyên Nguyên.

    Số lượt thích

    • Cám ơn Hạt Nắng đã chia sẻ nguồn gốc về Núi Tu Di, thật ra giải thích theo Kinh như thế, cũng còn rất trừu tượng. Trong bài viết, chỉ trú trọng ý niệm ‘vô ngã’ khi nhắc tên, như đã được đề cập trong Pháp Bảo Ðàn Kinh (Dứt lòng nhân ngã thì núi Tu di sập ngay). Tìm hiểu nhiều nguồn tư liệu, ngoài kinh điển như Hạt Cát nói, chúng ta có thể biết ở TQ cũng có một thắng địa Phật Giáo trùng tên tọa lạc tại khu tự trị dân tộc Hồi – Ninh Hạ, có hơn 100 hang động. Tọa lạc ở phía bắc, cách núi Lục Bàn khoảng 320 km về hướng đông nam, thành phố Ngân Xuyên, bờ bắc ngạn, song Tứ Khẩu Tử khoảng 55 km hướng tây bắc, thành phố Cố Nguyên. Dãy núi này cao sừng sững đối diện với Quan Sơn, eo vịnh nhỏ mà hẹp, thác nước sâu mà hiểm, núi non kỳ vĩ.

      Trong khi đó, tự điển Phật học giải thích khá cặn kẽ về núi Tu di, theo tinh thần kinh điển mà Hạt Cát nói. Giải thích điều này, e rằng phải đi sâu vào cả một đề tài rất sâu rộng về “Vũ trụ quan Phật giáo.” Mà ở đây không cho phép mình nói hết nổi. Mong hôm nào sẽ chia sẻ thêm với Hạt Cát nhé.

      Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: