Ðọc “Ðĩ Thúi, Và Phần Còn Lại Của Cõi Chết” của nhà văn Nguyễn Viện

DI THUI COVER

Tác phẩm “Ðĩ Thúi, & Phần Còn Lại Của Cõi Chết” của nhà văn Nguyễn Viện
Chương Văn xuất bản, 2015

Tiểu sử NGUYỄN VIỆN

Tên khai sinh: NGUYỄN VĂN VIỆN
Sinh ngày: 1.2.1949 tại Đồng Xá, Hải Dương.
Hiện sống và viết tại Sài Gòn.
Từng làm việc và cộng tác với các báo, đài: THANH NIÊN, GIA ĐÌNH & XÃ HỘI, THỂ THAO & VĂN HÓA, ĐẸP, SAIGON CITY LIFE, BBC…
Chủ trương: Nhà xuất bản CỬA (một nhà xuất bản tự do tại Saigon)
Phổ biến tác phẩm trên các tạp chí: Hợp Lưu (Mỹ), Văn Học (Mỹ), Văn (Mỹ), tienve.org, damau.org, talawas.org, procontra.asia, vanchuongviet.org, litviet.com,…

Chuyên đề về Nguyễn Viện trên Tiền Vệ:
http://tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=listtopic&artTopicId=7

Tác phẩm đã xuất bản:
Trinh nữ (tập truyện). NXB Đồng Nai, 1995. Việt Nam.
Bố mẹ và con và… (tạp bút). NXB Trẻ 1997. Việt Nam.
Hạt cát mang bóng đêm (tiểu thuyết). NXB Trẻ 1998. Việt Nam.
Rồng và Rắn (tiểu thuyết). Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2002. Hoa Kỳ.
Thời của những tiên tri giả (tiểu thuyết). NXB Công An Nhân Dân, 2003. Việt Nam. [Sau khi phát hành đã bị thu hồi].
Chữ dưới chân tường (tiểu thuyết). NXB Văn Mới, 2004. Hoa Kỳ.
26 LầnTờ Bờ Lờ (tiểu thuyết). CỬA Xuất Bản, 2008. Việt Nam.
Cơn bấn loạn bằng phẳng (tiểu thuyết). CỬA Xuất Bản, 2008. Việt Nam.
Em có gì bí mật, hãy mail cho anh (tiểu thuyết). CỬA Xuất Bản, 2008. Việt Nam.
Nín thở & chạy & một hơi (thơ). CỬA Xuất Bản, 2008. Việt Nam.
Đi & Đến (tập truyện). CỬA Xuất Bản, 2009. Việt Nam.
Ngồi bên lề rất trái (truyện & kịch). NXB CỬA, 2011. Việt Nam.
Nhảy múa để chết (tiểu thuyết). NXB Tiếng Quê Hương, 2013. Hoa Kỳ
Đĩ thúi (tiểu thuyết). NXB CỬA, 2013. Việt Nam.

 

Nguyễn Lệ Uyên: Chất phồn thực trong “Đĩ thúi” của Nguyễn Viện

Truyện Kiều của Nguyễn Du, sau khi được khắc bản in, lập tức có sức lan toả rộng rãi trong quần chúng. Tính phổ quát của Truyện Kiềuhơn hẳn những tác phẩm trước và sau nó để, từ tầng lớp bình dân cho chí các trí thức khoa bảng đều có các đánh giá khác nhau qua mỗi thời đại. Bởi ở đó, từ những nhân vật trong truyện, mỗi người có thể tìm ra những vấn đề tương đồng, những cá tính từng nhân vật như một phiên bản luôn có mặt như những thực thể sinh động trong mọi thời đại.

Đó cũng là lý do tại sao, kể từ khi có chữ viết riêng (Quốc ngữ), có báo chí, Truyện Kiều được mang ra mổ xẻ khá kỹ, với nhiều luồng trái ngược nhau. Dưới con mắt các nhà nho luôn ôm Luận ngữĐại học… làm sách gối đầu như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng thì Truyện Kiềuchỉ là loại dâm thư không hơn kém: “Nói cho đúng ra Truyện Kiều chỉ là một dâm thư, rõ ràng không có ích gì mà có hại”. Trong khi đó, những Phạm Quỳnh, Chu Mạnh Trinh thì lại hết lòng ca ngợi, xem Truyện Kiều như một loại “ngọc tỉ” truyền quốc: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn. Tiếng ta còn thì nước ta còn” – (Phạm Quỳnh).

Sức sống của Truyện Kiều không chỉ ở nội dung, nghệ thuật miêu tả trong thể loại thi ca đặc hữu của ViệtNam: Lục bát; mà còn ở tính cách của từng nhân vật. Những mẫu người như Kiều, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Sở Khanh, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến… thời đại nào chúng ta cũng có thể nhìn thấy họ hiển lộ, trong những con người khác, một cách đậm đặc. Có lẽ vì thế, các nhân vật này luôn là nguồn cảm hứng cho dòng văn học Việt Nam hậu Tự lực Văn đoàn, đặc biệt là dòng văn học miền Nam trước 1975.

Nguồn cảm hứng ấy, không chỉ dừng lại ở một Dương Nghiễm Mậu với một Từ Hải bất lực mà, hôm nay còn lan rộng ra với một Nguyễn Viện. Bằng một nhãn quan khác, ông cầm chiếc đũa của gã phù thuỷ, đẩy họ lên sân khấu, diễn lại tấn tuồng thời đại: Ở đó là cả một sự ô- uế- thánh- thiện, cưỡng- hiếp- toàn- bích, bỉ- ổi- sáng rực, lưu- manh- hoàn- hảo… nhất so với các nhân vật lưu manh mà ta từng đọc ở các tiểu thuyết Âu Á.

Nếu như hơn hai trăm năm trước, Nguyễn Du đã gom dắt bầy con cháu nhà Hán từ tay Thanh Tâm Tài Nhân, rồi gia công qua 3.245 câu lục bát để thành những con người mang thân phận tiêu biểu nhất, trong xã hội phong kiến đầu thế kỷ XIX; thì ngày nay Nguyễn Viện đã mượn các nhân vật này của Nguyễn Du từ tay Nguyễn và hoá thân đúng theo chức năng của một ông “bầu sô”, kéo dắt họ (các nhân vật) ra trước ánh đèn màu, cho họ nhập đồng, lên vai trong tư thế đồng đẳng với thời đại. Đó là thời đại tan tác, ươn sình mà người đọc chỉ có thể tìm thấy sự lừa lọc, lưu manh của loại hảo- hán- trí- thức- a- tu- la. Những phẩm hạnh và đạo đức làm người bị dục vọng thấp hèn thế chỗ. Thời đại đã dựng lên những con người như thế. Và những con người đó lại khoác lên mình dáng dấp như loại “chó nhà tang[i] nhảy bàn độc, nắm thóp thời đại mà quay, mà ném, mà lia. Đây là chiếc chong chóng khổng lồ của một triều đại không được đặt tên bởi tính chất nhân bản không có chỗ đứng xứng hợp; chỉ có thể xem đây là “thế giới của ảo tượng văn chương” như Nguyễn Viện thừa nhận.

Từ thế giới đã được xác lập, ở Đĩ thúi, sau khi khép lại những dòng cuối cùng, tôi không hề nghĩ ông viết theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo, hay “phản tiểu thuyết” như Phạm Thị Hoài nhận xét: “phản lịch sử, phản hư cấu, phản hiện thực và phản tiểu thuyết này… bước thẳng ra từ hư cấu và lịch sử để lăn lộn trên một bàn cờ thế sự quái đản mà tất cả chúng ta dường như đều có mặt”, mà ông đã sử dụng tính chất phồn thực (fertilité) tồn tại hàng ngàn năm nay trên thế gian này, lồng vào hiện thực thời đại để gửi đi nỗi bi phẫn và trách nhiệm nhà văn trước một xã hội đầy những mưu toan, bất trắc.

Đọc Đĩ thúi, điều chúng ta dễ dàng nhận ra, là tất cả các nhân vật chỉ có bộ mặt mà thiếu vắng một tấm lòng; tấm lòng ấy, có chăng chỉ có ở Kiều Nhi, Đạm Tiên và Thuý Kiều, khi họ hợp sức mở quán bia ôm, tân trang trinh tiết phục vụ tận tình đấng mày râu theo phương châm “ăn bánh trả tiền”. Chí ít, việc các em “bành chân dạng háng” được khẳng định “là một thứ lao động giản đơn thuần tuý kinh tế thị trường” và trên hết “nó là một quá trình hình thành bởi các cuộc cách mạng công nghệ và ý thức hệ”.

Với Kiều, tài và sắc của nàng, được Nguyễn Du mô tả là toàn vẹn. Khốn thay, xã hội nàng đang sống không cho phép nàng sử dụng nhan sắc và tài hoa để trở thành nhân vật danh giá, chí ít là để làm người chính danh! Thuyết “tài mệnh tương đố” từ Nguyễn Du đã đẩy nàng trở về với tâm thế của người đàn bà bước vào con đường phồn thực thênh thang. Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề là khởi đầu hành trạng của Kiều từ lúc nàng phải bán mình chuộc cha theo qui chuẩn đạo đức “chó nhà tang” của Khổng Tử. Trước đây mấy trăm năm, Kiều đã là sự hoàn thiện của các ngón ăn chơi đĩ thoã, thì nay, một Mã Kiều Nhi, vốn là nguyên mẫu của Thúy Kiều trong lịch sử, xuất hiện trở lại như một nàng Kiều thứ hai và đồng thời, dưới mắt Nguyễn Viện, Kiều Nhi có thừa các ngón nghề tuyệt kỹ, là sự kết tinh của nền văn hoá lầu xanh, của các cung A Phòng, chốn hậu cung của quyền lực tối thượng, xứng với tầm cao thời đại: “Đó là một Mã Kiều Nhi tài hoa. Cầm kỳ thi hoạ đủ món ăn chơi vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề, đặc biệt là món thổi kèn điêu luyện theo đúng tinh thần Karma Yoga”.

Mã Kiều Nhi dưới ngòi bút của Nguyễn Viện, là cô gái xinh đẹp và e lệ. Vì vậy e lệ được xem như thuộc tính của phái nữ. Nhưng khi làm người, đã là con người, thì mọi chuyển động về sinh lý, buộc phải tuần hoàn theo một chiều kích tự nhiên: “Xinh đẹp và e lệ thì cũng đến lúc phải đi tiểu… vì thế nàng đã phải đi hơi xa để tìm một chỗ kín đáo”. Thực ra, Mã Kiều Nhi cũng chẳng cần kín đáo làm gì, đơn giản là nàng muốn giấu tung tích gái giả trai để vượt biên, dễ dàng tung hoành trên miền đất mới.

Và, kể từ khi bước chân qua biên giới, được sự hỗ trợ đắc lực của Đạm Tiên, Mã Kiều Nhi bắt đầu thể hiện tài năng “kéo đầu từng người áp vào hĩm nàng” để trở thành “một thương hiệu toàn cầu và mang tính phổ quát”. Nàng đã trở thành “đĩ quốc tế”. Nàng rơi vào vòng sa đoạ nhưng cũng chưa hẳn là vong thân, bởi các đối tượng đến với nàng đều cần nàng từ một nhu cầu gốc, cho nên “tất cả đều tôn thờ nàng. Nhưng tất cả đều miệt thị nàng”. Nàng biết vượt lên trên vũng lầy để trở thành “người của bá tánh, vì bá tánh và cho bá tánh”. Ý thức một cách rõ ràng về triết lý nhân sinh “mình vì mọi người và mọi người vì mình”, tức khái niệm vay trả sòng phẳng nên nàng ngẩng cao tâm hồn để làm đẹp thân xác: “bành hai chân, dạng háng uy nghi trước mọi nền văn minh nhân loại”.

Xem ra nhân cách và đạo đức làm người của Mã Kiều Nhi vẫn có chút gì đó cao đẹp hơn nhiều lần so với những nhân vật khác, bởi tính cách “vì mọi người” của nàng “Tôi chỉ thiếu mỗi danh hiệu áp trại phu nhân thôi, tuy nhiên thỉnh thoảng tôi cũng cho các anh cai tù bóp vú một cách kín đáo”. Đó là chưa kể, cả “tập đoàn đĩ” và cụ tổ Bạch Mi cũng thừa tình thương với kẻ hoạn nạn, ra tay cứu vớt quan đầu triều Hồ Tôn Hiến nằm mộng thấy mình gặp rắc rối, dẫu biết Hồ là loại người lưu manh thượng đẳng: “Tôi có những giấc mơ giữa ban ngày. Đại thể, đó là những sinh linh, không, không phải những sinh linh, mà là những ngọn cỏ. Trên đầu ngọn cỏ có những cái miệng. Những cái miệng đó phun ra máu làm đỏ cả bầu trời. Vâng, cỏ non xanh rợn chân trời và máu tươi chói lọi tầng không. Còn ban đêm thì lại khác cô ạ. Đêm trắng. Trắng không có bất cứ cái gì hiện hữu. Tôi không an tâm.

Người luôn cảm thông, được chia sẻ và gần gũi với Kiều Nhi là Nguyễn. Chàng luôn bị mặc cảm làm người giày vò, bởi thân phận trí thức thuộc loại “hàng thần lơ láo”. Nguyễn vừa công nhận, vừa phủ nhận Kiều Nhi là đĩ quốc tế, để sau đó, khi đưa lên bàn cân tình cảm, chàng lại xác quyết rằng: nàng là một cô gái vẹn toàn tiết trinh. Đĩ chỉ là cái vỏ bọc. Đĩ chỉ tồn tại ở thân xác. Nhưng tâm hồn thì hoàn toàn trong trắng. Ở đâu và lúc nào, Nguyễn cũng thấy “nàng luôn luôn trinh bạch”. Chàng đã khám phá “khuôn mặt thật của em dưới lớp da nhân tạo” luôn là một trinh tiết mới mẻ mỗi khi chàng gần gũi Kiều Nhi và Đạm Tiên. Nó vượt qua sự ô uế để mỗi lúc một gần hơn với cái đẹp muôn thuở. Niềm tin đó đã xác quyết trong con người chàng, luôn là điều xác tín: “Nguyễn thấy mình căng phồng như một quả bóng. Nhục dục và siêu thoát… Trong một chớp loé sáng của ý thức, Nguyễn thấu cảm ngẫu tượng tôn giáo của Linga và Yoni” ngay cả khi chàng ngủ với nàng trong nhà trọ bị công an bắt giữ, tống giam.

Khoảng không gian vừa rộng vừa hẹp mà tập đoàn Mã Kiều Nhi hoạt động, thoạt nhìn, có vẻ như những nhà thổ hạ cấp, đôi khi rất gần với những nhà trọ, phòng ngủ nhan nhản khắp mọi hang cùng ngõ hẻm ở một xứ sở vĩ đại, đồng bóng ngày nay. Hành trạng của họ qua ngòi bút Nguyễn Viện, chưa thấy bày ra cảnh nhếch nhác, ô uế; trái lại, nó vượt lên trên, hết thảy và trở thành những thiên sứ đáng nể phục.

Đã đành, khẩu hiệu đồng thời là mục tiêu đề ra của họ là “ăn bánh trả tiền”. Đành rằng họ là giai cấp đĩ bị khinh miệt. Nhưng cũng có lúc, chính những kẻ lưu manh, những tên bán buôn lịch sử đã phải cần đến họ, quỵ luỵ trước bản thân vừa nhơ nhớp trong suốt vừa trinh bạch thanh cao của họ. Chính Hồ Tôn Hiến, một thượng đẳng công thần lừng lững, quyền uy đỏ rực từ đầu đến đít cũng phải tất tả cầu cứu các nàng:

Một trăm ngày sau, trước bàn thờ Bạch Mi là Vương Thuý Kiều loã thể nằm trên tấm thảm có in hình trống đồng Đông Sơn. Rượu Minh Mạng 14 ly đặt chung quanh. Đạm Tiên đứng thắp hương vái lạy thần tổ…
Hồ Tôn Hiến thưa: “Làm thế nào để bảo toàn gia nghiệp?”

Bạch Mi phán: “Cất giữ vàng thật, phát hành tiền giả.”

Hồ Tôn Hiến thưa: “Làm thế nào để tiêu diệt kẻ thù?”

Bạch Mi phán: “Muốn tiêu diệt thù ngoài thì phải củng cố nội lực. Muốn tiêu diệt thù trong thì phải gia tăng âm phúc. Muốn làm được cả hai việc đó thì trước hết phải xây dựng lại tổ đình xã tắc.”

Hồ Tôn Hiến thưa: “Còn muốn bảo toàn tính mạng?”

Bạch Mi phán: “Bồi dưỡng chân khí bằng miên trường âm hộ của trinh nữ thuần Việt. Muốn hỏi gì nữa không? Đã đến giờ ta thượng hưởng.”

Các nhân vật của Nguyễn Viện đều bước ra từ thế giới của ảo tượng, trên nền tảng văn hoá văn minh phồn thực đã hiển lộ từ lâu và tiếp tục tồn tại. Truyền thống văn hoá Linga và Yoni vẫn tồn tại khi cái ý thức truyền thống không bị mai một, ngược lại đang được phát huy dưới cái nhãn “đậm đà bản sắc dân tộc” thì sẽ vẫn cần những Đạm Tiên như một hữu thể tồn tại: “tượng Linga dâng cúng cho Đạm Tiên không có đế, vì thế nó trở thành cái đế cho Yoni Đạm Tiên vì sự to lớn của nó. Nàng vẫn ngồi trên tượng Linga này trong tất cả mọi lúc rảnh rỗi. Đạm Tiên bảo:”nó đâm thấu suốt em”.

Nguyễn Viện đã thấu suốt, đã dẫn ra. Vì vậy văn hoá phồn thực sẽ tiếp tục trong thời đại chúng ta và mãi mãi, cho đến khi nào bầy người lúc nhúc biến mất khỏi trái đất này!

Nguyễn là nhân vật điển hình đang bơi trong vùng không khí loãng của thời đại. Tri thức không giúp gì cho chàng khi đối mặt với những nghịch cảnh buộc phải sa vào. Nội việc phải đi tù lần thứ hai vì tội viết đơn thuê cho dân oan khiếu kiện vẫn là một quán tính nghiện ngập của trí thức, đúng như nhận xét của trùm an ninh nội chính Thúc Sinh: “cả ông Nguyễn cũng sẽ phải biến thái như cậu.Vì đó là guồng máy, không cho phép bất cứ ai có bản sắc cá biệt”.

Trong vũng lầy, Nguyễn cố gắng vũng vẫy, cố gắng trồi lên bên trên vùng trơn nhớt, nhầy nhụa. Chàng nói: “Vâng, chúng ta cần sống như những người văn minh” sau khi nghe Từ Hải thay đổi sách lược (được chỉ đạo từ trên): “Đã qua cái thời đấu súng. Cho dù đối mặt với kẻ điếc, chúng ta vẫn cần đối thoại”.

Nguyễn nói: “Tôi là con người tự do.

Từ Hải nói: “Vứt mẹ cái tự do của anh đi.

Như vậy sự chọn lựa Tự Do coi như niềm tin cuối cùng của Nguyễn cũng đã bị bóp dẹp như người ta bóp một con muỗi, máu tung toé. Chàng muốn mình được làm người tự do, một người bình thường như mọi người khác: Đánh máy viết đơn thuê cho giai cấp nông dân cùng khổ bị bóp chẹt. Một ý tưởng giúp người rất thánh thiện, rất cộng đồng. Nhưng lập tức Kim Trọng xuất hiện, cảnh cáo:

Nếu ông muốn sống yên thân và chơi gái thì hãy ở trong thành phố, sáng cà phê chiều nhậu, đừng dây dưa vào chuyện thiên hạ. Nếu ông muốn nổi loạn, cứ nổi loạn với chữ nghĩa. Nếu ông muốn làm người hùng, cứ làm người hùng trong văn chương. Nếu ông đi lạc chỗ, tụi tôi sẽ xử lý ông ngay.”

Nguyễn nói: “Lạc chỗ hay không đó là lựa chọn của tôi. Các anh không có quyền…”

Kim Trọng: “Anh biết là chúng tôi có quyền. Đi lạc chỗ đồng nghĩa với chống đối và chúng tôi sẽ xử lý anh.”

Nguyễn nói: “Đây là quyền của tôi: Cút khỏi nhà tôi.”

Kim Trọng bảo: “Khi cần đuổi thì người đuổi sẽ là tôi chứ không phải anh.”

Nói xong Kim Trọng đi ra.

Đây là lằn roi cuối cùng quất vào mặt anh trí thức Nguyễn. Chàng đã bị phỉ nhổ, bị tước mất tất cả mọi quyền tự do, quyền sống làm người tử tế. Có thể vất đi cái vỏ trí thức, nhưng không chịu làm người mất nhân cách, nên giải pháp cuối cùng vừa loé trong đầu là quay về quê cũ “mở dịch vụ vi tính, viết đơn thuê”, tức thì Kiều Nhi tán thành: “Anh trồng rau, em mở tiệm hớt tóc massage phục vụ cho các anh giai làng…”. Kiều Nhi thêm: “Làm đĩ là một quyền mưu sinh chính đáng. Nhưng em sợ rằng anh sẽ mất hết uy tín khi trong nhà ông cách mạng có người làm đĩ.

Và thân phận của Nguyễn được các em trinh bạch định đoạt trong nháy mắt “ vậy thì anh cứ sáng cà phê, chiều nhậu, tối kiếm gái ngủ là tốt nhất”. Nguyễn thật sự rơi vào lỗ hổng đen ngòm, mất cả phương hướng và đành cam chịu bất lực như một Từ Hải của Dương Nghiễm Mậu bất lực:

Vương Thúy Kiều nói: “Về nông thôn, em có nguy cơ sẽ phải bán mình lần nữa để chuộc cha bởi bọn cường hào ác bá ở địa phương bây giờ ác hơn thời xưa. Nhưng em nói rồi, Vương viên ngoại còn có thể chuộc được, chứ Từ Hải hay anh chỉ có cách chết đứng hoặc để cho người ta xử tùy tiện thôi. Cả hai cách đều dở. Anh nên quên cái cơn lãng mạn nửa mùa ấy đi.”

Nguyễn hút thuốc. Và chàng cay đắng quăng điếu thuốc đi. Nhưng rồi chàng lại đốt điếu khác. Đốt nhiều điếu khác cho đến khi chàng trở nên khô rỗng.

Vương Thúy Kiều lại nói: “Đàn ông làm cách mạng chỉ đưa nhân loại đến chỗ khốn cùng.”

Nguyễn quăng linh hồn vào bóng tối và chàng lấy dao rạch lên những quyển sách, móc từng chữ ra khỏi trang giấy.

Vương Thúy Kiều nói: “Đàn bà làm cách mạng không phải lồn hoang độc lập, tự do, hạnh phúc và đái ỉa vào mọi giáo điều như bọn đàn ông nói.”

Nguyễn nhét từng con chữ cho vào miệng. Nhai rồi nhổ.

Vương Thúy Kiều nói: “Không phải đàn bà nằm trên là nữ quyền. Nhưng nó là khởi đầu cho mọi cuộc cách mạng khác.”

Nguyễn tiếp tục ăn những con chữ rồi nhổ ra.

Vương Thúy Kiều nói: “Hãy làm điều mình muốn.”

Điều Nguyễn “muốn” cuối cùng là hiến kế cho tên điếm Từ Hải “nếu biết liên kết các sự kiện, nó có thể tạo ra hiệu ứng dây chuyền”. Từ Hải lập tức mang kế này trộn vào đám đông phẫn nộ gồm nhiều đối tượng, nhiều nỗi oan ức khác nhau, nhưng “lần nào Từ Hải cũng bị bắt và bị đánh trong đồn công an”. Kế của anh trí thức Nguyễn không thành. Và rồi Từ Hải và nhiều Từ Hải khác bị bẻ tay bẻ chân… để sau đó, tất cả từ từ mất tích, chỉ vì “bọn thú vật này không muốn sống” – lệnh từ Hồ Tôn Hiến.

Từ thời phong kiến, Nguyễn Du đã là kẻ lạc lõng, bơ bơ giữa dòng xoáy chính trường. Bước qua thế kỷ XXI, Nguyễn càng ưu uất, lạc lõng hơn giữa cơn cuồng phong thời đại. Dung nhan của chàng muôn thuở là ý thức tự do, là trách nhiệm, là sự độc lập cá tính. Nhưng đó chỉ là những tư tưởng nằm sâu trong đầu, chưa bao giờ Nguyễn dám đứng thẳng, đành phải để Từ Hải hơn hai trăm năm trước chết đứng giữa trận tiền, và hai trăm năm sau các đệ tử Kim Trọng, Từ Hải kẻ đòi đuổi chàng, kẻ phỉ báng tư tưởng tự do của chàng.

Nguyễn là nguyên khối cô đơn đồ sộ.

Nguyễn là kẻ lạc lõng giữa bầy sói trên thảo nguyên đỏ, giống chiếc đòn gánh đè sụm đôi vai gầy guộc, xương xẩu của bầy người tôi mọi. Do vậy chàng sống mà như đã chết, không chết đứng như Từ Hải xưa kia mà chết bởi những ray rứt, dằn vặt… ngày một ít, một ít…:

Nguyễn vùi mình trong bóng tối của nhà tù. Chàng tuyệt vọng như sau những ngày vừa giải phóng 1975. Cái cảm giác của sự chấm dứt giày vò chàng. Đối với việc viết văn, sự chấm dứt lại càng trở nên khốc liệt hơn. Nó giống như sự băm vằm. Nguyễn phải sống một cuộc đời khác, nếu muốn tồn tại. Chưa bao giờ ý nghĩ thỏa hiệp có trong đầu chàng. Cái thôi thúc của một nhà văn không phải là tìm kiếm danh vọng, lại càng không phải miếng cơm manh áo. Trong điều kiện bắt buộc của chữ nghĩa nô lệ, thì việc trở thành nhà văn chỉ là một hành động tự phỉ báng về nhân cách. Vì thế, Nguyễn đã sống như không sống. Đã chết mà vẫn lay lắt. Vả lại, cũng chẳng có bất cứ điều gì buộc Nguyễn phải viết, thế thì cớ gì chàng phải khom lưng làm một kẻ xu nịnh viết những điều dối trá?.

Một anh chàng “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” là Kim Trọng ngày trước, giờ đây trở thành tên trí thức biến chất, đốn mạt đến không tưởng “cho đến muôn đời sau vẫn là một anh trí thức mà Mao Trạch Đông coi không bằng cục phân. Những cục phân ấy luôn tự an ủi mình trong cõi ta bà rằng “ăn cây nào rào cây ấy” theo đúng đạo nghĩa nho gia”. Anh chàng này khom lưng, quỳ gối trước các ngài Thúc Sinh, Hồ Tôn Hiến, đôi khi với tay đàng điếm Từ Hải để có thể cát cứ một phương, nhưng không phải giúp dân mà “với chức vụ này, chàng đủ điều kiện để hủ hoá mang tính chất mặt trận tổ quốc, đồng thời thu vén được cả một gia tài cho con cháu hưởng lộc đến muôn đời sau”.

Để đạt được mục tiêu này, anh trí thức nho nhã đẹp trai Kim Trọng trở thành tên thượng đội hạ đạp, khom lưng lòn cúi ngay cả người có ít nhiều nợ oan cừu là Thúc Sinh của Nguyễn Du. Tài khôn vặt của Kim Trọng, có lẽ do quá trình tích luỹ kinh nghiệm lăn lộn chốn quan trường, vừa mang bộ mặt sói vừa là bộ mặt cừu:

Thúc Sinh bí mật gặp Kim Trọng, nói: “Ông là người nắm rõ thái độ chính trị của tất cả mọi người. Ai là kẻ cơ hội. Ai là kẻ bất mãn. Ai là người lý tưởng. Vì thế, tôi nhờ ông chuẩn bị cho một danh sách các nhân vật mà ta có thể sử dụng được cho một tổ chức đối lập trong tương lai, kể cả ông. Tôi cũng nhờ ông chuẩn bị một kịch bản cho sự xuất hiện của họ một cách công khai.”

Kim Trọng e dè bảo: “Chúng ta không chia sẻ quyền lực. Quyền lãnh đạo của chúng ta là tuyệt đối.”

Thúc Sinh nói: “Vẫn biết thế. Nhưng tình hình mới buộc chúng ta phải có kế sách, tránh một cuộc lật đổ đẫm máu.”

Kim Trọng tỏ ra hoài nghi, ông nói: “Chúng ta vẫn vững vàng và tôi tuyệt đối trung thành với đồng chí đại ca Hồ Tôn Hiến, cho nên tôi chỉ có thể gửi ông bản danh sách các nhân vật mà ông cần. Còn cái kịch bản gì đó thì xin phép ông cho tôi đứng ngoài.”

Thúc Sinh nói: “Ông cần một xác nhận từ Hồ Tôn Hiến?”

Kim Trọng bảo: “Tôi không dám đòi hỏi. Nhưng tôi sẵn sàng tuân lệnh cấp trên.”

Thúc Sinh nói: “Ông sẽ nhận được điều ông muốn.”

Kim Trọng bảo: “Tôi không tin bọn trí thức.”

Thúc Sinh nói: “Đúng. Nhưng chúng ta có thể sử dụng chúng, vì bởi bọn chúng lúc nào cũng chỉ mong muốn được người khác sử dụng. Bọn chúng cần một vai trò và chúng ta sẽ cho chúng tham gia cái trò chơi lịch sử này.”

Kim Trọng: “Tôi e ngại tình thế có thể vuột khỏi tầm kiểm soát của chúng ta.”

Thúc Sinh: “Đấy là nhiệm vụ của ông. Hồ Tôn Hiến tin ông.”

Kim Trọng: “Không sợ tôi cướp cờ à?”

Thúc Sinh: “Đấy không phải là tính cách của ông.”

Kim Trọng cũng thuộc giuộc ấy, cũng chỉ “mong muốn được người khác sử dụng”. Và Kim Trọng đã chấp nhận chơi trò đùa giỡn lịch sử với những tham vọng không nhỏ, được che giấu cẩn thận!

Từ Hải của Nguyễn Du là tay hảo hớn có một không hai “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, nhưng khi qua tay Nguyễn Viện, từ một tên vô sản bần cố nông đã được lột xác, đổi đời thành một tên trí thức tiểu tư sản hèn nhát và không kém chất lưu manh. Từ Hải quăng cả gươm giáo, mò vào nghề báo lề phải, tập tễnh làm thơ viết văn, lập khách sạn dắt gái, làm ma cô để ăn chia phần trăm với Mã Kiều Nhi, Đạm Tiên… Trong chớp mắt, Từ được Thúc Sinh sử dụng như một thằng mõ làng, như một con rối trong cuộc chơi đảo điên nhân thế. Dẫu cho bóng ma vừa là con người có da thịt thật Đạm Tiên đã cảnh báo “khi chính trị và và văn học nghệ thuật ăn cánh với nhau, con người bị giết chết… văn nghệ sĩ chính thống là kẻ đồng loã với tội ác”. Nhưng cái đám văn nghệ sĩ Từ Hải, Mã Giám Sinh đều mặc, bỏ ngoài tai… cuối cùng bị sập vào cái bẫy của Sở Khanh và Hồ Tôn Hiến:

Sở Khanh tâu với Hồ Tôn Hiến: “Văn nghệ sĩ và các loại tương cận đều rất háo danh, để sai khiến được bọn này cần ban tặng cho chúng các chức danh này nọ. Vì các chức danh, chúng sẽ như lũ thiêu thân.”

Hồ Tôn Hiến bảo: “Được. Ta biết sức mạnh của các nghệ sĩ. Đồng chí rất thâm sâu. Ta sẽ ban cho chúng mọi tước vị cao cả.”

Sở Khanh tâu tiếp: “Văn nghệ sĩ và các loại tương cận cũng đều rất thích được sai khiến, xin hãy giao việc cho chúng vì chúng sẽ tưởng đấy là điều cao cả.”

Hồ Tôn Hiến bảo: “Được. Hãy tập hợp chúng lại dưới ngọn cờ vinh quang của ta.”

Sở Khanh trở thành Hội trưởng của Hội Văn nghệ sĩ và các loại tương cận.

Nhiệm vụ của Hội là lừa tình toàn thể bầy cừu. Nhưng làm gì thì cũng cần phải lo cho bản thân trước. Cơ hội không phải lúc nào cũng có. Vì thế, Sở Khanh lừa ngay bọn háo danh muốn trở thành văn nghệ sĩ cung đình. Chúng sẵn sàng cống nạp cho Sở Khanh tất cả mọi thứ kể cả vợ con.

Xét cho cùng, trí thứ thời đại nào cũng khom lưng quỳ gối trước cái bóng sừng sững của loại chính trị đen ám. Nhớ lại, hơn 2.500 năm trước Khổng Tử cũng đã ôm mớ giẻ rách “chính danh định phận” chu du khắp thiên hạ rao bán, như ngày nay người ta quảng cáo băng vệ sinh phụ nữ! Không một nhà nước phong kiến nào thời Xuân Thu (770- 476 trước CN) chịu sử dụng ông, bố thí cho chức quan nhỏ hay một chân “thầy dùi quân sư quạt mo”, ông đành phải ôm mớ giẻ rách quay về quê cũ mở trường dạy học trò. Không thấy sử sách chép Khổng Tử dạy bao nhiêu học trò thành quan tước triều đình, chỉ thấy lơ thơ vài tên Nhan Hồi, Tử Lộ… xiển dương cái “chính danh định phận” của Ngài (!). Mãi đến khi Khổng chết, lũ học trò chết tất, đám phong kiến tranh bá đồ vương kia mới sáng mắt thừa nhận đống giẻ kia là thánh thư, mang ra áp dụng và rất thành công trong việc kềm hãm sức bật của xã hội, vun vén quyền lực bằng máu và xương của dân trên 2.000 năm để xây dựng những đế chế coi dân như lũ giòi bọ! Tầng lớp trí thức phải luôn sống trong nỗi sợ hãi, bất an. Và tài năng thì không bằng cục phân như hậu duệ Mao sau này, phê phán. Thân phận trí thức thời nào cũng như con chó ở nhà có tang, mất chủ, ngơ ngáo không còn biết chủ là ai?

Những bộ mặt trí thức qua các nhân vật Từ Hải, Kim Trọng và Nguyễn của Nguyễn Viện là sự nhếch nhác của chữ nghĩa từ hàng ngàn năm trước và tiếp tục đến hàng ngàn năm sau cũng chỉ là sự đê tiện bạo lực, nhục nhã của thân phận làm người trí thức:

Sở Khanh gặp Nguyễn bảo: “Ông làm đơn xin vô Hội Văn nghệ sĩ đi.”

Nguyễn nói: “Tôi không có khả năng chung chi.”

Sở Khanh bảo: “Cũng rẻ thôi mà.”

Nguyễn hỏi: “Bao nhiêu?”

Sở Khanh: “300 triệu.”

Nguyễn bảo: “Trả góp nhé?”

Sở Khanh nói: “Ông chỉ đùa.”

Những nhân vật khác, từ Thúc Sinh, Sở Khanh, Mã Giám Sinh… đều là lũ đĩ bợm, lưu manh thuộc cánh hẩu của Hồ Tôn Hiến. Chúng tiếp tục băm nát chiều ngang lịch sử, nhưng không hề chịu trách nhiệm trước lịch sử! Chúng coi lịch sử như nhà hát cô đầu, như lầu Ngưng Bích thuần dưỡng gái lầu xanh. Mỗi người mang một bộ mặt khác nhau. Nhưng lại có điểm chung nhất là thiết lập mối quan hệ theo phương pháp lợi ích tương đồng, tương lân để đạt được tiền của và danh vọng cao nhất. Chúng mang những chiếc mặt nạ người, đội trên đầu trách nhiệm của lịch sử bằng loại vàng mã trong các đền miếu hoang phế. Tính chất nham nhở, trơ tráo của chúng thừa cả bề dày lẫn bề sâu trong các chu trình xoay chuyển lợi ích cá nhân mang tính tập thể.

Thúc Sinh là một tên đểu cáng, lưu manh vào loại nhất nhì, chẳng những cật lực buôn gái, buôn chính trị… để thu lợi, mà còn dám phỗng tay trên Hồ Tôn Hiến: “Thúc Sinh tiến cử một chân dài Nam Bộ.Trong kiệu màn che trướng rủ, Thúc Sinh động tà tâm hiếp cô này ngay giữa đường tiến cung. Cô mang dòng máu phản bội trong người về với Hồ Tôn Hiến. Có người bảo, Thúc Sinh buôn vua theo cách của Lã Bất Vi.”

Bản chất của Thúc Sinh vốn dĩ là vậy. Nên trong tình thế nan giải của xã hội, Thúc không ngần ngại bày tỏ quan điểm sống của mình:

Từ Hải hỏi tiếp: “Anh chọn cách nào?”

Thúc Sinh nói: “Không chọn cách nào cả.”

Từ Hải hỏi mà dường như không nhắm vào ai: “Vậy thì chúng ta đang vui chơi, hay làm cách mạng?”

Thúc Sinh cười, nói: “Chúng ta đang kiếm ăn.”

Sở Khanh là tay lừa lọc thuộc loại thượng hạng ngoại hạng. Gã bước ra từ Nguyễn Du chí Nguyễn Viện bây giờ đều với tư thế của tên đón gió trở cờ, lừa lọc tình và lừa lọc chủ. Đóng bộ mặt của người đương thời, cộng với tài năng báo lá cải, cái mồm dẻo cùng khát vọng chứa đầy dục vọng, gã ton hót và bỗng chốc trở thành Hội trưởng Hội Văn nghệ sĩ và các loại tương cận, có nhiệm vụ chăn dắt bầy cừu: “Nhiệm vụ của Hội là lừa tình toàn thể bầy cừu… Sở Khanh lừa ngay bọn háo danh muốn trở thành văn nghệ sĩ cung đình. Chúng sẵn sàng cống nạp cho Sở Khanh tất cả mọi thứ kể cả vợ con”.

Từ khi Thúc Sinh nói với Từ Hải: “Cậu phải biến đi” thì lập tức Từ Hải biến mất khỏi vòng tròn Thúc Sinh. Lập tức Mã Giám Sinh được gọi đến thế chỗ của Từ để làm thầy dùi cho quan nội chính Thúc Sinh trong các thương vụ buôn gái ra nước ngoài, và bị Đạm Tiên cho là “cạnh tranh không lành mạnh”. Mã không cần đạo đức lành mạnh hay lành yếu. Hắn chỉ cần tiền. 2.000 đô trên mỗi đầu gái kiếm chồng ngoại để hắn bỏ túi là phương châm bất di dịch. Bản chất bỉ ổi của Mã không chỉ dừng lại ở chỗ “tuyệt đối trung thành với cam kết gìn giữ nguyên trạng với khách hàng. Nhưng hắn tận dụng ưu thế của mình để kiểm tra “hàng” một cách thích đáng”, mà còn “đưa cô gái về phòng mình trong khách sạn và cắt tiết cô cũng như ngày xưa hắn hắn đã cắt tiết Vương Thuý Kiều”. Biết cô gái là con Thuý Kiều, nhưng Mã không dung tha, chỉ trả lại 2.000 đô là chỗ tiền thế chân, coi như đó là món tiền bỏ mua trinh tiết! Và rồi hắn lý giải cho hành vi của mình: “người ta có sẵn sàng cho anh hiếp không?… đấy là vấn đề dân trí. Dân trí để cho anh hiếp thì tại sao anh lại không hiếp?”.

Và bộ mặt thật của Mã tự chính hắn khẳng định: “Hãy nhớ điều này: Đểu cáng thì không ai bằng Mã Giám Sinh”!

Chỉ tội cho Vương Quan. Chàng chỉ được phép xuất hiện vào hồi cuối vở diễn. Chức quan trong triều thì nhỏ, cộng với lý lịch chẳng mấy sạch sẽ của gia đình và bản chất nhân hậu đã khiến chàng bị coi là “mất lập trường giai cấp”, là lực cản lớn nhất trên con đường hoạn lộ. Dẫu vậy, khi tấn tuồng đã gần hết cảnh, hết hồi, sắp đến lúc phải hạ màn thì cũng chính tay lưu manh Thúc Sinh xuất hiện kéo chàng vào trò chơi bán buôn lịch sử. Lời Thúc Sinh: “Thượng phương bảo kiếm sẽ được giao cho cậu” cũng đồng nghĩa với việc thanh tẩy “ngôi nhà chung… càng lúc càng bốc mùi hôi thối”. Thanh tẩy là chuyện quốc gia đại sự hàng đầu, thuộc nhóm hàng cơ mật. Nhưng có Thượng phương bảo kiếm trong tay, thay vì hành xử theo “việc nước trước thù nhà” thì anh em Vương Quan lại bàn nhau khử tất cả những kẻ đã làm nhục, làm tan nát gia đình: “tôi vẫn ấm ức về vụ chị Thúy Kiều xưa kia. Nỗi đau của anh cũng như nỗi nhục của gia đình chúng ta đến lúc cần phải được thanh tẩy. Hơn nữa, dân chúng cũng đang nổi loạn, đây là cơ hội để chúng ta rửa hận. Hồ Tôn Hiến và Mã Giám Sinh phải bị quăng vào lửa. Ngay trước khi tôi công bố tội trạng của chúng, anh phải bắt được cả hai. Nếu thất bại, anh biết hậu quả sẽ ra sao”.

Và, để cho thiên tiểu thuyết “phản tiểu thuyết” của mình có hậu, Nguyễn Viện viết thêm một cảnh rất nhỏ, như thể để giải toả nỗi uất ức trong nhân vật “quần chúng” chỉ được gọi tên, không có mặt; đồng thời cũng để giải toả những bi phẫn chất chứa trong ông. Cảnh đó diễn ra nhanh và gọn đúng với ý đồ của những tay buôn bán lịch sử:

Trước ngày xảy ra phiên tòa xét xử Hồ Tôn Hiến, Mã Giám Sinh vào trại giam đưa cho Hồ Tôn Hiến một chai thuốc độc.

Mã Giám Sinh hỏi: “Ông còn nhớ cái bùa chú mật tông thỉnh từ Tây Tạng trên cục đá mẹ ở Đền Hùng và 2301 cục đá con xuyên Việt không?”

Hồ Tôn Hiến nói: “Nhớ. Mày đã đánh tráo nó?”

Mã Giám Sinh bảo: “Phải. Muôn năm trường trị là của Mã Giám Sinh chứ không phải Hồ Tôn Hiến.”

Nghe xong, Hồ Tôn Hiến hộc máu tung tóe, tim ngừng đập. Tuy nhiên, Mã Giám Sinh vẫn đổ hết chai thuốc độc vào miệng Hồ Tôn Hiến.

Lịch sử ghi: Năm Gia Tĩnh thứ 43 (1565), Hồ Tôn Hiến bị bắt giam. Đến ngày 3 tháng 11 năm ấy, Hồ Tôn Hiến uất ức tự vẫn, chết trong ngục.”

Khép lại những dòng cuối cùng của Đĩ thúi trên procontra.asia, đồng thời cũng chuẩn bị khép lại những dòng cuối bài viết này, tôi lại nhớ tới đoạn ray rứt nội tâm của Nguyễn, như những ray rứt của Nguyễn Viện trước một thời đại không tên không tuổi, mông lung hư ảo. Thời đại đó vừa là quá khứ xa xôi mà cũng là hiện tại gần. Những con người trong đó, bước ra trên trang sách của ông có thể đang dần hoá thạch mà cũng mới tinh khôi như vừa bước ra từ một buổi sớm mai dầm dề máu me dối trá, lừa mị. Tôi tự hỏi, ông đã trải lòng trên quyển tiểu thuyết này hay chính những nhân vật ông dựng nên đã xô đẩy ông như ông đã xô nhân vật Nguyễn đang “nằm bẹp gí trong nhà Mã Kiều Nhi” với câu hỏi hơn bốn trăm năm trước của Shakespeare “to be or not to be”? Nhưng tồn tại để làm gì, hành xử như thế nào trong mối tương quan giữa quần chúng và lịch sử, giữa tự do hành động tiệm cận tự do dẫu cho họ thừa biết “máu thịt sản sinh máu thịt”? Có lẽ đây mới chính là máu và nước mắt trong những thổn thức dằn vặt của cả hai, tác giả và nhân vật: “Với Nguyễn, Hồ Tôn Hiến dù thế nào vẫn là một nhân vật tiểu thuyết. Nhưng nhân vật ấy đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chàng, một tai nạn của bệnh tiêu chảy, trở thành một tác nhân độc lập và hành xử theo cách của hắn. Nguyễn biết, không có cách nào khác để loại trừ hắn là để chính cái hệ thống đang vận hành hắn xử hắn. Tính cách trí thức của chàng, như thế một lần nữa, đè bẹp chàng. Thay vì đóng vai trò của một chủ thể lịch sử, chàng buông xuôi cho cái hệ thống mù lòa ấy đưa đẩy.

An nhiên tự tại hay từ khước chính mình cũng chỉ là một cách trốn chạy thực tại.”

Buengkan–Laos 6/2013

© 2013 Nguyễn Lệ Uyên& pro&contra 

Nhà văn Nguyễn Viện (1949) hiện sống tại Sài Gòn. Ông là tác giả của 9 tiểu thuyết và nhiều truyện ngắn, kịch, thơ, tạp bút và tiểu luận.
[i] Táng Gia cẩu: Ngã độc Luận ngữ, Lý Linh, NXB Nhân Dân Sơn Tây, Trung Quốc, 2007

*

Mạc Vấn: Đọc ĐĨ THÚI (*) của Nguyễn Viện

Trong phần giới thiệu ngắn gọn, Phạm Thị Hoài viết: “Bạn có thể thích hay ghét, rất thích hay rất ghét, khen hay chê tác phẩm Phản Kiều, hay Tân Đoạn trường tân thanh này, nhưng tôi tin rằng bạn sẽ không thể dửng dưng với nó”.

Tôi không phải là người thuộc fan hay antifan, nhưng phải nói là tôi không thể dửng dưng.

Trước hết vì cái tên Nguyễn Viện. Ông là một nhà văn tôi cho là thuộc nhóm lạc lõng. Cách viết của ông khiến cho những người đọc “định hướng Khổng tử” và nhất là “định hướng xã hội chủ nghĩa” đều dị ứng.

Ông là nhà văn trên mạng, cũng có thể hiểu là “liều mạng”. Một nhà văn húc đầu vào những vấn nạn bùng nhùng của đất nước, trước những đống đá chực ném vào mình và trước còng số 8, nếu không liều mạng thì là gì?

Cũng có thể bảo rằng ông là nhà văn cách mạng vì đã dám bước qua những định kiến đúc sẵn, những lối mòn xưa cũ, dám đi theo lề của mình chứ không theo lề của những con cừu.

Nhưng dù gì thì cũng có thể khẳng định rằng, ông rất Nguyễn Viện, nghĩa là rất dũng cảm.

Tôi không cho rằng ông xúc phạm một bậc danh nhân văn hóa thế giới, là cụ Nguyễn Du, khi hình thành tiểu thuyết Đĩ Thúi với những nhân vật đình đám trong Đoạn Trường tân thanh.

Cụ Nguyễn đã đem tâm tình để viết lại Kiều, là cái bóng chiếu rọi của chính thân phận mình.

Nguyễn Viện cũng đem tâm tình nhưng không phải để soi chiếu cái thân phận sâu kiến của ông mà để nói đến một thời mà, theo Nguyễn Viện thì thúi hoắc như cái mùi trong l…của một con đĩ. (Tôi không can đảm như ông nên không dám dùng một từ mà ông thường dùng thoải mái)

Tôi cho rằng cách gọi “tân đoạn trường tân thanh” của cô Hoài là chưa nêu bật được cái thâm ý của Nguyễn Viện. Vì ở đây chẳng có tiếng kêu đứt ruột nào được làm mới lần nữa cả, mà chỉ có tiếng chửi. Trong một bài thơ đăng trên Tiền Vệ, ông viết:

“Tôi chửi thề mỗi khi viết / Cho dù đó là một câu thơ trong suốt…”

Vì sao một nhà văn lại cứ phải chửi thề như thế?

Ấy là vì cái mùi đĩ trong thời đại của ông, cũng là thời đại của chúng ta.

Đó là cũng là lý do thứ hai khiến tôi không thể dửng dưng.

Thì cứ cho là ông đang viết ”phản Kiều”. Vậy thử xem nàng Kiều của ông hiển hiện như thế nào?

Nàng đi xuyên suốt dòng lịch sử từ những kỹ viện đầu tiên do Quản Trọng, Tể tướng nước Tề sáng lập khoảng 2700 năm trước đến các khu đèn đỏ đương đại.”

Nàng là một cô gái xinh đẹp. Nhưng xinh đẹp và e lệ thì cũng đến lúc phải đi tiểu. Tiết tháng ba ở rừng biên cương mát mẻ và phong quang, vì thế nàng đã phải đi hơi xa để tìm một chỗ kín đáo. Kiều Nhi nhìn thấy một gò đất. Và nàng ngồi xuống. Cỏ vàng hiu hiu…”

(Có lẽ ông đang diễn nôm theo cách Nguyễn Viện mấy câu thơ của Nguyễn Du:

“Sè sè nấm đất bên đàng

“Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”- trong Nam đọc là xè xè)

Vậy thì, từ cái sự vụ “đến lúc phải đi tiểu” gặp Đạm Tiên, nàng đã trở nên dày dạn, bản lĩnh hơn, nên khi đứng trước một “bạn dân” chẳng những nàng đã không rét run, mà còn tỏ ra kiêu hãnh tự tin, ăn nói có vẻ đĩnh đạc cứ như một bậc đàn chị.

Hãy nghe nàng đối đáp ở đồn công an.

Nàng nói: “Tôi lúc nào cũng chỉ muốn sướng. Vì thế, chẳng có lý do gì tôi lại phải chịu khổ khi ở trong tù. Khi chấp pháp kêu tôi lên làm việc, tôi đã rất nghiêm chỉnh khai báo tất cả những gì cán bộ muốn tôi khai báo. Tôi chẳng có gì phải che giấu, nhưng tôi cũng không dành cho cán bộ cái quyền giáo dục tôi.

Tôi nói với cán bộ: “Sự thật về em rất đơn giản, khi bị bắt em không làm đĩ, mặc dù em có làm tình. Còn lý do vì sao em làm tình cũng rất đơn giản, vì em thích. Anh có muốn làm tình với em không?” Rồi tôi cởi nút áo khoe vú. Tôi nói: “Vú em đẹp. Cho anh nhìn miễn phí.”

Cán bộ hét lên: “Cô kia! Đây là phòng làm việc.”

Tôi bảo: “Phòng làm việc thì làm tình cũng đâu có sao.” Rồi tôi cười: “Em không tố cáo anh đâu. Em thích vui. Anh cứ vui đi, chẳng việc gì phải tự làm khó mình. Nếu anh không dám làm thì cứ nhìn cũng không sao. Em đẹp mà, phải không?” Anh cán bộ hỏi: “Cô muốn gì?”

Tôi nói: “Em nói rồi. Em muốn vui.” Rồi tôi nựng vú tôi, nói: “Anh cứ tự nhiên, em không la làng đâu.”

Đến đàn chị là Đạm Tiên thì lại càng siêu hơn. Hãy nghe Đạm Tiên nói với Từ Hải:

Để phù hợp với bản chất của anh, anh không thể bó thân mãi trong cái đảng ẩm ương ấy, vào Hội Bạch Mi với chúng em, anh tha hồ tung hoành. Sự nghiệp của anh sẽ bền vững muôn đời cùng với sự bất biến của đĩ nghiệp chúng em.”

Từ Hải trừng mắt hỏi: “Sao lại gọi là ẩm ương?”

Đạm Tiên nói: “Một cái đảng độc tôn, độc tài toàn trị, nhưng lại lãnh đạo tập thể. Không ai chịu trách nhiệm. Cứ một thằng làm thì hai thằng phá, bọn ngu dốt còn lại thì ỡm ờ ăn theo. Vì thế đảng của anh suốt bao năm nay chỉ biết loay hoay tự sướng, vơ vét và làm khổ nhân dân.”

Từ Hải hỏi: “Cô không sợ bạo chúa à?”

Đạm Tiên nói: “Bạo chúa mà được việc thì vẫn còn hơn cái lũ ham hố quyền lực mà không biết làm gì ngoài việc bắt nạt dân chúng. Em nói cho anh biết nhé, không phải chỉ có Đảng của Hồ Tôn Hiến mới theo đuổi quyền lực. Bọn đĩ điếm chúng em cũng muốn thực thi công lý theo cái cách phổ quát nhất, anh cứ nhìn kỹ xem.”

Từ Hải cười lớn: “Công lý ở chỗ nào?”

Đạm Tiên: “Ăn bánh phải trả tiền. Có phải là công lý không?”

Từ Hải đáp: “Phải.”

Đạm Tiên: “Bọn anh vơ vét của nhân dân, có đền bù gì xứng đáng?”

Từ Hải: “Em không thấy đất nước tiến bộ à?”

Đạm Tiên: “Anh so sánh với cái gì?”

Từ Hải: “Hôm qua.”

Đạm Tiên: “Thối. Các anh chỉ so sánh theo chiều dọc mà không so sánh theo chiều ngang.”

Từ Hải: “Dù sao vẫn là tiến bộ.”

Đạm Tiên: “Có rất nhiều cái thụt lùi đấy. Cần em chứng minh không?”

Từ Hải im lặng.

Thế đấy! Không chỉ có một Mã Kiều Nhi mà còn rất nhiều Mã Kiều Nhi. Không chỉ có một Vương Thúy Kiều, mà rất nhiều Vương Thúy Kiều. Không chỉ có một ma đĩ Đạm Tiên mà rất nhiều ma đĩ Đạm Tiên. Trong một đất nước “thanh bình, bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”, một đất nước “tốt gấp triệu lần bọn tư bản rẫy chết” không có khu đèn đỏ nhưng chỗ nào cũng có đĩ. Từ gốc cây bên đường, cho đến nhà hàng, đến dinh phủ chúa, từ đĩ thúi năm chục, một trăm đến đĩ siêu sạch vài chục triệu một phùa.

Vậy nên, đặt tên cái tiểu thuyết này là “Đĩ thúi”, đâu có sai!

Nhưng cái thúi của bọn đĩ dầu sao cũng còn bịt mũi mà chịu được, vì ít ra anh cũng còn thấy sướng chút chút (theo Nguyễn Viện thì sướng cái con c.) Chứ với bọn ma cô thì chịu hết xiết.

Đây là Thúc Sinh và Từ Hải:

Từ Hải hỏi Thúc Sinh: “Làm thế nào để sửa sai?”

Thúc Sinh nói: “Có hai cách. Một là ra khỏi Đảng. Hai là xóa bỏ Đảng.”

Từ Hải lắc đầu. Ý nghĩ ấy chưa bao giờ có trong đầu chàng.

Từ Hải hỏi: “Không có cách thứ ba sao?”

Thúc Sinh nói: “Tất cả các cách còn lại đều vô ích.”

Từ Hải hỏi tiếp: “Anh chọn cách nào?”

Thúc Sinh nói: “Không chọn cách nào cả.”

Từ Hải hỏi mà dường như không nhắm vào ai: “Vậy thì chúng ta đang vui chơi, hay làm cách mạng?”

Thúc Sinh cười, nói: “Chúng ta đang kiếm ăn.”

Và đây là Hồ Tôn Hiến:

Hồ Tôn Hiến hỏi Thúc Sinh: “Làm thế nào thoát được việc luận tội của lịch sử?”

Thúc Sinh bảo: “Thì cứ bỏ tù lịch sử.”

Hồ Tôn Hiến lại hỏi: “Làm sao bỏ tù được lịch sử?”

Thúc Sinh cười bảo: “Cũng đơn giản thôi, hãy bỏ tù mấy thằng viết sử. Chúng là các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo ngoài lề, các nhân sĩ, trí thức phản kháng…”

Hồ Tôn Hiến nói: “Bọn chúng đông như ruồi. Bắt đứa này nó đẻ ra đứa khác.”

Thúc Sinh bảo: “Phải chuyên chính thôi đồng chí ạ.”

Qua đó chúng ta thấy Thúc Sinh trở thành quân sư quạt mo, Từ Hải tầm thường hèn nhát. Hồ Tôn Hiến hiểm độc, tàn bạo. Còn Sở Khanh thì:

Hồ Tôn Hiến hỏi: “Anh biết việc tôi cần chứ?”

Sở Khanh nhanh nhẩu: “Tìm cho ngài một cô gái?”

Hồ Tôn Hiến hỏi như không nghe Sở Khanh nói gì: “Anh vẫn còn khả năng lừa tình chứ?”

Sở Khanh: “Vâng, đấy là nghề của tôi.”

Hồ Tôn Hiến nói: “Tôi muốn anh lừa cả bầy cừu.”

Sở Khanh: “Thưa được ạ. Nhưng tôi cần chính danh.”

Hồ Tôn Hiến nói: “Thúc Sinh sẽ làm thủ tục cho anh.”

Một nhân vật khác cũng đình đám không kém, không thể thiếu trong thời đại của chúng ta. Đó là Mã Giám Sinh, một tay kết cấu cùng với Tú Bà, buôn người:

Trên danh thiếp của Mã Giám Sinh có hai chức danh: Giám đốc Công ty Xuất khẩu Lao động và Giám đốc Công ty Cung ứng Nhân sự và Dịch vụ gia đình.

Trên thực tế, Mã Giám Sinh chỉ làm cò cho Thúc Sinh trong vụ việc buôn người này. Hắn về các vùng nông thôn tuyển người và lấy tiền cò cả hai đầu…

Mã Giám Sinh nói với các anh giai và chị gái: “Chỉ cần 2000 đô thế chân, các bạn sẽ đến thiên đường.”

Nghèo không đủ ăn, nhưng bằng cách nào đó, họ cũng xoay sở được 2000 đô nộp mạng cho Mã Giám Sinh.

Đối với các cô gái muốn tìm chồng ngọai, Mã Giám Sinh tuyệt đối trung thành với cam kết “gìn giữ nguyên trạng” của các cô với khách hàng. Nhưng hắn tận dụng ưu thế của mình để kiểm tra “hàng” một cách thích đáng. Các ứng viên được yêu cầu phải tự lột truồng và trình diễn khả năng làm vợ.

Mã Giám Sinh cười: “Hãy nhớ điều này: Đểu cáng thì không ai bằng Mã Giám Sinh.”

Trên đây là những nét chính của những kẻ mà tác giả gọi là những hệ lụy của truyện Kiều. Bọn họ, là những nhân vật tiểu thuyết, cho dù có thể bị làm cho bầm dập nhưng vẫn không chết. Cùng với tác phẩm, từ năm Gia Tĩnh triều Minh, đến thời đại Hồ Chí Minh quang vinh, chúng vẫn sống khỏe.

Cũng như Kiều, không chỉ một mình nàng làm đĩ, mà từ tổ đĩ đến chắt chít muôn đời sau, vẫn cứ nằm dạng chân ra (theo cách nói của Nguyễn Viện) trước các nền văn minh và độc tài toàn trị. Bọn Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Từ Hải, Thúc Sinh cho đến Kim Trọng, Vương Quan vẫn như những bóng đen hắc ám, cứ mãi phủ bóng lên lịch sử của dân tộc.

Cho dù Hồ Tôn Hiến chết đi, thì vẫn còn những Hồ Tôn Hiến khác. Hay là một chính thể Hồ Tôn Hiến nhưng không có Hồ Tôn Hiến. Cái bóng ma toàn trị vẫn cứ ám vào từ thế hệ này đến thế hệ khác. Như bóng ma đĩ Đạm Tiên đã ám vào Thúy Kiều.

Phải nói, đọc được tiểu thuyết phản tiểu thuyết, phản hiện thực và phản lịch sử có tên gọi là Đĩ Thúi này rất chi là khó.

Khó vì các nhân vật, lúc thì như những người mà ta thấy chường mặt trên TV hay các cuộc tiếp xúc với cử tri, lúc thì như lũ chuột nghe tiếng mèo kêu liền chạy biến vào hang.

Thường, những nhân vật như thế này khiến người đọc hay liên tưởng đến thằng A, lão B, con C. Nhưng chính vì kỹ thuật biến không thành có, biến có thành không, nên tác giả không để ta đủ thời gian mà định hình một kẻ nào. Đây không phải là tiểu thuyết ám chỉ như đã từng một thời rộ lên ở Hà Nội.

Là tả thực mà không hẳn là thực. Là ảo mà cũng chưa hẳn là ảo. Là kết án nhưng không ra kết án. Là diễu nhại nhưng không phải lúc nào cũng diễu nhại. Và hẳn nhiên là tục nhưng không hẳn tục. Tác giả có vẻ như một nhà ảo thuật. Người xem biết là xạo đó nhưng vẫn cứ trố mắt ra mà xem. Có lẽ vì vậy, mà giữa Nguyễn xưa với Nguyễn nay, tuy hai mà một. Nếu biết Nguyễn nay đi chơi đĩ thì cũng đừng la toáng lên là xúc phạm đến Nguyễn xưa.

Một thời mà Sở Khanh làm chủ tịch hội Văn nghệ và các loại tương cận, thì tác giả không ngại ngần tuyên bố:

– Khi chính trị và văn học nghệ thuật ăn cánh với nhau, con người bị giết chết.

– Trong các chế độ độc tài, văn nghệ sĩ chính thống là kẻ đồng lõa với tội ác.

Đạm Tiên lại còn làm ra vẻ nghiêm trọng: “Trước sự thống khổ của con người, nhà văn không thể là kẻ vô tội.”

Đạm Tiên là con ma đĩ khôn ngoan nhất trong các con đĩ. Những phát biểu của nàng, vì thế, không đến nỗi thúi um như những gì bay ra từ giữa hai chân nàng. Vì thói quen nghề nghiệp, các nàng ưa nói tục, nhưng chưa hẳn những điều các nàng nói ra lại ngu si như những phát ngôn của các đại biểu quốc hội.

Hãy nghe Thúc Sinh, anh chàng sợ vợ nổi tiếng, may nhờ Hoạn Thư vượt biên, đã mạnh mẽ biện minh cho sự nói tục của các nàng:

“Một chế độ cai trị càng hà khắc thì sự tục tĩu trong ngôn ngữ càng phổ biến. Hiện tượng tục tĩu trong ngôn ngữ do đó là một biện chứng, nó thúc đẩy sự thay đổi, bởi chính nó là sự thay đổi. Một nhà nước suy đồi, ngôn ngữ không chỉ lươn lẹo mà còn rập khuôn”.

Vậy thì, chưa hẳn các nàng đã làm cho nhà nước thúi, mà chính nhà nước với những Hồ Tôn Hiến, Sở Khanh, Mã Giám Sinh, ngay cả những kẻ một thời tỏ ra anh hùng như Từ Hải, hay lương thiện như Thúc Sinh, giờ trở nên đầu hàng thỏa hiệp, hay ranh ma lọc lừa …đã khiến cho thời đại, dù được đánh bóng với hai chữ vàng “quang vinh”, vẫn cứ thúi.

Tôi không rõ tác giả có cảm thán “bất tri tam bách dư niên hậu…” như cụ Nguyễn xưa hay không, nhưng tôi tin nhờ sự tiếp sức của ông, những nhân vật nói trên có thể còn sống mãi với vận mệnh của đất nước.

Thế thì, trong tính cách liều mạng của ông, cũng có cái hay. Phải vậy không?

 23/5/2012
 Mạc Vấn

(*) Một phần của bài viết này đã được đăng trên BBC.

*

Mặc Lâm/RFA: Nhân vật Truyện Kiều đương đại qua góc nhìn Nguyễn Viện

Truyện Kiều từ những ngày đầu xuất hiện trong xã hội Việt Nam đã đựợc đón nhận như một luồng sinh khí mới của văn chương Việt. Từ Trung Hoa, Kiều biến dạng trở thành máu thịt Việt Nam, qua bao nhiêu biến thiên lịch sử, khen hay chê Kiều đều là nét văn hóa độc đáo chưa từng xảy ra đối với văn học bình dân cũng như bác học.

Song hành cùng vận mệnh đất nước

Truyện Kiều nổi tiếng, sống lâu và luôn luôn song hành cùng vận mệnh đất nước bởi nội dung, tình tiết và cá tính nhân vật. Mọi hành vi lời nói hay cung cách ứng xử của mỗi nhân vật trong tác phẩm có thể áp dụng qua mọi thời đại. Từ phong kiến tới thực dân đế quốc và bây giờ là cộng sản, thời đại nào Kiều cũng xuất sắc đưa ra vài nhân vật điển hình, diễn trọn vai trò trong xã hội mới.

Lần này là Nguyễn Viện, nhà văn tiếp tục trò chơi lấy áo của Truyện Kiều làm số đo cho khuôn mặt của chính trường Việt Nam ngày nay.

Nguyễn Viện không viết lại Truyện Kiều như vài nhận xét của báo chí. Ông lấy truyện Kiều phản ánh những hình ảnh của chế độ hiện nay: những cán bộ cộng sản có tên Hồ Tôn Hiến, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Thúc Sinh. Kim Trọng hay Vuơng Quan, Từ Hải… Những Đạm Tiên, Kiều Nhi, hóa thân của Kiều, trong cơn lốc dị thuờng thổi ra từ các cửa quan ấy qua cách trình bày của Nguyễn Viện giúp người đọc nhận ra thêm phía sau những con chữ là vở kịch nhiều chương hồi ẩn chứa ngóc ngách của toan tính chính trị, những trầm cảm uẩn ức, những gập ghềnh tính dục bên cạnh so sánh, giải mã những gì đã đang và xảy ra trong chính trường lẫn cuộc đời, xã hội Việt Nam.

Trong phần giới thiệu, nhà văn Phạm Thị Hoài viết: “Trong cuốn tiểu thuyết phản lịch sử, phản hư cấu, phản hiện thực và phản tiểu thuyết này, các nhân vật chính của tác phẩm văn học Việt Nam nổi tiếng nhất, Truyện Kiều, và cả tác giả của nó, Nguyễn Du, bước thẳng ra từ hư cấu và lịch sử để lăn lộn trên một bàn cờ thế sự quái đản mà tất cả chúng ta dường như đều có mặt.”

Chia sẻ với chúng tôi nhà văn Nguyễn Viện cho biết:

Tiểu thuyết mới của tôi đáp ứng nhu cầu nội dung tôi muốn truyền đạt với tính cách phản lịch sử, phản hư cấu, phản hiện thực, và phản tiểu thuyết. Đây thực sự là ý đồ của tôi ngay từ đầu.
– Nguyễn Viện

“Thật ra đây không phải là lần đầu tôi viết tiểu thuyết theo dạng thức như thế này. Đối với tôi mỗi một tác phẩm bao giờ cũng có một đòi hỏi riêng biệt tùy theo nội dung mà nó được thể hiện. Tiểu thuyết mới của tôi đáp ứng nhu cầu nội dung tôi muốn truyền đạt với tính cách phản lịch sử, phản hư cấu, phản hiện thực, và phản tiểu thuyết. Đây thực sự là ý đồ của tôi ngay từ đầu.

Mặc dù tôi không thích Truyện Kiều lắm nhưng cá nhân ông Nguyễn Du hay là những hệ lụy mang lại cho nguời Việt nói chung thì tôi vẫn cho rằng Truyện Kiều là một tác phẩm vĩ đại nhất của người Việt. Bởi thế sau khi tôi đọc lại Truyện Kiều trong khung cảnh đời sống khác, đời sống hiện đại bây giờ thì điều đó có nghĩa là tôi tôn xưng ông Nguyễn Du chứ không phải tôi phỉ báng ông Nguyễn Du. Những nhân vật trong Truyện Kìêu gần như đã nói đẩy đủ tất cả những tính cách con người mọi thời đại bởi thế tôi để những nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kìêu tiếp tục sống trong đời sống của thời hiện đại. Đối với tôi Truyện Kiều bất tử và những nhân vật trong nó cũng bất tử vì thế rất thuận lợi đối với tôi khi viết truyện này.”

Bắt đầu với Kim Trọng chúng ta có thể thấy sự khinh miệt của tác giả đối với cái tên bất lực, vô tài và khá hèn này trong một vai mới cho Kim, vai Bí thư tỉnh ủy:

“Bí thư Tỉnh ủy là một trong các chức vụ không phải cao nhất của Kim Trọng nhưng lại mang đến cho chàng sự viên mãn nhất. Với chức vụ này, chàng đủ điều kiện để hủ hóa mang tính chất mặt trận tổ quốc, đồng thời thu vén được cả một gia tài cho con cháu hưởng lộc đến muôn đời sau.”

Chỉ vài dòng, khuôn mặt Kim Trọng trở nên sinh động hẳn. Kim không còn nho nhã nhút nhát như trong nguyên bản, chàng buớc ra sân khấu với danh xưng và hành động quay ngoặc 180 độ sau khi ước vọng quan quyền trở thành hiện thực.

Từ Hải, không còn vai năm tấc rộng thân mười thước cao giữa xã hội @ nữa. Những con ma Karl Max, Lenin, Mao Trạch Đông biến chàng thành một con cừu chính trị và Nguyễn Viện không ngần ngại cho Từ Hải trở thành một tiểu tư sản thành thị, ngang ngược và bất định. Vai trò chết đứng của Từ Hải trong Kiều đã diễn biến khác qua ngòi bút Nguyễn Viện trong một cuộc nói chuyện giữa họ Từ và Thúc Sinh:

Thúc Sinh nói với Từ Hải: “Gái là nhu cầu muôn thuở của đàn ông. Bởi vậy, cái nghề nghiệp vững bền nhất chắc chắn phải là nghề chăn gái. Cậu cho người làm cho tôi cái dự án kinh doanh tình dục thật hoành tráng, với khả năng giải quyết việc làm cho hàng triệu phụ nữ. Đặc biệt chú ý tới vấn đề thời vụ của các chị em nông thôn. Đồng thời giải quyết vấn đề an sinh xã hội.”

Trong đoạn văn này Thúc Sinh vẫn trung kiên giữ được bản chất buôn người của mình. Nạn nhân ở đây không phải là Kiều mà là Từ Hải, một nông dân vai u thịt bắp to xác và dễ bị lợi dụng đuợc gán ghép một chỗ ngồi trong đảng và bị Thúc Sinh, bây giờ đại diện cho Đảng, chỉ đạo làm những gì có lợi cho nó.

Sự tù mù của Từ Hải khi cộng tác với đảng lộ rõ khi Đạm Tiên đưa ra những lời khuyên có tính cảnh báo như nàng từng cảnh báo Kiều trong nguyên tác của Nguyễn Du, mặc dù lời cảnh báo lần này chua chát và đậm chất xã hội hơn:

“Khi ấy có nhiều người chính thức ra khỏi Đảng của Hồ Tôn Hiến, hoặc tiêu cực hơn thì lẳng lặng không sinh hoạt chi bộ nữa. Đạm Tiên nói với Từ Hải: “Để phù hợp với bản chất của anh, anh không thể bó thân mãi trong cái đảng ẩm ương ấy, vào Hội Bạch Mi với chúng em, anh tha hồ tung hoành. Sự nghiệp của anh sẽ bền vững muôn đời cùng với sự bất biến của đĩ nghiệp chúng em.”

Từ Hải trừng mắt hỏi: “Sao lại gọi là ẩm ương?”

Đạm Tiên nói: “Một cái đảng độc tôn, độc tài toàn trị, nhưng lại lãnh đạo tập thể. Không ai chịu trách nhiệm. Cứ một thằng làm thì hai thằng phá, bọn ngu dốt còn lại thì ỡm ờ ăn theo. Vì thế đảng của anh suốt bao năm nay chỉ biết loay hoay tự sướng, vơ vét và làm khổ nhân dân.”

Từ Hải hỏi: “Cô không sợ bạo chúa à?”

Đạm Tiên nói: “Bạo chúa mà được việc thì vẫn còn hơn cái lũ ham hố quyền lực mà không biết làm gì ngoài việc bắt nạt dân chúng. Em nói cho anh biết nhé, không phải chỉ có Đảng của Hồ Tôn Hiến mới theo đuổi quyền lực. Bọn đĩ điếm chúng em cũng muốn thực thi công lý theo cái cách phổ quát nhất, anh cứ nhìn kỹ xem.”

Từ Hải cười lớn: “Công lý ở chỗ nào?”

Đạm Tiên: “Ăn bánh phải trả tiền. Có phải là công lý không?”

Từ Hải đáp: “Phải.”

Đạm Tiên: “Bọn anh vơ vét của nhân dân, có đền bù gì xứng đáng?”

Từ Hải: “Em không thấy đất nước tiến bộ à?”

Đạm Tiên: “Anh so sánh với cái gì?”

Từ Hải: “Hôm qua.”

Đạm Tiên: “Thối. Các anh chỉ so sánh theo chiều dọc mà không so sánh theo chiều ngang.”

Từ Hải: “Dù sao vẫn là tiến bộ.”

Đạm Tiên: “Có rất nhiều cái thụt lùi đấy. Cần em chứng minh không?”

Từ Hải im lặng.

Đạm Tiên chua chát: “Chưa bao giờ chúng ta độc lập, cũng như tự do và hạnh phúc.”

Đội ngũ những nhà đảng trị

Nói tới đảng, Hồ Tôn Hiến có lẽ thích hợp cho một vai trong đội ngũ của những nhà đảng trị. Hồ Tôn Hiến trong cách miêu tả của Nguyễn Viện có những điều thích hợp rất tự nhiên. Họ Hồ là yếu tố đầu tiên. Trong toàn tác phẩm của Nguyễn Viện, Hồ Tôn Hiến chỉ xuất hiện vài lần nhưng những gì mà nhân vật này nói luôn bám sát với thực tiễn chính trị Việt Nam. Hãy nghe Sở Khanh nói với họ Hồ:

“Sở Khanh tâu với Hồ Tôn Hiến: “Văn nghệ sĩ và các loại tương cận đều rất háo danh, để sai khiến được bọn này cần ban tặng cho chúng các chức danh này nọ. Vì các chức danh, chúng sẽ như lũ thiêu thân.”

Hồ Tôn Hiến bảo: “Được. Ta biết sức mạnh của các nghệ sĩ. Đồng chí rất thâm sâu. Ta sẽ ban cho chúng mọi tước vị cao cả.”

Sở Khanh tâu tiếp: “Văn nghệ sĩ và các loại tương cận cũng đều rất thích được sai khiến, xin hãy giao việc cho chúng vì chúng sẽ tưởng đấy là điều cao cả.”

Sở Khanh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nổi tiếng vì tính chất bá đạo, dẫn mối và nhất là lươn lẹo của đương sự. Nguyễn Viện nâng anh ta “lên một tầm cao mới” giống như đại gia và quan quyền. Người đọc Nguyễn Viện có thể từ đó suy ngược lại, quan quyền và đại gia rất giống Sở Khanh:

Truyện Kiều, và cả tác giả của nó, Nguyễn Du, bước thẳng ra từ hư cấu và lịch sử để lăn lộn trên một bàn cờ thế sự quái đản mà tất cả chúng ta dường như đều có mặt. 
– Phạm Thị Hoài

“Sở Khanh con nhà nòi đẹp trai, được xếp vào loại “người đương thời” mẫu mã chính thống, tài năng và thành đạt của báo chí lá cải. Để tả Sở Khanh có thể nói một cách đặc trưng, hắn giống đại gia và cũng giống quan quyền. Phổ thông và ba hoa. Văn nghệ sĩ các loại phục tùng hắn vì hắn là biểu tượng của khát vọng chinh phục.”

Nhiều tác phẩm trước đây khi lấy Truyện Kiều là chiếc đũa để gắp cảm hứng thường không đụng đến Nguyễn Du. Nguyễn Viện không sợ vùng cấm ấy. Nhân vật Nguyễn trong tiểu thuyết của ông góp mặt vào tác phẩm chính là Nguyễn Du, xuất hiện sinh động trong cách viết rất siêu thực và đầy sáng tạo.

Trong tiểu thuyết của Nguyễn Viện, Nguyễn Du xuất hiện đầy đau khổ, dằn vặt và trăn trở. Nguyễn tiếp tục cuộc đời xộc xệch bị sách nhiễu, khinh rẻ giữa chế độ cộng sản sau khi bước ra khỏi ngưỡng cửa phong kiến với Truyện Kiều trên tay.

“Nguyễn vùi mình trong bóng tối của nhà tù. Chàng tuyệt vọng như sau những ngày vừa giải phóng 1975. Cái cảm giác của sự chấm dứt giày vò chàng. Đối với việc viết văn, sự chấm dứt lại càng trở nên khốc liệt hơn. Nó giống như sự băm vằm. Nguyễn phải sống một cuộc đời khác, nếu muốn tồn tại. Chưa bao giờ ý nghĩ thỏa hiệp có trong đầu chàng. Cái thôi thúc của một nhà văn không phải là tìm kiếm danh vọng, lại càng không phải miếng cơm manh áo. Trong điều kiện bắt buộc của chữ nghĩa nô lệ, thì việc trở thành nhà văn chỉ là một hành động tự phỉ báng về nhân cách. Vì thế, Nguyễn đã sống như không sống. Đã chết mà vẫn lay lắt. Vả lại, cũng chẳng có bất cứ điều gì buộc Nguyễn phải viết, thế thì cớ gì chàng phải khom lưng làm một kẻ xu nịnh viết những điều dối trá?”

Nguyễn của Nguyễn Viện buồn và bi quan, như ông đã từng. Bây giờ Nguyễn lại bị một cơn sốc khác: Chỉ trích, phê phán từ nhân vật do mình tạo ra, Từ Hải là một kẻ như thế:

“Từ Hải nhìn thẳng vào mặt Nguyễn: “Đó là việc của ông và những trí thức như ông.”

Nguyễn không cười được nữa, chàng cầm ly rượu lên soi qua ánh nắng, rồi đặt ly xuống mà không uống. Nguyễn không thể tự cho phép mình bỏ qua cái gánh nặng mà Từ Hải vừa quăng cho chàng.

Nguyễn và những trí thức như chàng đã làm gì trước hiện thực cuộc sống và lịch sử?

Cúi đầu và im lặng. Người ta vẫn sống như trách nhiệm thuộc về người khác.”

Không những Từ Hải, Kim Trọng thời nay vứt bỏ hẳn vẻ hào hoa của một gã học trò tay yếu chân mềm để mang một bộ dạng khác: khát máu và độc tài. Điều này lộ rõ khi y dằn mặt Nguyễn:

“Nhưng ngay khi đó Kim Trọng đã xuất hiện, ông ta nói với Nguyễn: “Nếu ông muốn sống yên thân và chơi gái thì hãy ở trong thành phố, sáng cà phê chiều nhậu, đừng dây dưa vào chuyện thiên hạ. Nếu ông muốn nổi loạn, cứ nổi loạn với chữ nghĩa. Nếu ông muốn làm người hùng, cứ làm người hùng trong văn chương. Nếu ông đi lạc chỗ, tụi tôi sẽ xử lý ông ngay.”

Nguyễn nói: “Lạc chỗ hay không đó là lựa chọn của tôi. Các anh không có quyền…”

Kim Trọng: “Anh biết là chúng tôi có quyền. Đi lạc chỗ đồng nghĩa với chống đối và chúng tôi sẽ xử lý anh.”

Nguyễn nói: “Đây là quyền của tôi: Cút khỏi nhà tôi.”

Kim Trọng bảo: “Khi cần đuổi thì người đuổi sẽ là tôi chứ không phải anh.”

Nói xong Kim Trọng đi ra.”

Kim Trọng đi ra nhưng Nguyễn ở lại với những đau khổ mới. Ông không thể làm gì hơn, không thể nói lại, viết lại những gì ông đã viết trong Kiều về nhân vật Kim Trọng. Có thể chúng ta sẽ viết tiếp cho ông về tính phản phúc của một kẻ như Kim Trọng trong xã hội cộng sản chăng?

Tiểu thuyết của Nguyễn Viện gây suy nghĩ và truyền cảm hứng. Suy nghĩ về một thời thế nhố nhăng và chia sẻ cảm hứng từ những động thái mang tính biểu tượng của của các nhân vật mới. Thái độ, hành vi, lời nói của họ khai mở một cách nhìn khác về tiểu thuyết hiện đại. Nguyễn Viện đã mở cánh cửa bên hông cuốn sách để người đọc tràn vào và sống cùng trong nó, với ông.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

  • Nhà văn Nguyễn Viện (ảnh: Tuấn Khanh)
Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:, ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: