Ðoàn Bảo Châu – Miền Nhớ

MIEN NHO COVERMiền Nhớ của Ðoàn Bảo Châu, Giao Chỉ xuất bản lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2016
Ảnh: Họa sĩ Trần Vinh – Bìa và trình bày: Uyên Nguyên

Chị ra mở cổng, sư cô đang đứng, tay chống vào tường, thở dốc, khuôn mặt thất thần.

“Bác Phú ơ… ơi,” sư cô gọi mà như khóc. “Bác phải ra ngay, bác trai nhà mình bị hại rồi!”

Chị bỗng thấy chao đảo. Chị vịn vào cánh cổng nhưng cánh cổng trôi đi, khiến chị suýt ngã theo, sư cô vội đỡ lấy chị.

“Ôi, khổ thân bác quá, bác bình tĩnh lại nào!”

“Nhà tôi làm sao?” Chị hỏi lại, giọng hụt hơi. “Sư cô bảo sao?”

“Bác trai bị bắn ngoài bờ sông, ngay trước cửa chùa!”

“Sư cô bảo sao, nhà tôi có sao không?”

“Bác trai… m… mất r… rồi!” Nói tới đấy sư cô ôm mặt khóc hu hu.

“Trời cao đất dày ơi!” Chị Phú rú lên thảm thiết. Dường như có lưỡi dao chọc xoáy vào tim chị. Mắt chị tối sầm, chị sập người xuống đất. “Trời ơi là trờ… ời!”

Mấy người hàng xóm chạy ra đứng lặng, họ không biết làm gì cho phải. Chạy lại đỡ lấy, an ủi người hàng xóm lâu năm hay mặc kệ thành phần nhà địa, thành phần được coi là thối nát, là cặn bã của phong kiến, thực dân…

Chị Phú há mồm, tắt lặng sau tiếng hét tới rách lá phổi của mình, khuôn mặt chị tái nhợt như không còn một giọt máu, mắt chị trắng bệch như hoá dại. Nỗi đau đã giáng đòn chí tử, giết chết hẳn một linh hồn từng coi sự yêu thương là lẽ sống, là chân lý của cuộc đời. Thằng Chiến, cu Quý đỡ lấy mẹ. Hai thằng chưa kịp khóc. Người thân yêu của chúng, người phụ nữ đẹp đẽ ngọt ngào nhất, nguồn tình cảm, trung tâm yêu thương của cả nhà đang bị nỗi đau làm biến dạng khuôn mặt, biến dạng hình hài. Chưa cần phải nhìn xác cha, sự phản ánh trên gương mặt của mẹ chúng đã quá đầy đủ, đã quá tàn khốc rồi.

Giây phút ấy đã tước đi tuổi thơ của chúng hoàn toàn. Nỗi đau như ngọn lửa thiêu cháy những gì mong manh quý giá còn lại của tâm hồn con trẻ.

“Đưa mẹ ra chỗ thầy đi các con ơi!” Chị nói nhỏ, vừa nấc vừa lấy lại hơi. Hai thằng dìu mẹ đứng dậy, nhưng đôi chân của chị mất cảm giác, cứ nhũn ra không thể điều khiển nổi. Thằng Chiến xoay người, chùng thấp xuống rồi xốc mẹ lên lưng. Chị Phú như mê man trong cơn đau, nước mắt lã chã rơi trên gáy, trên tấm lưng trần của con trai. Thằng Chiến mím môi gắng sức cõng mẹ, được một lát nó cũng bật khóc. Hàng xóm đứng một hàng dài trên ngõ nhìn mấy mẹ con, thỉnh thoảng quay sang nhau thầm thì. Khi biết nguyên nhân, họ hồ hởi bảo nhau, trẻ con, người lớn cùng túa ra đường, chạy hướng lên đê để được tận mắt kiểm chứng lại cái bi kịch vừa được nghe.

Ở nông thôn, đâu có nhiều sự kiện khiến họ tò mò. Đến giữa làng, thằng Chiến thở phì phò nhưng nó vẫn mím môi gắng sức. Cu Quý chân đất lếch thếch chạy theo, chốc chốc lại thò tay kéo lại chiếc quần đùi lỏng chun. Chị Phú dường như đã qua trạng thái mê man, chị bảo con:

“Thả mẹ xuống, mẹ đi được!” Nói rồi chị tụt xuống khỏi lung con trai, rồi tất tưởi vừa đi vừa chạy trên con đường làng. Đầu óc chị quay cuồng. Kẻ nào đã hại anh? Kẻ nào đã đang tâm giết chết một con người đang trên đường đi tìm sự sống? Kẻ nào đã tước đi của chị bóng hình yêu thương? Vậy là hết thật rồi! Vậy là những gì chị chịu đựng đêm qua là vô nghĩa! Hoá ra sự nóng ruột của chị hoàn toàn có căn cứ. Chị vẫn hy vọng là sư cô nói sai, biết đâu anh không chết, mà anh chỉ bị thương. Sư cô còn trẻ, còn bồng bột, biết đâu đã nhìn sai, biết đâu… biết đâu…

Trời còn chưa sáng hẳn, sương còn mờ không gian. Khi ra khỏi làng, bắt đầu vào con đường cắt ngang cánh đồng thì chị nhìn thấy những bóng người mờ mờ trên con đê đang đi về phía chùa. Chị gắng sức chạy nhanh hơn, thằng Chiến ngay sát sau chị, cu Quý tụt lại xa, tay túm chặt cạp quần, cắm cúi chạy. Bọn trẻ con và một vài người lớn cũng chạy lên đê, vượt cả ba mẹ con chị.

Lên tới đê, mệt quá nên chị chậm lại, chống tay vào đầu gối thở dốc. Thằng Chiến cũng thở hổn hển bên cạnh. Cu Quý vẫn còn cách một quãng mới tới đê, nó không chạy nữa mà đi bộ cùng sư cô. Trời đã sáng rõ. Phía dưới bờ sông một đám đông đang bâu lại một chỗ. Người chị bỗng run bắn khi bước lại gần. Đám đông lặng lẽ rẽ lối cho ba mẹ con. Từ xa chị đã nhận ra chiếc áo the và chiếc quần bê bết bùn của anh.

Ni sư Thích Lãng Vân đang ngồi cạnh, tụng kinh. Nhìn thấy bóng dáng ni sư, lòng chị dịu lại với hơi ấm của tình người nhưng rồi hình ảnh anh nằm sóng soài, máu từ ngực chảy khô đặc trên áo the, loang thấm vào đất thành một màu thẫm đen đã choàng bóng đêm lên lòng chị. Vậy là hết rồi, nguồn yêu thương của chị đã tắt, người quân tử mạnh mẽ, chỗ dựa vững chắc mà dịu dàng cho cuộc sống ba mẹ con chị đã không còn nữa.

Cu Quý chạy vọt lên rồi nó ôm ghì lấy thầy, gào to:

“Thầy ơi thầy! Thầy dậy đi thầy ơi, cái đuôi của thầy đây, thầy ơi!”

Thằng Chiến chầm chậm đi lại rồi ngồi xuống cạnh, sửa lại tóc của thầy, chắc hẳn đây là lần đầu tiên nó được làm điều đó. Giữa bao người đứng vây quanh, chị chầm chậm rút trâm cài đầu, tháo chiếc khăn đang choàng trên đầu, gập lại, gối dưới đầu anh rồi chị nằm ngả bên cạnh, đầu gối lên cánh tay anh đã giang sẵn đợi chờ. Mái tóc dài đen bóng, rất dầy của chị trải dài tới kheo chân. Nước mắt của chị cứ lặng lẽ chảy dài, chảy mãi. Chị ngước nhìn lên bầu trời. Ánh bình minh đã thấp thoáng một vài tia đầu tiên. Một màu xám xanh mênh mang, đôi chỗ thoáng một sắc hồng. Chị nhắm mắt, áp má vào ngực anh, lấy tay ôm lấy anh như chị vẫn làm trước khi ngủ. Chị biết, những lúc như vậy, anh không thể ngủ được vì tay chị đè lên ngực nhưng chiều chị, anh cứ cố nằm đợi tới khi chị ngủ say mới đổi tư thế. Giây phút ấy chị bỗng thấy lòng êm đềm kỳ lạ. Chị ước gì mình sẽ ngủ lịm đi mãi trong vòng tay anh như thế này. Cõi sống này có ý nghĩa gì nữa đâu khi anh đã đi rồi. Bao lấp lánh vui sống đã mãi tắt lịm, bao hoan lạc ái ân sẽ mãi chỉ là dĩ vãng, sự ấm áp gia đình sẽ chỉ còn là tàn tro lạnh lẽo… Tiếng mõ đều đều ru chị, tiếng cầu kinh êm ái của ni sư nâng hồn chị tới một cõi nào đó có anh. Nơi ấy anh sẽ mãi mỉm cười sánh đôi cùng chị. Nơi ấy sẽ tuyệt nhiên chẳng có sự bất lường tráo trở, chẳng hề có dối trá vu khống, không súng đạn, không máu và nước mắt, không cả nỗi sợ. Nơi ấy sẽ chỉ có tình yêu êm đềm ngọt ngào…

*

Sư cô mượn được ở đầu về chiếc xe cải tiến. Chị Phú muốn đưa anh về nhà rửa ráy, thay quần áo rồi sẽ nhờ ni sư hướng dẫn mọi thủ tục ma chay cần thiết. Thằng Chiến kéo xe, sư cô đẩy. Mẹ con nhà Sương hớt hải chạy từ bờ sông lên. Nhìn thấy cảnh tượng đau lòng, Sương khóc oà, chạy tới dìu chị Phú. Cu Quý ri rỉ khóc, bám vào xe cải tiến, thỉnh thoảng chạy lên chỉnh lại cái khăn gối đầu. Đường xóc, cái khăn trượt ra ngoài, nó sợ thầy đau đầu. Nhìn thấy người chết, con bé Vi sợ quá nhưng thấy mẹ khóc nên không dám kêu, đành thất thểu đi sau cùng. Ni sư đi sau chị Phú, miệng lẩm bẩm tụng kinh. Khi qua bãi bóng, các ông bà dân quân đang chuẩn bị bàn ghế cho ngày thứ hai của phiên toà. Họ nhìn chằm chằm mấy mẹ con, rồi nói với nhau điều gì đó. Bà dân quân đeo súng trường tên Dánh, con gái lớn của bà thẩm phán Đợ, vội hớt hải chạy tìm ai đó trong đám cán bộ, dân quân dưới bãi. Chiếc xe cải tiến vừa rẽ từ đê xuống đường vào làng thì bà Dánh cùng vài người nữa chạy tới.

“Không được đưa vào làng!” bà Dánh nói dứt khoát, mặt căng thẳng, đứng chắn trước mặt thằng Chiến.

“Sao thế?” Thằng Chiến hất hàm hỏi.

“Thằng nhóc con nhà địa phản động,” ông dân quân hôm qua định bắn thằng Chiến quát. “Hôm qua ông đã tha cho mày, hôm nay mà láo, ông xích cổ mày vào luôn. Con nhà địa mà cứ dám trừng trừng mắt ếch với chúng ông thế à?”

Thằng Chiến mắt vằn lên nhưng cố kiềm chế. Nó nhẫn nhục nhìn xuống.

“Xác của tên địa chủ phản động không được đưa vào làng mà phải đem chôn ngay ngoài bãi sông!” Bà Dánh, mặt non choẹt nhưng quát giọng rất đanh thép. Đúng là mẹ nào con nấy, xứng đáng là giai cấp tiên phong của thời đại mới.

“Thưa các ông bà, lệnh của ai đấy!” Chị Phú đi lên hỏi.

“Lệnh chung, áp dụng từ hôm qua rồi còn gì, còn phải hỏi.” Bà dân quân gay gắt. “Tên địa chủ phản động Hoàng Nguyên Phú đã bỏ trốn hồi đêm, may mà lực lượng dân quân phát hiện đuổi theo, đã hạ gục, kết liễu. Tên này thuộc diện những tên bị xử tử hôm qua. Thành phần địa chủ phản động thối nát không được mang vào làng nghe chưa!”

“Thưa bà, ai đã bắn chồng tôi?”

“Mày hỏi làm gì, mà mày làm sao có quyền hỏi điều đó. Lực lượng dân quân là một tập thể, ai bắn thì quan trọng gì?” Bà Dánh nói, lấy chân đạp cái càng xe cải tiến lệch đi, khiến thằng Chiến loạng choạng. Chị Phú nhớ hồi mới về nhà chồng, bà Dánh mới chừng bốn, năm tuổi. Mỗi khi gặp, bà Dánh thường chắp tay chào chị rất ngoan với cái giọng véo von rất đáng yêu: “Con chào bà ạ!” Thời ấy chưa có thằng Chiến, chị thích chơi với trẻ con khi rảnh rỗi. Chị Phú cho bà Dánh lúc chiếc kẹo, cái bánh, khi đĩa bánh trôi…

“Nam mô a di đà phật,” ni sư bước tới, chắp tay nói từ tốn. “Người đã chết, xin các ông bà nhẹ nhàng cho. Tôi có thể nói chuyện với người quyết định việc này được không?”

“Không nói nhiều mất thời gian, chúng tôi chỉ làm theo lệnh cấp trên, giờ chúng tôi còn phải lo phiên toà sắp tới.” Thấy ni sư, bà Dánh có dịu giọng hơn.

“Vậy các ông, các bà cũng phải cho gia đình lo cỗ quan tài đã chứ!” Ni sư nói.

“Theo quy định thì tên địa chủ phản động này sẽ được một quan tài. Cứ lên đê đứng chờ, lát sẽ có phu chở quan tài tới. Nếu cố tình đưa vào làng, tôi sẽ cho bắt hết.” Bà Dánh đanh mặt, giọng cương quyết, hẩy hẩy tay lên đê.

“Thôi Chiến, con kéo thầy lên đê đi,” chị Phú bảo. “Rồi mẹ con ta sẽ tính những việc gì phải làm để lo cho thầy.”

Tất cả xúm vào đẩy chiếc xe cải tiến lên mặt đê.

“Sự đã vậy,” chị Phú bảo thằng Chiến. “Con phải nhẫn nhịn với các ông, các bà ấy. Nếu con nóng tính, phản ứng dại dột, họ bắt con thì mẹ biết nương nhờ vào ai?”

Thằng Chiến cúi đầu, môi bặm lại, mặt đỏ gay không biết do kéo xe hay tức giận.

Sau đấy mỗi người đi lo một việc. Anh em thằng Chiến, Quý chạy về lấy quần áo, khăn, chậu và nước sạch để rửa ráy, thay quần áo cho thầy. Sư cô cùng ni sư Thích Lãng Vân về chùa chuẩn bị đồ. Bé Vi theo mẹ về làng Nổi gọi cánh đàn ông ra giúp đào huyệt. Còn một mình chị Phú ở lại, chị đứng lên, chắn ánh nắng chói chang khỏi chiếu vào mặt anh. Theo bước chân đoàn người kéo tới dự phiên toà, bụi tạo thành một vệt vàng dài bốc lên mặt đê. Người đi qua ngoái nhìn cảnh người đàn bà đứng cạnh xác một người đàn ông rồi họ quay sang nhau lầm rầm bàn tán, rồi lại ngoái lại nhìn…

*

Chừng sau hai tháng rời khỏi trạm quân y 112 Quảng Bình, Quý nhận được thư Thôn.

Anh Quý thân mến,

Anh có biết không, chỉ sau mấy ngày anh rời trạm thì bác nhà tới tìm anh. Ai cũng xuýt xoa tiếc cho anh và bác. Giá như anh ở lại thêm mấy ngày như bác sĩ khuyên thì hay biết mấy, hai mẹ con sẽ được gặp nhau. Bác hỏi em mấy lần là có thực anh khoẻ rồi không? Có thực là anh tự đi về đơn vị được một mình không? Em nói mãi, bác mới yên tâm. Anh biết tâm trạng người hậu phương giữa cuộc chiến là thế nào rồi. Anh nhớ sớm viết thư cho bác yên lòng anh nhé.

Anh giống mẹ lắm, có lẽ do thế mà em cảm thấy bác như người thân của em luôn ấy. Bác chỉ ở với chúng em một ngày rồi lại quay ra ngay. May là có một đoàn xe vận tải đi qua, bác đi nhờ được anh ạ, anh yên tâm nhé. Em hẹn với bác là bao giờ hoà bình, em sẽ ra thăm bác nhưng ngày ấy chưa biết đến bao giờ anh nhỉ!

Anh biết không, cả đời em chưa bao giờ gặp được người nào kể chuyện hay như anh. Những câu chuyện ấy đã mang tới cho em những cảm xúc chưa từng có. Em có ấn tượng đặc biệt với người kể chuyện vừa đẹp trai lại vừa có cái vẻ hiền khô đáng mến và tin cậy như thế. Nghe anh kể, lòng em có lúc nao lên như chính em là cô gái đang chờ đợi hạnh phúc đến với mình như trong Cánh Buồm Đỏ Thắm, có lúc lại chìm đắm trong một tâm trạng nuối tiếc của Tanhia trong Thép Đã Tôi Thế Đấy. Anh biết không, nhiều lúc em khóc khi nghe anh kể đấy. Lúc ấy, em xấu hổ quá nên cứ phải giấu. Em lớn lên ở nông thôn, em chưa được xem những bộ phim và đọc những cuốn truyện hay đến thế. Mới nghe anh kể thôi mà dường như em được sống trong một thế giới khác hẳn. Một thế giới rộng lớn, vô cùng đẹp đẽ và mộng mơ. Em chẳng biết viết sao để tả được hết tâm trạng của mình anh ạ. Chỉ biết rằng, những ngày anh ở đây, em đã mong vết thương của anh chậm liền thôi, để anh ở lại trạm chúng em lâu hơn, để chúng em và các đồng chí thương binh khác được nghe anh kể chuyện nhiều hơn. Em cứ thắc mắc, anh không phải người Hà Nội mà anh kể về Hà Nội hay đến thế. Em có cảm giác là anh kể về một người con gái anh đang đem lòng yêu chứ không phải anh kể về một thành phố. Nghe anh kể, em đã thấy yêu Hà Nội lắm rồi anh ạ.

Em cũng hỏi bác nhà về chị người yêu của anh, tha lỗi cho em vì sự tò mò nhưng không hiểu sao em thích được biết về cuộc sống của anh lắm. Em không dám hỏi nhiều vì sợ bác bảo em là con bé vô duyên, thích tọc mạch chuyện người khác. Mà có khi em vô duyên và tọc mạch thật ấy chứ anh nhỉ. Có gì thì anh bỏ qua cho em nhé.

Nhưng mà em chỉ biết làm theo những gì em thích thôi. Anh nghĩ thế nào thì bảo em nhé. Theo tưởng tượng của em thì chị ấy chắc hẳn phải xinh đẹp và giỏi giang lắm. Người như anh thì có người yêu như thế mới đẹp đôi.

Quê em ở Thái Bình, quê hương năm tấn đấy anh. Em ước gì có một ngày hoà bình để em có thể đi chơi thoả thích ở Hà Nội, tới những nơi anh đã kể cho chúng em nghe. Em sẽ tìm đọc những cuốn truyện và sẽ xem những bộ phim ấy, và em cũng muốn được gặp lại anh, để được lại nghe anh kể chuyện. Chuyện gì cũng được, được nghe anh kể là em thích rồi.

Thế anh nhé! Anh đã nhận em làm em gái của anh rồi đấy, đừng có mà quên. Quên là em bắt đền đấy. Thỉnh thoảng nhớ viết thư cho em. Em chúc anh và các đồng đội của anh khoẻ mạnh, chiến đấu giỏi để ngày hoà bình sớm tới anh nhé.

Mong thư anh nhiều!

Em gái của anh!

Nguyễn Thị Thôn

Quý mỉm cười. Lòng anh vừa buồn, vừa vui. Anh bỗng lây cái trạng thái bâng khuâng của một người con gái mới lớn. Anh bỗng thấy nhớ ghê cái trạm quân y ấy. Mặc dù ở đấy vẫn nghe thấy tiếng bom rơi nhưng không hiểu sao anh vẫn thấy nơi ấy yên bình. Nếu có dịp, nhất định anh sẽ ghé thăm. Tối nay, anh sẽ viết thư cho Thôn. Tình cảm có nhiều định dạng và sắc độ. Tình cảm ấm áp, trìu mến của một người anh trai chắc sẽ làm Thôn vui hơn. Tuổi xuân của em chẳng phải đang mất đi từng ngày trong cái góc rừng ấy hay sao. Mà đâu phải chỉ em, hàng triệu thanh niên khác cũng vậy. Anh bỗng thấy thương lắm tất cả đồng đội của mình, những người sát cánh với anh và cả những người lính trong hàng quân đi ngược chiều trong những đợt hành quân, những nữ thanh niên xung phong với nụ cười còn nguyên chất thôn nữ mộc mạc, những y tá, bác sĩ trong những trạm quân y… Bất giác anh nhớ lại câu hỏi của mấy cô gái năm trước: “Bao giờ hết chiến tranh hả anh?”

*

Những ngày sau đấy, tâm trí thằng Chiến bị ném vào một vòng quay điên loạn. Nó muốn phá phách, muốn làm một việc gì đấy để có thể giải toả sự cùng quẫn ấy. Nó yêu thầy với tình cảm máu thịt, lại vừa với tình cảm của một đứa trẻ đang lớn dành cho thần tượng của mình. Đối với nó, thầy là hiện thân của sự thông thái và phong thái điềm tĩnh đầy bản lĩnh của một người quân tử thực thụ, còn ông nội thì là một gốc đại thụ quý báu đã sinh ra được một người con như thầy. Thằng Chiến rất tự hào về hai người từ khi nó còn nhỏ.

Nỗi đau, sự hoảng loạn khiếp sợ khi nhìn thấy ông nội bị bắn trước mắt chiều hôm trước rồi lại đến thầy ngay sáng hôm sau cùng với việc chứng kiến những gì mẹ trải qua, cả nỗi dằn vặt sau khi bà chịu nhục phải làm cái điều ghê tởm đêm trước khi thầy nó bị bắn chết, tất cả những điều kinh khủng, phi lý ấy diễn ra trong thời gian rất ngắn khiến Chiến choáng váng. Cả thế giới dường như sụp đổ tan tành. Nó không thể lý giải được tại sao sự tàn khốc, đầy bạo lực và thù hận lại bỗng nhiên đổ lên đầu ông nội và thầy như thế. Nó biết nhà nó giàu, có ruộng cho thuê nhưng như ông nội đã nói, đấy là tài sản ông được thừa hưởng từ ông bà tổ tiên để lại. Và tại sao những kẻ bao năm chung sống hoà thuận với gia đình nó tự dưng đứng lên vu khống ông nội và thầy về những việc hai người không hề làm trước hàng nghìn người như thế? Tại sao nhiều khuôn mặt hàng xóm, trước gặp nó ở đâu là tươi cười, một câu cậu Chiến, hai câu cậu Chiến bỗng nhiên lại quay ngoắt trở mặt coi nó như một kẻ thấp hèn nhất xã hội?

Nỗi đau, sự uất ức chuyển thành thù hận. Trong nó cháy lên ý định trả thù, và nó muốn trút sự uất hận lên chính cái kẻ đã lợi dụng hoàn cảnh khốn cùng của một người phụ nữ để làm nhục. Nó ghét cay ghét đắng tất cả những kẻ tố điêu, trong ấy có mẹ con nhà Đợ, thành phần bần cố nông cốt cán của xã. Nhà ấy bỗng nhiên vênh váo khi được chọn là rễ trong phong trào cải cách. Trước hàng nghìn người bà Đợ đã dám gọi ông nội bằng mày, xa xả mắng như tát nước vào mặt ông. Rồi con gái bà Đợ là bà Dánh, giờ là bà dân quân cốt cán của xã, đã nhất quyết không cho nhà nó mang xác thầy vào làng để làm ma chay đúng thủ tục. Trong suốt bao năm qua, đã bao lần nó thấy bà Đợ sang gặp mẹ để vay thóc, vay gạo. Thương hoàn cảnh chồng mất sớm lại đông con nên mẹ đã ra tay giúp đỡ. Mẹ nhiều lần bảo thằng Chiến mang thức ăn sang cho mẹ con bà Đợ trong những ngày Tết. Lần nào mẹ con họ cũng rối rít cảm ơn, vui mừng ra mặt. Thế mà nay bà Dánh còn nâng cao quan điểm, tố gia đình nhà địa chủ Hoàng Nguyên Phúc, Hoàng Nguyên Phú đã bắt mẹ con họ ăn cơm thừa canh cặn, đối xử với họ không hơn con chó, con lợn, rằng họ biết đấy là đồ bỏ đi nhưng đói khổ quá thì đành phải nhận để ăn, rằng nước mắt của họ rơi xuống cả thức ăn khi đưa vào miệng.

Máu thằng Chiến cũng sôi lên khi nhớ tới mụ Bướm ở cuối làng. Người thì chỉ như một nắm xương di động trong bộ quần áo rách như tổ đỉa, cặp mắt ti hí quanh năm ngày tháng tèm nhèm đỏ quạch, đàn ông thuộc diện cùng đinh trong làng có cho tiền cũng ngại lại gần, thế mà mụ tố cả ông nội và thầy đã cưỡng hiếp mụ nhiều lần nơi bãi ngô, nơi bốt cũ của Pháp xây, những lò gạch cũ… Thằng Chiến đã uất nghẹn cổ khi nghe mụ khóc nức lên kể lể chỉ vì bị cưỡng hiếp hành hạ mà mụ từ một người con gái không đến nỗi nào mà trở thành thân tàn ma dại, ở vậy không chồng con, sống cả một đời cô quạnh. Không tin ở tai mình, nó quay sang xem phản ứng của những người xung quanh và bàng hoàng nhận ra nhiều người cũng sụt sịt khóc, đồng cảm với mụ Bướm. Những lời dối trá trắng trợn lại được một sự hưởng ứng rộng rãi khiến thằng Chiến nghẹn thở như đang bị dìm vào một bể chứa tràn ngập những thứ bẩn thỉu nhầy nhụa ghê tởm.

Tất cả những điều ấy cứ quay cuồng mãi trong đầu óc thằng Chiến. Nó không biết nói với ai. Nó đã  nghỉ tập võ mấy tháng kể từ ngày phong trào cải cách ruộng đất về tới làng Đại An. Mẹ bảo không nên gặp chú Ân trong thời kỳ này vì mẹ sợ ảnh hưởng tới chú, hơn nữa tập võ vào lúc này chẳng khác nào trêu ngươi mấy ông đội, mấy bà dân quân. Không khéo nó còn bị gô cổ, bị quy là thành phần phản động, tập võ để âm mưu làm việc này, việc kia ấy chứ. Chú Ân thì khác với mọi người, chú có vẻ không ngại khi qua lại nhà địa như nhà thằng Chiến. Khi thầy mất, chú Ân cùng mấy đàn ông ở làng nổi ra nghĩa trang đào mộ giúp, rồi chú cũng vẫn vào nhà hỏi thăm hai mẹ con những ngày sau đấy.

Nhiều lần buồn quá, nó muốn đi ra làng nổi để được ngồi chơi ở thuyền nhà chú nhưng mẹ đã nói thế thì nó phải nghe thôi. Mẹ đã quá khổ rồi. Nhìn mẹ mà thằng Chiến thương thắt ruột. Ông nội và thầy mất một tuần, mẹ gầy rộc hẳn đi, hai mắt thâm quầng lúc nào cũng sưng húp vì khóc quá nhiều. Mẹ yếu quá nên giọng nói cứ phều phào hụt hơi, thằng Chiến phải lắng nghe mới hiểu được mẹ nói gì.

(Trích Miền Nhớ của Ðoàn Bảo Châu, Giao Chỉ xuất bản lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2016)

 

Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: