Lê Xuân Khoa: Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử

img_0197VIỆT NAM 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử. Tác giả: GS Lê Xuân Khoa
Người Việt Books tái bản lần thứ ba tại Hoa Kỳ, 2016.
(Bìa và trình bày: Uyên Nguyên)

LỜI TÁC GIẢ
về sách tái bản lần thứ ba

Sau khi cuốn “Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử” được in lại lần thứ hai năm 2005, sách không được in thêm lần nào nữa vì tác giả muốn bổ sung tài liệu và thêm phần hình ảnh. Tuy nhiên, ý định này đến nay vẫn chưa thực hiện được sau khi tác giả từ biệt vùng Washington, DC để tái định cư ở miền Nam California vào cuối năm đó. Nhu cầu tái bản gia tăng khi cuốn sách được độc giả trong nước biết đến, nhất là từ khi một số tạp chí và trang mạng đã trích đăng một số trang có những sự kiện lịch sử đã bị sách vở dưới chế độ cộng sản che dấu hoặc viết sai sự thật. Ngoài ra, độc giả trong nước cũng muốn đọc những phân tích khách quan, khoa học về những chính sách sai lầm của tất cả các nước liên quan đến hai cuộc chiến tranh từ 1945 đến 1975, cũng như về những cuộc chinh phạt và tàn sát đẫm máu giữa các nước cộng sản anh em ở biên giới Việt-Trung và Việt-Miên cùng xảy ra vào đầu năm 1979.

Không kể yêu cầu của độc giả ở ngoài nước, nhiều thân hữu ở trong nước cũng thúc giục tác giả cho tái bản cuốn sách để đáp ứng nhu cầu của người dân hiện nay là biết rõ sự thật lịch sử và những bài học cần thiết cho sứ mệnh bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền đất nước. Một chuyên gia trẻ về nước làm việc nhân đạo cho hay là cuốn sách mang về tặng cho một người thân chỉ mấy tháng sau đã rách nát vì bị nhiều người mượn mang đi làm photocopy. Nhà báo Huy Đức, trong một buổi họp mặt với các đồng nghiệp ở Quận Cam, cũng phàn nàn là cuốn sách được tác giả ký tặng mấy năm trước đã biến mất sau nhiều lần được bạn bè chuyền tay nhau đọc. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái đã phải lấy bản riêng của anh để tặng lại cho Huy Đức.

Tác giả đã gặp phải trở ngại trong việc tái bản cuốn sách là không thể tìm được bản CD chứa nội dung cuốn sách đã bị thất lạc trong lúc dọn nhà. Cuối cùng, tác giả đã đồng ý để cho nhóm tình nguyện của trang blog Anh Ba Sàm đánh máy lại toàn thể cuốn sách và đăng làm nhiều kỳ để cho mọi người có thể đọc tự do, không cần chờ sách in giấy được tái bản. Tuy nhiên, vì bị tường lửa, nhiều độc giả trong nước không thể tiếp cận được với trang Anh Ba Sàm. Ngoài ra, việc gấp rút đánh máy lại gần 600 trang sách không thể tránh khỏi những lỗi kỹ thuật, có khi làm sai nghĩa chỉ vì đánh sai một dấu, thí dụ chữ “quốc tệ” (một loại tiền của Trung Hoa dân quốc thời Tưởng Giới Thạch) trong bản gốc (trang 77) đã bị sửa dấu thành “quốc tế”.

May mắn thay, gần đây, trong khi mở lại các thùng tài liệu được cất giữ để chuẩn bị viết cuốn sách về lịch sử tị nạn và cộng đồng, tác giả đã tình cờ tìm thấy cái CD của tập I mà nhà in cần phải có để tái bản. Điều đáng mừng khác là tác giả, vì tuổi tác và sức khỏe, nay đã có thể giao hết gánh nặng xuất bản và phát hành sách cho hai công ty Amazon và Người Việt. Sự hợp tác giữa hai công ty này, với kỹ thuật tân tiến về ấn loát và phát hành, sẽ phục vụ độc giả mua sách bằng mọi cách thuận tiện và mau chóng.

Điều đáng chú ý trong lần tái bản này là tên cuốn sách có đôi chút sửa đổi. Lý do vì lúc đầu, tác giả chỉ dự định viết về lịch sử tị nạn 1975 bắt nguồn từ xung đột quốc-cộng trong cuộc chiến tranh giành độc lập (1945-1954) và sau đó là nội chiến và chiến tranh ủy nhiệm (1955-1975). Hai cuộc chiến tranh năm 1979 ở hai đầu biên giới giữa Bắc Việt với hai nước cộng sản anh em cũng được m xét để rút ra những bài học lịch sử cần thiết. Hậu quả của chiến tranh là những cuộc vượt thoát tìm tự do bi thảm chưa từng có trong lịch sử dân tộc, sau cuộc sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa năm 1975 cho đến khi chương trình tiếp nhận và định cư tị nạn của quốc tế chính thức chấm dứt năm 1995.  Lịch sử 50 năm chiến tranh và tị nạn này vì vậy đã được dự định viết thành hai tập: tập I về bốn cuộc chiến tranh và bài học lịch sử (1945-1979), và tập II về cuộc mạo hiểm tìm tự do của hơn một triệu nạn nhân cộng sản tiếp theo là các hoạt động định cư và hội nhập dòng chính của cộng đồng tị nạn ở Hoa Kỳ (1975-1995).

Mặc dù giữa chiến tranh và tị nạn có quan hệ nhân quả, lịch sử tị nạn và cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt ở Hoa Kỳ, không dừng lại ở điểm mốc 1995. Tập I chấm dứt năm 1979 với cuộc chiến Việt Nam-Campuchia là hợp lý. Tập II cũng sẽ hợp lý nếu nó chỉ viết về lịch sử tị nạn và định cư như dự tính ban đầu. Nhưng lịch sử cộng đồng người Mỹ gốc Viêt không dừng lại ở cùng một thời điểm với lịch sử tị nạn. Năm 1995 không chỉ là năm tất cả các trại tị nạn đều đóng cửa và tất cả những người rớt thanh lọc đều phải hồi hương (trừ trường hợp Phi-líp-pin.) Năm 1995 cũng đánh dấu một khúc ngoặt lịch sử quan trọng: hai kẻ cựu thù Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao và bình thường hóa các quan hệ hợp tác song phương khác. Cũng kể từ 1975, lịch sử cộng đồng Mỹ gốc Việt lại gắn liền với chính sách và vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực, đặc biệt đối với Việt Nam, trong chiến lược ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc độc chiếm Biển Đông và kiểm soát toàn thể các nước ASEAN. Cộng đồng Mỹ gốc Việt có nhiều tiềm năng và cơ hội để trở thành một tiếng nói có trọng lượng đối với các nhà làm chính sách của Mỹ về Việt Nam, đồng thời là một nguồn hỗ trợ đắc lực và đáng tin cậy đối với nhân dân trong nước đang tranh đấu bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân quyền và xây dựng dân chủ. Nhưng tình hình chính trị cộng đồng hải ngoại quá phức tạp đã khiến cho cộng đồng Mỹ gốc Việt không đủ sức mạnh để nắm giữ được vai trò quan trọng ấy.

Vì những lý do trên, tác giả sẽ cần phải nghiên cứu và nhận định thêm về lịch sử cộng đồng ít nhất là tới cuối năm 2015, một điểm mốc mới đánh dấu 20 năm quan hệ Việt-Mỹ và cũng là thời điểm Đảng cộng sàn Việt Nam giải quyết mâu thuẫn nội bộ và xác định chính sách trước thềm Đại hội XII vào đầu năm 2016.  Đó cũng là lý do tên sách Việt Nam 1945-1995 (tập I) được sửa lại thành Việt Nam 1945-1979 để ghi rõ thời gian bốn cuộc chiến và bài học lịch sử. Sách cũng không còn được ghi là Tập I để phân biệt với lịch sử tị nạn và cộng đồng sẽ được viết riêng từ 1975 đến 2015.

Nhân dịp này, tác giả xin chân thành cám ơn hai công ty Người Việt và Amazon, đặc biệt là nhà báo Đinh Quang Anh Thái đã tận tình thúc đẩy và lo liệu mọi việc cho tác giả trong lần tái bản này và cũng là lần thay đổi hình dạng cuốn sách dưới một tên mới và một trang bìa mới. Tuy chưa kịp bổ sung và thêm phần hình ảnh, những lỗi đánh máy và một số sai sót nhỏ trong ấn bản cũ cũng đã được chỉnh sửa lại. Tác giả cũng hết lòng cám ơn những độc giả sẵn sàng tiếp tay phổ biến sách đến bà con và bạn bè trong nước.

California, tháng Tư 2015

Lê Xuân Khoa

le-xuan-khoaGiáo Sư Lê Xuân Khoa (ảnh: Uyên Nguyên)

LỜI MỞ ÐẦU

Lịch sử Việt Nam trong hơn nửa sau thế kỷ XX là lịch sử của chiến tranh, tị nạn và những biến đổi lớn về chính trị ở trong nước. Bắt đầu là cuộc xâm nhập Ðông Dương của đế quốc Nhật Bản vào tháng Chín 1940 bắt buộc Pháp phải nhường Ðông Dương cho Nhật làm căn cứ quân sự nhưng Pháp vẫn được tiếp tục cai trị về hành chánh. Sau khi Nhật tuyên chiến với Hoa Kỳ bằng cuộc tấn công Trân Châu Cảng tháng Mười Hai 1941, toàn cõi Việt Nam bắt đầu phải chịu sự oanh tạc của không lực Hoa Kỳ nhắm vào các căn cứ quân sự và các tuyến đường giao thông vận tải của Nhật. Không có số thống kê về các nạn nhân Việt Nam của những vụ oanh tạc này nhưng con số thương vong của thường dân vô tội trong hơn ba năm trời nhất định không phải là nhỏ. Trong khi đó, nhân dân Việt Nam phải tiếp tục chịu ách thống trị “một cổ hai tròng” cho tới tháng Ba 1945 khi Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp, trao trả “độc lập” cho Việt Nam nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát về an ninh, quân sự và ngoại giao. Tháng Tám 1945, sau khi Nhật đầu hàng Ðồng Minh, Mặt trận Việt Minh giành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đất nước lại lâm vào hai trận chiến thảm khốc trong thời gian ba mươi năm (1945-1975), trừ vài năm chuyển tiếp sau khi đất nước bị chia đôi năm 1954.

Trong những hậu quả của chiến tranh, đặc biệt phải nói đến hai cuộc tị nạn lớn nhất trong lịch sử dân tộc: lần thứ nhất, năm 1954-1955, với gần một triệu dân di cư từ Bắc vào Nam; lần thứ hai, năm 1975 và những năm kế tiếp, với khoảng hai triệu người rời bỏ quê hương đi lánh nạn ở nước ngoài.[1] Những đợt tị nạn liên tiếp từ 1975 đến cuối thập kỷ 1980 đã gây nên nhiều cuộc khủng hoảng quốc tế về vấn đề tạm dung và cưỡng bách hồi hương khiến cho Liên Hiệp Quốc phải hai lần triệu tập hội nghị quốc tế tại Genève, năm 1979 và 1989, để tìm giải pháp thích hợp. Kế hoạch Hành động Toàn diện (Comprehensive Plan of Action ố CPA) năm 1989 của Liên Hiệp Quốc dự liệu hoàn tất trong vòng ba năm nhưng dai dẳng mãi đến 1995 mới chính thức chấm dứt. Ngoài ra, không thể không nhắc đến hai trận chiến khác của Việt Nam sau khi đất nước thống nhất: chiến tranh bốn năm với Khờ-me Ðỏ (1975-1979) và tiếp tục trấn giữ Cam-pu-chia cho tới 1989, và chiến tranh ngắn ngủi 16 ngày với Trung Quốc ở các tỉnh vùng biên giới đầu năm 1979.

Giai đoạn hơn nửa thế kỷ này có rất nhiều bài học chính trị, quân sự và ngoại giao cần phải được tìm hiểu và rút ra những kinh nghiệm khôn ngoan để cho dân tộc có thể tồn tại và phát triển, tránh khỏi trở thành nạn nhân của những chính sách cai trị sai lầm hoặc lại trở thành công cụ của những thế lực quốc tế trong những hình thức tranh chấp nóng hay lạnh trong tương lai. Ngạn ngữ Ðông, Tây đều dạy rằng trong cái rủi có cái may.[2] Cuộc chiến thảm khốc do mâu thuẫn ý thức hệ đã khiến cho hai triệu người phải bỏ nước ra đi nhưng nay đã trở thành một nguồn tài chánh và trí tuệ quan trọng có khả năng phục hồi sinh lực của dân tộc, giúp cho đất nước sớm trở nên giàu mạnh và có một vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Những người đang nắm giữ vận mệnh của quốc gia đã thấy rõ khả năng và triển vọng ấy nhưng vẫn chưa vượt ra khỏi những ràng buộc của quá khứ để thật sự thực hiện công cuộc hoà giải dân tộc và nắm bắt được những cơ may trước mắt.

Cuối năm 1997, khi biết chắc rằng chương trình định cư cuối cùng của chính phủ Mỹ cho tị nạn Việt Nam – “Cơ hội Ðịnh cư cho Người Việt Hồi hương” (Resettlement Opportunity for Vietnamese Returnees, ROVR) – đang tiến hành với kết quả tốt hơn dự liệu, tôi quyết định rời bỏ công việc hoạt động cho tị nạn mà tôi đã phụ trách hơn hai

mươi năm để trở về cuộc đời dạy học với dự định viết một cuốn sách về lịch sử tị nạn Việt Nam và cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vì môn dạy của tôi ở Ðại học không liên quan đến Việt Nam, và công việc soạn bài lại chiếm mất khá nhiều thì giờ, cho nên tới giữa năm 2001 tôi mới thực sự bắt đầu công việc viết sách.

Lúc đầu tôi có ý định viết bằng Anh văn cho đối tượng độc giả chính là người ngoại quốc và thế hệ trẻ không đọc được tiếng Việt, vì sách vở và tài liệu viết bằng tiếng Việt đã khá nhiều. Ngoài ra, sách viết bằng tiếng Anh cũng sẽ giúp cho những độc giả ngoại quốc và thế hệ trẻ gốc Việt hiểu biết lịch sử Việt Nam một cách chính xác, tránh lập lại những nhận định sai lầm hay thiếu sót về văn hoá và chính trị mà nhiều tác giả ngoại quốc đã phạm phải khi họ viết về chiến tranh và cộng đồng tị nạn Việt Nam. Sau khi gửi bản tóm lược dự án và bản phác thảo các tiết mục của cuốn sách tới hai nhà xuất bản Mỹ và được sự góp ý của các chủ biên, tôi nhận thấy nội dung phức tạp của cuốn sách không nên bao gồm hết vào một tập mà cần phải được chia làm hai, đề cập tới hai thời kỳ với những sự kiện có liên quan nhân quả với nhau nhưng khác hẳn nhau: thời kỳ thứ nhất (1945-1979) gồm bốn cuộc chiến tranh trước và sau đợt tị nạn 1954 với những bài học về chính sách sai lầm và cơ hội bỏ lỡ của tất cả các phe lâm chiến; thời kỳ thứ hai (1975-1995) là lịch sử tị nạn 1975 với những kinh nghiệm đặc biệt về những cuộc vượt thoát, các biện pháp phát sinh ra tị nạn và phản ứng của quốc tế, những nỗ lực cứu trợ, bảo vệ tị nạn và tìm kiếm giải pháp công bằng và nhân đạo. Kết quả của tị nạn 1975 là sự hiện diện của các cộng đồng người Việt Nam ở gần một trăm quốc gia trên thế giới mà hầu hết đã trở thành công dân nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ, có những quan hệ phức tạp đối với chính quyền và các thành phần nhân dân ở trong nước.

Tuy nhiên, sau khi gửi bản tóm lược dự án cho một số thân hữu và qua những buổi tiếp xúc với nhiều nhóm khác nhau trong cộng đồng, kể cả ở Pháp và Canada, tác giả đã bị thuyết phục về ưu tiên viết cuốn sách này bằng tiếng Việt. Lý do chính được nêu ra là nội dung cuốn sách, với những sự kiện và nhận định khách quan về hai cuộc chiến tranh trong giai đoạn vừa qua, có thể góp phần đáng kể cho những cuộc thảo luận về các quan hệ giữa cộng đồng người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước. Ðây là mọạt yêu cầu khá bức xúc sau khi chiến tranh đã chấm dứt ba mươi năm và thực tế trước mắt là các quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế càng ngày càng phát triển, và những đóng góp không chính thức nhưng rất quan trọng của cộng đồng người Việt hải ngoại cho đồng bào và xứ sở vẫn tiếp tục gia tăng. Như vậy đối tượng độc giả trước hết là tất cả mọi người Việt Nam trong và ngoài nước có những quan tâm chung, dù rằng trong những điều kiện hiện tại, do việc trình bày trung thực các sự kiện và nhận xét thẳng thắn về những sai lầm của mỗi bên trong quá khứ, cuốn sách khó có hi vọng được lưu hành ở trong nước. Bản dịch Anh văn, vì không còn phải mất công tìm tòi và nghiên cứu tài liệu, sẽ được thực hiện và xuất bản không bao lâu sau ấn bản tiếng Việt.

Mặc dù tập trung vào thời gian 50 năm giữa hai mốc lớn trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX là 1945 và 1995, cuốn sách sẽ phải nhắc đến một số sự kiện từ nhiều năm trước đã đưa đến Cách mạng tháng Tám 1945 và sự thắng lợi của Mặt trận Việt Minh, cũng như những biến chuyển trong quan hệ Việt-Mỹ và trong cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ sau khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995, chuẩn bị cho những quan hệ song phương mới trong thế kỷ XXI. Vì những bài học chiến tranh cần được lần lượt thảo luận trong cùng một phần, các nhận xét về những cuộc xung đột giữa Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với Khơ-me Ðỏ và với Trung Quốc sau 1975 cũng được trình bày trong tập I này (m Chương 9). Ngoài ra, vì chủ đích của cuốn sách là tìm hiểu kinh nghiệm của quá khứ để giúp ích cho hiện tại và tương lai cho nên các trận đánh, ngay cả những trận lớn, sẽ không được mô tả chi tiết mà chỉ được nhắc đến để nhận định về những ưu khuyết điểm trong sách lược của mỗi phe lâm chiến và hậu quả của những sách lược ấy.

Tập Một, Tị Nạn 1954 và Bài học Bốn Cuộc Chiến (1945-1979), gồm mười chương chia làm ba phần chính:

Phần thứ nhất tìm hiểu những nguyên nhân gốc rễ của tị nạn. Cộng đồng người Việt định cư tại gần một trăm quốc gia trên thế giới ngày nay trước hết là cộng đồng của những người tị nạn từ 1975. Tuy nhiên, mọi sự mô tả và giải thích về lịch sử cộng đồng hải ngoại này sẽ bị thiếu sót lớn nếu không nhắc đến những nguyên nhân phức tạp của cuộc di cư tị nạn năm 1954, khi gần một triệu người từ miền Bắc ào ạt kéo nhau vào miền Nam trong thời hạn ba trăm ngày ấn định bởi thỏa hiệp Genève. Việc tìm hiểu những nguyên nhân gốc rễ của cuộc tị nạn đầu tiên này sẽ cho thấy rằng, ngoài những yếu tố chính trị quốc nội như những cuộc tranh chấp quốc gia-cộng sản, cải cách ruộng đất và chỉnh huấn trí thức, có những yếu tố bên ngoài – Trung Hoa Quốc Gia, Pháp và Hoa Kỳ – đã ảnh hưởng sâu đậm tới số phận của dân tộc Việt Nam, trước và sau Ðệ nhị Thế chiến.

Phần thứ hai nói về hoạt động của tứ cường (Mỹ, Pháp, Anh, Liên Xô) và Trung quốc trước và trong hội nghị Genève đưa đến việc chia đôi nước Việt Nam với hai chính thể đối nghịch nhau. Tiếp theo là phân tích những sai lầm và cơ hội bỏ lỡ của Pháp và Hoa Kỳ, nguyên nhân thất bại của phe quốc gia, và lòng ngưỡng mộ cùng với món nợ quá lớn của Ðảng Cộng sản Việt Nam đối với Trung Quốc trong cuộc chiến tranh chống Pháp khiến cho phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã phải bàng hoàng trước sự trở mặt và áp lực trắng trợn của Trung Quốc tại hội nghị Genève. Sau hết là lịch sử cuộc di cư tị nạn năm 1954-1955 với những nỗ lực ngăn chặn người ra đi, những kinh nghiệm chuyển vận và định cư thành công gần một triệu dân miền Bắc ở các tỉnh miền Nam trong một thời gian kỷ lục.

Phần thứ ba tập trung vào cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam, Bắc với sự hậu thuẫn của hai thế lực quốc tế tranh giành ảnh hưởng bằng chiến tranh ủy nhiệm: Hoa Kỳ tham chiến ở miền Nam, Liên Xô và Trung Quốc trợ lực cho miền Bắc. Những hiểu biết thiếu sót về văn hoá và lịch sử của bạn và thù, những sai lầm trong chính sách và những cơ hội hòa bình bỏ lỡ của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Sản và Việt Nam Quốc Gia đều được phân tích và nhận định khá kỹ lưỡng trong phần này. Tất cả những nhận định đó đưa đến kết luận tất yếu là cuộc chiến hai mươi năm ở Việt Nam vừa là nội chiến vừa là chiến tranh ủy nhiệm mà rốt cuộc là tất cả mọi phe đều thua : Hoa Kỳ chi phí 200 tỉ đô-la và thiệt hại trên 58,000 binh sĩ nhưng vẫn phải chịu thất bại và bỏ cuộc; Việt Nam Cộng Hoà chết hơn một trăm ngàn quân và gần nửa triệu dân để rồi bị Hoa Kỳ bỏ rơi và sụp đổ thảm thương; Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam toàn thắng nhưng đã phải trả giá bằng hơn một triệu sinh mạng bộ đội và cán bộ tại chiến trường miền Nam và khoảng hai triệu thường dân ở miền Bắc,[3] nhất là sau đó còn phải chiến đấu với hai cựu đồng minh và nhận lãnh những hậu quả tai hại khiến cho đất nước bị lâm vào tình trạng tụt hậu và nghèo đói trong mười mấy năm liền do chính sách sai lầm về cả hai mặt đối nội lẫn đối ngoại.

Nội dung của tập II, chủ yếu là lịch sử tị nạn 1975 và cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ, sẽ được trình bày chi tiết sau. Ðại cương, cuốn sách sẽ mô tả những đợt tị nạn kéo dài từ 1975 cho đến những năm đầu của thập kỷ 1990 ghi dấu những biến cố bi thảm và lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam khiến cho hơn bảy chục quốc gia trên thế giới phải chia nhau trách nhiệm giải quyết. Công cuộc tranh đấu bảo vệ thuyền nhân tị nạn, những giải pháp của quốc tế và Hoa Kỳ, chương trình định cư hơn một triệu rưỡi người Việt Nam ở mấy chục tiểu bang của nước Mỹ là những nguồn tài liệu và kinh nghiệm đặc biệt về di dân, thích ứng và hội nhập, có tác dụng lâu dài vào xã hội Mỹ, vào cộng đồng người Mỹ gốc Việt và đất nước Việt Nam. Trong quá trình tị nạn và định cư này, phải nói đến những tổ chức và sinh hoạt chính trị phức tạp trong cộng đồng tị nạn, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, quan hệ giữa cộng đồng người Mỹ gốc Việt với chính quyền và các thành phần dân chúng ở trong nước. Cuối cùng là vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng người Mỹ gốc Việt đối với quốc gia mà mình đã nhập tịch và đối với quê hương nguồn cội của mình.

*

Khi nói đến những kinh nghiệm và bài học của quá khứ tất nhiên phải kiểm điểm những ưu khuyết điểm, đặc biệt là những quyết định sai lầm của mỗi phe liên hệ và hậu quả của những quyết định ấy đối với dân tộc Việt Nam. Việc kiểm điểm này đòi hỏi một thái độ khách quan, trình bày sự kiện một cách trung thực, tránh những lời lẽ ca ngợi hay chỉ trích do thiên kiến hay cảm xúc. Thực tình mà nói, khó có thể thấy một thái độ tuyệt đối khách quan ở một người vừa là nhân chứng vừa là người trong cuộc, nhưng ngay cả những người ngoài cuộc như các tác giả và phóng viên ngoại quốc cũng không ít người mang sẵn định kiến hay tình cảm thiên vị đối với phe bên này hay bên kia. Dù sao, cuốn sách này vẫn là kết quả của những nỗ lực nghiên cứu khoa học và khách quan đến tối đa. Nhờ đó, những nhận định trong sách sẽ đính chính được nhiều sự ngộ nhận hay quan điểm sai lầm của nhiều quan sát viên ngoại quốc đối với các phe liên hệ trong cả hai cuộc chiến ở Việt Nam. Không có gì đảm bảo tất cả mọi sự kiện trình bày trong sách đều đúng một trăm phần trăm nhưng chúng đã được gạn lọc kỹ càng, căn cứ vào những nguồn tài liệu đáng tin cậy. Ðiều chắc chắn là thái độ vô tư khi phân tích và nhận định sự kiện sẽ khó tránh khỏi làm phật lòng một số người liên hệ, hoặc không phù hợp với những khung ý thức hệ đã có sẵn, do đó quan điểm của tác giả trong nhất thời vẫn có thể bị phía bên này hay phía bên kia gán cho những nhãn hiệu chính trị đối lập nhau.

Ôn lại lịch sử là để “trả lại cho César cái gì của César”, tức là phục hồi sự thật trong tinh thần bình thản vô tư của những người đã vượt lên khỏi những xúc động và phản ứng chủ quan trong những tình huống nhất định. Trong tinh thần đó, kiểm điểm những sự việc đã qua không phải để khích động lại những mâu thuẫn và thù hận cũ, mà để nhận ra được những kinh nghiệm đau thương, những sai lầm cần phải tránh. Ðáng chú ý là những sai lầm quan trọng thường được phát xuất từ phe có sức mạnh hoặc phe đã thắng trận nhiều hơn là phe yếu thế và bại trận. Bởi vậy, nếu trong sách này công việc phân tích và nhận định sai lầm có phần nặng hơn về phía các nhà làm chính sách của Hoa Kỳ và các nhà lãnh đạo miền Bắc Việt Nam thì cũng không nên bị chê trách là thiên vị hay thiếu công bằng. Quan trọng hơn hết vẫn là “ôn cố tri tân”, học kinh nghiệm quá khứ để làm được chuyện tốt hơn cho hiện tại và tương lai. Không ai có thể thay đổi được quá khứ nhưng ai cũng có thể và cần phải vượt lên khỏi những sai lầm của quá khứ. Ðó chính là bài học tích cực của lịch sử. Ðó cũng là đức tính cần phải có ở những nhà lãnh đạo sáng suốt sẽ được đánh giá xứng đáng bởi nhân dân và những nhà viết sử.

*

Nhiều nguồn tài liệu khác nhau đã được tham khảo khi viết cuốn sách này. Tất cả những tác giả, tác phẩm và những nguồn cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung cuốn sách đều được liệt kê trong mục “Tài Liệu Tham Khảo” ở phần cuối sách. Ðiều đó không có nghĩa là tác giả đã đọc và khai thác trực tiếp tất cả những tài liệu liệt kê mà chỉ muốn giúp cho những độc giả muốn tra cứu sâu hơn đỡ mất công tìm kiếm. Chỉ khi nào thấy có những chỗ khác nhau trong các tài liệu đã tham khảo hoặc có điều gì còn ngờ vực cần được kiểm chứng, tác giả mới phải tìm kiếm văn kiện gốc để đối chiếu và nhận xét. Tất cả những lời dẫn chứng hay ý kiến không phải của tác giả đều được để trong dấu ngoặc kép và được ghi rõ xuất xứ trong phần chú thích. Nhiều khi vì cần giới hạn nội dung mỗi chương sách trong phạm vi cần thiết của nó, tác giả đã đưa thêm vào phần chú thích một số thông tin hay những nhận định bổ túc của mình. Chính vì sự giới hạn này mà tác giả rất tiếc đã phải lược bỏ nhiều sự kiện liên hệ với ước mong là chúng sẽ được những nhà nghiên cứu khác khai thác khi viết về những vấn đề nhất định trong giai đoạn lịch sử đặc biệt này.

Phần Phụ lục gồm một số ít văn bản đã được nhắc đến hoặc trích dẫn ở trong sách, được chọn để in lại và sắp xếp theo thứ tự thời gian vì chúng là những dấu tích lịch sử quan trọng hay vì tương đối không dễ dàng kiếm được.

Mặc dù đã cố gắng làm việc trong tinh thần vô tư và thiện chí xây dựng, tác giả chắc chắn vẫn không tránh khỏi những sai lầm hay sơ suất trong việc trình bày các sự kiện và nhận định. Tác giả sẽ rất cám ơn và tôn trọng mọi ý kiến thảo luận, những điều đính chính hay bổ túc của qúi vị độc giả trong và ngoài nước.

Bethesda, Maryland, Mùa Xuân 2004

Lê Xuân Khoa

[1] Tổng số người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm tị nạn, di dân từ 1975 và thế hệ trẻ ra đời những năm về sau, kể cả những người đi từ miền Bắc chọn ở lại Nga và các nước Đông Âu, tính đến nay được ước lượng khoảng gần ba triệu người.

[2] Đồng phương: “Hoạ trung hữu phúc”. Tây phương: “A quelque chose malheur est bon”.

[3] Xem xuất xứ các con số ở chương 8.

Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: