Huy Ðức: Kinh Tế Mới

Nhà báo Huy Ðức (Ảnh: Uyên Nguyên)

Không chỉ bị “tước đoạt tài sản”, các nhà tư sản còn bị buộc phải rời thành phố, cho dù, cũng như nhiều chính sách làm xáo trộn xã hội lúc bấy giờ, chủ trương đưa các nhà tư sản đi kinh tế mới cũng không được công bố một cách công khai, minh bạch. Ngày 10-4-1978, trên báo Sài Gòn Giải Phóng xuất hiện một bài báo dưới dạng “hỏi-đáp”, kiểu như một tài liệu được soạn sẵn rồi phát cho các cơ quan báo chí. Tính cưỡng bức của chính sách mà tài liệu này thể hiện là rất mạnh mẽ.

Các nhà tư sản thương nghiệp bị phê phán là chỉ biết “làm giàu, ăn chơi phè phỡn, bóc lột người lao động và ăn cắp của nhà nước, coi khinh lao động và nói xấu chế độ” trong khi “ba năm qua trên 700.000 nhân dân lao động hồi hương lập nghiệp”[ 174]. “Về những hành vi tội lỗi đó, nhân dân lao động và chính quyền cách mạng đã không bắn giết, không bắt giam, không đày ải, không đấu tố, không tịch thu mặc dù có đầy đủ sức mạnh và lý lẽ để làm như vậy. Nhân dân lao động và chính quyền chỉ buộc họ chấm dứt những hành vi đó, chấm dứt triệt để và vĩnh viễn… Không những các nhà tư sản thương nghiệp phải chuyển sang sản xuất nông nghiệp, nghề cá, nghề rừng là chuyển về các tỉnh, mà cả sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng chuyển về các tỉnh, theo sự bố trí màng lưới công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở địa phương”[ 175].

Hai ngày sau khi báo Đảng đăng bài “hỏi-đáp” này, một cuộc “hội thảo” kéo dài hai ngày, 12 và 13-4-1978, với sự tham gia của “hơn 200 trí thức” đã được chính quyền tổ chức. Phát biểu trong “hội thảo” [ 176], Bác sỹ Lê Cửu Trường nói rằng: “Lề lối kinh doanh tư bản chủ nghĩa không thể tiếp tục kéo dài trong một xã hội đang tiến lên con đường xóa bỏ chế độ người bóc lột người”. Ông Phương Kiến Khánh, người được giới thiệu là đang công tác ở Phân Viện Nghệ thuật, cho rằng: “Chuyển các nhà tư sản thương nghiệp sang sản xuất là trả họ về với thiên chức con người, là giải phóng họ khỏi kiếp ăn bám, bóc lột”.

Tối 17-4-1978, tại sân vận động Thống Nhất, “40.000 công nhân viên chức đại biểu cho gần nửa triệu công nhân lao động” đã “hưởng ứng chủ trương xóa bỏ kinh doanh của các tư sản thương nghiệp”. Phát biểu trên sân vận động Thống Nhất, Chủ tịch Vũ Đình Liệu nói: “Chúng ta đang ở trong giai đoạn đấu tranh giai cấp có phần gay gắt và cuộc đấu tranh vẫn còn tiếp tục”[ 177].

Ngày 10-6-1978 là “hạn chót để các nhà tư sản thương nghiệp rời thành phố đi sản xuất”. Chính quyền ca ngợi những người tích cực đăng ký các chương trình kinh tế mới nhưng đồng thời cũng nói với họ rằng: “Đây là một chính sách lớn… nhằm giúp các nhà tư sản tự giải thoát khỏi con đường bóc lột, biến họ từ một lực lượng phi sản xuất gây tác hại cho xã hội thành một lực lượng sản xuất có ích cho xã hội”[ 178]. Không ít nhà tư sản được trích lời trên báo nói, họ chuyển sang sản xuất là để “tẩy rửa cái mặc cảm bóc lột tội lỗi” của mình. Nhưng, như phát biểu của ông Vũ Đình liệu, “cuộc đấu tranh giai cấp” diễn ra ở bên trong từng gia đình đúng là đang “có phần gay gắt”.

Nhật ký ngày 8-6-1978 của Lý Mỹ cho thấy không khí trong gia đình cô “thật lạ và căng thẳng”. Ba cô tuyên bố “sẽ đi kinh tế mới” nhưng giọng nói của ông làm cho cô “nghi ngờ”. Cũng như nhiều gia đình tư sản, đặc biệt là tư sản người Hoa khác, gia đình Lý Mỹ biết rõ, “kinh tế mới là nơi đày ải, đầy khó khăn gian khổ không thể nào sống được”. Phần lớn các nhà tư sản sau đó đã vượt biên.

Nhật ký của Lý Mỹ viết: “Cùng gia đình bỏ trốn hay ở lại. Tôi nghĩ, tôi phải can đảm lên, chấp nhận đấu tranh và mất mát, tôi sẽ không trốn đi nơi nào cả. Nếu gia đình không lay chuyển, tôi bằng lòng ở lại sống cô đơn, không tài sản của cải gì của cha mẹ để lại, tôi sẽ gặp vất vả, khó khăn và sóng gió. Đồng chí Paven ơi, nỗi khổ và sự phấn đấu của tôi có nghĩa gì so với đồng chí”[ 179].

Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Lúc đầu, tôi cũng cứ tưởng cải tạo tư sản sẽ khác với cải cách ruộng đất, một sai lầm mà những người ở miền Nam chúng tôi nhắc nhau phải tránh. Nhưng, tiến hành rồi mới thấy, cách cải tạo tư sản thương nghiệp mà anh Đỗ Mười làm, cũng không khác gì đánh tư sản mại bản nhưng tràn lan hơn. Anh Đỗ Mười làm cải tạo cũng thành thật lắm. Giữa thập niên 1980, khi tôi ra Hà Nội vẫn thấy anh Đỗ Mười kêu những người buôn bán là bọn con buôn”.

Ngay trong thời gian đang cải tạo, những cuộc tranh cãi nổ ra gần như thường xuyên giữa ông Võ Văn Kiệt, ông Nguyễn Văn Linh với ông Đỗ Mười. Nhưng khi ấy Đỗ Mười đang nắm trong tay “thượng phương bảo kiếm”. Ông Vũ Đình Liệu thừa nhận: “Họp Thường vụ chúng tôi cũng có ý kiến, đi cơ sở về chúng tôi cũng có ý kiến, nhưng bị bên anh Đỗ Mười cự”[ 180]. Tuy tranh cãi phương thức, nhưng cả ông Võ Văn Kiệt, ông Nguyễn Văn Linh vẫn thống nhất với ông Đỗ Mười về chủ trương. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Lúc đầu tôi nhận thức, cải tạo là chuyện tất yếu và coi như đó là con đường để đi lên chủ nghĩa xã hội. Cho tới lúc ấy, tôi chỉ đi các nước Đông Âu, thấy cuộc sống của họ so với mình đã là những gì mà mình ước mơ. Tôi nghĩ, phải kinh qua những bước như mình đang làm bây giờ mới có ngày đạt được như những gì họ có”. Nhưng rồi khi nhìn cả thành phố vốn là một trung tâm thương mại trở nên tiêu điều, tan hoang, nhất là khi nhìn thấy chính những ân nhân của cách mạng cũng trở thành nạn nhân, những người đã từng bám trụ ở miền Nam, ở Sài Gòn bắt đầu nhìn lại những gì mà mình đang thực hiện.

Khi ông Đỗ Hoàng Hải mới về 14 Cách Mạng Tháng Tám chuẩn bị “cải tạo tư sản”, ông Trần Văn Đước – một cơ sở đã từng nuôi giấu và cứu mạng ông Hải trong Mậu Thân 1968 – ngày nào cũng nấu cơm rồi cho người mang sang. Cũng như trong chiến tranh, ông Đước không biết rõ ông Hải đang làm gì, chỉ giúp đỡ vì biết ông Hải là người “bên Cách mạng”. Khi ông Trần Văn Đước chạy đến báo: “Bác bị người ta mang xe tới chở hết kiếng đi rồi”, ông Hải vẫn tưởng rằng: “Chắc là có sự nhầm lẫn”.

Con trai ông Trần Văn Đước là liệt sỹ. Tiệm kiếng của ông mở tại nhà riêng ở số 12 Ngô Tùng Châu chỉ là một ngôi nhà cấp 4, chiều ngang bốn mét, dài mười bốn mét, tường gạch, lợp ngói. Nhưng ông Đước vẫn bị quy vào diện tư sản thương nghiệp, kiếng hàng hóa và cả nhà riêng của ông đều bị “sung công”. Không chỉ có trường hợp ông Trần Văn Đước. Năm 1957, ông Lai Thanh đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng, lái xe đưa ông Lê Duẩn đào thoát sang Phnom Penh trong sự truy lùng gắt gao của Chính quyền Sài Gòn. Năm 1978, khi ông Lê Duẩn đưa ông Đỗ Mười vào Nam, nhà máy xay lúa của gia đình ông Lai Thanh đã bị sung công. Con gái ông, bà Lai Kim Dung, một tư sản người Hoa, cũng bị xếp vào thành phần cải tạo. “Công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh” ở miền Nam, tiến hành từ sau 1975, đã cải tạo 3.560 cơ sở tư bản tư doanh công nghiệp, trong đó có 1.354 cơ sở của tư sản mại bản bị công hữu hóa, tịch thu, 498 cơ sở bị chuyển thành công tư hợp doanh; chuyển 5.000 tư sản thương nghiệp sang sản xuất; chuyển chín vạn tiểu thương sang sản xuất; sử dụng 15.000 người vào mạng lưới thương nghiệp xã hội chủ nghĩa. Sau Cải tạo, dưới dạng kinh tế quốc doanh và công tư hợp doanh, Nhà nước nắm: 100% ngành năng lượng; 45% ngành cơ khí; 45% ngành xay xát lương thực; 100% ngành bia, nước ngọt, bột ngọt, thuốc lá; 45% trong các ngành chế biến đường, dầu thực vật; 60% ngành dệt; 100% ngành sản xuất giấy; 80% ngành sản xuất bột giặt, xà phòng. Thương nghiệp quốc doanh nắm 80% nguồn hàng công nghiệp; 92% số xã trên toàn miền Nam có hợp tác xã mua bán[181].

Trước khi cải tạo công thương nghiệp tư doanh, nhà nước đã tìm mọi cách để tập trung mọi nguồn hàng vào tay mình. Không chỉ có sản phẩm của các xí nghiệp quốc doanh phải tiêu thụ qua thương nghiệp của nhà nước, “các xí nghiệp tư bản, các hợp tác xã, các tập đoàn và cơ sở sản xuất thủ công, cá thể, được nhà nước cung cấp lương thực, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, điện; cho vay vốn… (cũng) phải bán sản phẩm cho thương nghiệp quốc doanh”[ 182]. Chính quyền tin rằng: “Ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa là cơ quan hậu cần của toàn dân, là người nội trợ của toàn xã hội”[ 183]. Chẳng bao lâu sau, niềm tin này sẽ nhanh chóng tan thành mây khói.

(Trích BÊN THẮNG CUỘC, QUYỂN I: GIẢI PHÓNG- CHƯƠNG 3: ÐÁNH TƯ SẢN)

 

[174] Trong giai đoạn 1975-1980, Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa hơn 832 nghìn người hồi hương hoặc đi kinh tế mới ở các tỉnh từ miền Tây, miền Đông Nam Bộ cho tới Tây Nguyên. 90% số này rời khỏi Thành phố trong giai đoạn 1975-1980, thời gian tư sản bị cải tạo và chính sách sổ gạo bắt đầu được thắt chặt. Bằng những quyết định hành chánh ấy, dân số Sài Gòn đã giảm từ 3,391 triệu người năm 1976 xuống còn 3,201 triệu người năm 1980. 7% lượng người nhập cư mới có nơi sinh là Sài Gòn, họ là những người từng bị đưa đi kinh tế mới trong thời kỳ 1975-1980. Cho đến cuối thập niên 1990, vẫn còn 24% số người không có hộ khẩu thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh vốn là người Sài Gòn-Gia Định. Họ là nạn nhân của chính sách kinh tế mới trong giai đoạn 1975-1980.
[175] Sài Gòn Giải Phóng, 10-4-1978.
[176] Sài Gòn Giải Phóng, 13-4-1978.
[177] Sài Gòn Giải Phóng, 18-4-1978.
[178] Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Lê Thành Nhơn phát biểu trước lễ tiễn 200 nhà tư sản thương nghiệp đăng ký đi kinh tế mới Gia Lành, Lâm Đồng, sáng 18-4-1978- SGGP 19-4-1978.
[179] Tuổi Trẻ, 23-6-1978.
[180] Trả lời phỏng vấn tác giả ngày 4-12-2004.
[181] Đào Duy Tùng, 2008, trang 216-217-218.
[182] Chỉ thị 147, năm 1977, của Thủ tướng Chính phủ.
[183] Sài Gòn Giải Phóng, 14-7-1977.

Advertisements


Chuyên mục:Xã hội, Xã hội

Thẻ:,

1 reply

Trackbacks

  1. Huy Ðức: Kinh Tế Mới — Uyên Nguyên – quequegannamite

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: