Cung Tích Biền, Đành Lòng Sống Trong Phòng Đợi Của Lịch Sử

5Đành Lòng Sống Trong Phòng Đợi Của Lịch Sử
Phỏng vấn Nhà văn Cung Tích Biền – Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ và Mặc Lâm thực hiện

 

THẰNG BẮT QUỶ – BA MƯƠI NĂM NUNG NẤU MỘT NGỌN LỬA
(trích)

Văn Cung Tích Biền trong Thằng Bắt Quỷ thật là kinh điển, thẳng mạch văn thời hình thành tiếng Việt ngày nay, không mảy may kiểu cách. Người ngoại quốc, học trò, muốn học tiếng Việt kinh điển, có thể học trong tác phẩm của ông. Đơn giản, trong sáng, khúc triết,v.v. và v.v.., nó là tiếng Việt thường ngày của người Việt, không có gì éo le, phức tạp, tế nhị, khó hiểu. Không có gì lạ lùng, huyền bí. Thế mà nó đã thành văn, đọc xong không thể quên được.

Điều nổi bật trong văn Cung Tích Biền là tiết kiệm ngôn ngữ. Ít có nhà văn Việt Nam nào bần tiện như ông. Đọc cả một quyển sách, không thấy có mấy câu thừa chữ.

Cung Tích Biền biết giá trị của ngôn ngữ. Vì ông có điều đáng nói với đời, ít nhất đời người Việt. Điều đáng nói ấy là ngọn lửa soi sáng, nung đúc văn ông trong suốt ba mươi năm. Chính vì nó đáng nói, chính vì ông lấy đời mình nung đúc nó suốt ba mươi năm qua mà lời nói ấy biến thành văn, mà tình cảm đó biến thành nghệ thuật.

Hình như trong bất cứ nền văn hóa nào cũng có truyện cổ tích đẹp về ngọn lửa. Engels cho rằng hiện tượng ấy ghi lại, dưới dạng huyền thoại, một kỷ niệm cơ bản của loài người, kỷ niệm khoảng khắc nó thoát thân phận súc sinh, biến thành người vì, lần đầu tiên, nó biết sử dụng thiên nhiên làm công cụ. Trong huyền thoại của người Hy Lạp cổ, ngọn lửa Prométhée trao lại cho con người là biểu tượng của lý trí.

Truyện Qua Sông của Cung Tích Biền là truyện ngắn hay nhất, đẹp nhất, về một ngọn lửa mà tôi có dịp đọc trong văn chương Việt Nam.

Trần Đạo
[Nguồn: Hợp Lưu, tập san Văn học Nghệ thuật [California] số 16, tháng 5 & 6 năm 1994]. Trần Đạo là một bút hiệu khác của Dịch giả Phan Huy Đường.

 

CUNG TÍCH BIỀN – UYÊN ÁO VÀ TRẦM MẶC DỊ THƯỜNG

Tôi thật sự kính phục và quý trọng nhân cách, trí tuệ và năng lực sáng tạo sung mãn của nhà văn Cung Tích Biền. Ông là một nhà văn hiếm hoi của thời đương đại chấp nhận cuộc sống cô độc, buông bỏ mọi thị phi, an nhiên trong hành trình văn chương độc lập với chính mình để nhìn và nghe thấu dư vang máu lệ của sử lịch.

Ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn miền Nam dưới bút hiệu Cung Tích Biền, với truyện ngắn “Ngoại Ô Dĩ An Và Linh Hồn Tôi” đăng trên Tuần Báo Nghệ Thuật, Sài Gòn, tháng 3.1966, nhà văn đã thể hiện một chất giọng rất riêng, thấu tỏ phận người và bi kịch chiến tranh. Sau đó, ông xuất hiện khá đều đặn trên các tạp chí văn học nghệ thuật miền Nam và cho xuất bản hàng loạt những tác phẩm có giá trị.

Sau biến cố 30.04.1975, ông tiếp tục viết với bút lực phong phú, sung mãn dị thường, nhất là từ thập niên 1990 trở về sau, nổi bật nhất là các tập truyện Thằng Bắt Quỷ (NXB Tân Thư, Hoa Kỳ, 1993), Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ (tự ấn hành dưới tên NXB Một Mình) và rất nhiều tác phẩm khác còn nằm trong…ngăn kéo.

Bộ ba truyện ngắn liên hoàn gần đây nhất của Cung Tích Biền vừa mới được giới thiệu trên trang mạng damau.org vào cuối tháng 4.2015 có nhan đề “Gia Sản Trong Bóng Đêm”, “Gia Sản Dưới Ánh Trăng”, “Đêm Muôn Màu” cho thấy bút pháp của ông ngày càng điêu luyện, uyên áo, trầm mặc và có sức rung cảm mạnh mẽ. Ông vẫn mãi mãi là nhà văn độc lập và cô độc đúng như bộc bạch chân thành của mình:

“Một văn chương hoàn chỉnh chính là Một Nạn Nhân.
Một Hoàn chỉnh Văn chương là tật nguyền ráp lại.
Một thường-trực-trả-lời, trong hoàn cảnh Việt Nam hôm nay, phải là một trung-thực-chịu-nạn.
Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không hề là một hư ảo.”
(Trích Đặng Thơ Thơ phỏng vấn, damau.org, 21.03.2008)

Tôi gọi ông là nhà văn Uyên Áo Và Trầm Mặc Dị Thường giữa thời đương đại. Sức thấm đẫm và lan tỏa của văn chương Cung Tích Biền, tôi tin, vẫn còn vang vọng rất sâu xa về cái đẹp nhân văn, nhân bản trong những trang văn đầy những “Giọt máu không màu / Giọt mưa không suốt / Máu là mưa” [Thơ Cung Tích Biền] của ông.

Nguyễn Lương Vỵ
(Trích phần tổng quan)

 

NGHĨ VỀ NHÀ VĂN CUNG TÍCH BIỀN
(trích)

Tác phẩm Cung Tích Biền xuất bản khá nhiều. Văn phong khúc chiết, tư tưởng trù phú, mịt mùng như một mê cung khó cho ta lần dò vào đáy linh hồn của Nhà văn siêu thực tân phái này.

Đây là loại chữ nghĩa không dễ đọc. Nó là thế giới của ẩn ngữ, hàm dụ, của hiện thực huyền ảo. Chỉ đọc vài trang thôi, ta đã như bị Quỷ ám.

Cung Tích Biền sống trọn qua đôi bờ lịch sử, lúc thiếu thời trong vùng kháng chiến, lớn lên trong quân đội Việt nam Cộng hòa, và hơn ba mươi năm trong vòng vây xã hội chủ nghĩa. Anh sống khiêm tốn, và sáng tác khá âm thầm, miệt mài đơn độc. Nhiều người như thế đã từ lâu bỏ cuộc. Còn anh, Cung Tích Biền vẫn Sống. Sáng tác của anh chứng tỏ tinh thần và ý chí mãnh liệt, bền bỉ. Nay, Cung Tích Biền đã trải qua hầu hết cuộc đời, biết hết như cụ già Khổng Minh lúc ở lều tranh, đã viết:

“Đại mộng thùy tiên tri giác
Bình sinh ngã tự tri.”
Thời gian trôi qua mặc tình thế sự.
“Thảo đường xuân thụy túc
Song ngoại nhật trì trì!”

Đối với đời, chân giá trị là ở tâm hồn trí tuệ mình. Và cái nhân cách lưu tồn.

Văn tài nhà văn Cung Tích Biền thì không ai chối cãi được. Đọc truyện anh tôi nhớ tới lối hành văn, văn phong của Fyodor Dostoyevsky, của William Faulkner… Đọc văn anh, đôi khi phải lạnh gáy. Đó là những thiên tài, phải khó khăn lắm lịch sử mới tạo ra được.

Trần Tuấn Kiệt
[Nguồn: www.damau.org]

 

CHUYỆN Ở TRONG XỨ ĐỘNG VẬT
(trích)

Với tôi, nếu có ai hỏi: đã đọc hết, tác phẩm, tư liệu và văn liệu của Cung Tích Biền chưa mà viết? Tôi sẽ trả lời ngay: chưa. Chưa, bởi tác giả này viết nhanh, viết nhiều, viết rộng và viết khá liên tục – lên đến hàng ngàn trang.

Về chuyện viết lách, ngay sau giai đoạn rất khó khăn, Cung Tích Biền đã có mặt và đã xuất hiện trở lại, tính riêng truyện ngắn, ông đã công bố Qua Sông (1991), Thằng Bắt Quỷ (1993), và giờ đây là “tân truyện” – gồm những bản tin liên truyện có tính chất trần thuật: Xứ Động Vật (2007-2008). Cùng trong thời gian này, ông cũng viết một vài tiểu thuyết, rồi truyện dài, tùy bút, và cả tạp văn…

Nói về Cung Tích Biền, “Có người cho rằng anh đã cực đoan trong cách viết và bi kịch hóa quá mức những vấn đề xã hội.” Có người nghĩ rằng anh đã tự tra vấn chính mình bằng những bi kịch quốc gia đậm tính thời sự, tính chính trị và đẩy tác phẩm lên tầm vóc thế giới bằng cách vận dụng ngôn ngữ điêu luyện.”[15]

Theo cách đọc của riêng tôi, tác giả trong Xứ Động Vật không phải là một cây bút muốn và tìm cách “vận dụng ngôn ngữ điêu luyện”, nhưng đúng là kiệm lời. Ở đây là những mảng đời thô ráp, được kể với ngôn ngữ khá trần trụi, và được nhìn với con mắt cực kì lạnh lùng.

Xứ Động Vật là một bản tin liên truyện – và bản tin ấy liên quan đến câu chuyện của nhiều cuộc đời, với một không khí khá ngột ngạt – trong đó có cuộc đời của chính tác giả, dù trực ngôn, nhưng ẩn chứa nhiều suy tư, triết lý.

Nó như một bản tự vấn gởi đến những ai đang “thụ hưởng” chung cái không khí “rất động vật” này. Còn những ai tự thấy mình vô can, thấy mình vô tâm, hay vô tính… thì xin tránh xa ra.

Lý Đợi
La Hán Phòng tháng 3-2008

 

PHẨM TIẾT CUNG TÍCH BIỀN: NHÌN THẲNG VÀO MẶT TRỜI VÀ CÁI CHẾT
(trích)

Đặc điểm trực diện trong văn của Cung Tích Biền là tính chất mâu thuẫn, nó làm ta nghĩ đến ý niệm đi đôi về ánh sáng và bóng tối trong những thảo luận siêu hình học của Plato và Descartes.

Cung Tích Biền, thường áp dụng thể thức ngụ(y) ngôn và phản cấu trúc (deconstruction) trong sáng tác như một cách đối phó với “yếu tố lịch sử.” Cung Tích Biền, qua 40 năm viết văn, đã nhẫn tâm phân tích vận mệnh cá nhân của chính mình – cũng như của tập thể đồng bào Việt – như một cách tự giải thoát ra khỏi oan khiên. Ông đã tự “chặt khúc” từng mảnh đời mình – một hành động tương tự như khoa phân tâm học? – để soi rọi, để cho những mảnh đời này có được ý nghĩa, để cho chúng đừng bị quên lãng hay bị bóp chẹt trong làn sóng tùy thời của hệ tư tưởng đã vào ngôi.

Ý niệm tha hương của Cung Tích Biền được phản ảnh trong hầu hết những tác phẩm của ông, qua mọi khía cạnh, chính trị, xã hội, địa lý, tâm lý, và nghệ thuật. Ý niệm tha hương có lẽ đã hiện hữu trong tâm khảm nhà văn từ buổi sơ khai của cuộc Nội Chiến Bắc/Nam.

Cũng không phải tình cờ mà những truyện của Cung Tích Biền thường phát hiện ý niệm sinh đôi – khi con người, khi xã hội, khi văn hóa bị xẻ làm hai, thì phải trải qua nhiều sứt mẻ, rồi khi có sự kết hợp thành một mới trở nên hoàn hảo: mảnh gương bị nứt một đường dài, rạch hình hài cô Trinh làm đôi trong Thằng Bắt Quỷ; trong truyện Qua Sông, con sông Thu là một “cõi lưỡng nghi hỗn độn: bờ Bắc thì mờ mịt, bờ Nam tít xa ngàn dặm”; trong truyện Thừa Dư có hai anh em sinh đôi Dư và Thừa người “gãy cái chân mặt, [người] tan tành cái chân trái”; thêm hai anh em sinh đôi Tảo và Jim trong Xứ Động Vật Mưa Hồng.

Cách Cung Tích Biền khuyến khích chuyện ăn thịt người (Qua Sông), chặt từng khúc xác (Xứ Động Vật Vào Ngôi) quật mồ, ngậm xương (Xứ Đông Vật Màu Huyết Dụ), đi tìm một phần hồn bị cắt đôi (Thừa Dư, Xứ Đông Vật Mưa Hồng) là cách nhà văn muốn chúng ta hồi sinh: nhìn thẳng vào cái chết để vượt qua cái chết. Trong Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ có cảnh nhân vật Kiên ngậm xương làm người đọc nghĩ ngay đến nghi lễ chịu Mình Thánh Chúa trong đạo Công giáo.

Dưới ánh mặt trời, mớ xương đen của Cung Tích Biền dung dưỡng mọi nghịch lý trên đời: Sống-Chết, Nam-Bắc, Đông-Tây, Tối-Sáng, Bạn-Thù, Dơ-Sạch, Già-Trẻ, Trong-Ngoài, Thiếu-Thừa, Ghét-Yêu, Yếu-Mạnh…

Mớ xương đen của Cung Tích Biền là tử cung của một vũ trụ bất diệt.

Đinh Từ Bích Thúy
[Nguồn: www.damau.org]

 

CUNG TÍCH BIỀN, GIẤC MỘNG RỖNG KHÔNG
(trích)

Truyện Cung Tích Biền là những truyện viết về một thế giới không có trái tim, hoặc nếu có, chỉ có ở lớp người cùng khổ, lớp người không được sống cho ra con người. Truyện của ông đọc muốn ứa nước mắt, muốn khóc mà không khóc được, nước mắt như hóa thành giọt lệ khô.

Truyện Cung Tích Biền chiếu rọi xuống những nấc thang cuối trong xã hội loài người. Ông chịu khó sục sạo, len lỏi đến tận cùng những ngóc ngách, hẻm hốc của đời sống. Ông chịu khó lần mò đến những con hẻm lầy lội, những ngõ vắng tối tăm, những số phận đen đủi, những mảnh đời khuất lấp mà tia nắng mặt trời chẳng bao giờ soi rọi đến.

Cung Tích Biền làm công việc “tường thuật” bằng óc quan sát tinh tế và bằng cái nhìn sắc bén, không bỏ sót chi tiết nào, kể cả những góc cạnh sần sùi, thô nhám nhất, như là ống kính đặc tả chân dung của nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp.

Văn Cung Tích Biền thời chiến đã sắc, đã lạnh, thời hậu chiến càng sắc, càng lạnh hơn.

Đọc Cung Tích Biền như nhấm nháp từng ngụm café đắng nghét. Văn ông gọn ghẽ, cô đọng như những giọt café đặc quẹo nơi xứsởông đang sống. Cung Tích Biền tiết kiệm từng lời, dè sẻn từng chữ. Ông không chịu “thừa, dư” (4) một chữ, không phí phạm thì giờ để tả tình tả cảnh dông dài. Những câu, chữ ngắn, gọn, đến không thể ngắn, gọn hơn.

Văn chương Cung Tích Biền trên hết, vẫn là ý tưởng hơn là bút pháp, văn phong. Chữ nghĩa của ông chỉ để tải những ý tưởng. Văn ông ngồn ngộn, ăm ắp những ý tưởng. Nhà văn ở nơi ông là “nhà suy tưởng” [thinker].

Truyện Cung Tích Biền là những bi hài kịch thời đại, lànhững tấn tuồng dở khóc dở cười. Trong cái “bi” phẫn đến tột cùng vẫn có pha trộn chất “hài” chua cay và thâm thúy.

Không ngạc nhiên khi biết Cung Tích Biền có máu mê kịch nghệ và từng viết kịch, dựng kịch, diễn kịch từ thuở còn ngồi ghế nhà trường. Bằng thủ pháp cao tay của một nhà biên kịch, ông đã “biên tập” những tấn tuồng, hầu hết là những tấn bi kịch diễn ra trong đời thường. Đôi lúc, khá hiếm hoi, ông cũng dựng những vở hài kịch cười ra nước mắt. Văn “kịch” của Cung Tích Biền phơi bày một đời sống kịch cọt, giả trá và những con người giả hình.

Người ta nhận ra được, phía sau nhà văn Cung Tích Biền một nhà viết kịch; hơn thế nữa, nhà đạo diễn kịch “tầm cỡ”.

Cung Tích Biền có máu khôi hài lạnh. Ông viết truyện như người kể chuyện tiếu lâm thời đại, những chuyện tiếu lâm siêu thực. Ai muốn hiểu sao thì hiểu. Ai hiểu thì cười, ai không hiểu thì không cười. Ai cười thì cười, mặt mũi ông vẫn lạnh như tiền.

Đọc truyện Cung Tích Biền cần đọc kỹ, thật kỹ, để “bắt” được, hay để “phát hiện” những chuyện “tiếu lâm” ẩn tàng trong mỗi truyện. Có khi cả cái truyện là câu chuyện tiếu lâm thời đại.

Truyện Cung Tích Biền cần đọc “between the lines” hoặc “behind the lines”, cần đọc ngược, đọc xuôi, cần đào xới, lật tung các câu, chữ lên để lục soát kỹ càng xem có gì lẩn khuất phía sau những ngôn từ ấy.

Đọc truyện Cung Tích Biền là đọc đi rồi đọc lại. Đọc một lần chưa “thấy” thì đọc lần thứ hai, thứ ba… sẽ thấy hiện ra lần lần, rồi… bật ra tràng cười sảng khoái vìcâu “chuyện ‘tếu lâm’ Cung Tích Biền”. Truyện Cung Tích Biền làm như lúc nào cũng “mới”.

Ngày xưa tôi từng “chấm” Cung Tích Biền là một trong những tác giả viết truyện thời chiến hay nhất, ngày nay lại phải thêm rằng, “truyện thời bình” của Cung Tích Biền ít có ai viết hay hơn”.

Cung Tích Biền, trong buổi hoàng hôn của đời người, ông đã mày mò để hoàn thành những kiệt tác, những bức họa nhuốm “màu hoàng hôn ráng chiều đỏ máu” (1), vẽ ra buổi hoàng hôn của một thế giới đang lụi tàn.

Lê Hữu
[Nguồn: www.Damau,org]

 

Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:, , , ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: