Nguyễn Hưng Quốc: Phản Tỉnh và Phản Biện

CoverbleedPhản Tỉnh và Phản Biện, tác giả Nguyễn Hưng Quốc,
Người Việt Books, Tiền Vệ, và Văn Mới tái bản lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2014

 

Thay lời nói đầu: Phản tỉnh và phản biện

Một trong những hiện tượng nổi bật tại Việt Nam hiện nay là xu hướng toàn cầu hoá. Một trong những tác động lớn nhất của toàn cầu hoá là giúp người Việt thoát ra khỏi các luỹ tre làng và các loa phát thanh công cộng ở đầu ngõ để tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Một trong những ảnh hưởng sâu sắc nhất của việc tiếp xúc ấy là, nhờ đó, người Việt Nam sẽ tự hiểu về mình hơn. Một trong những phản ứng cần thiết và chính đáng nhất của việc tự nhận thức ấy là sự cương quyết giành lại cái quyền được suy nghĩ, được phát biểu và được đóng góp vào quá trình xây dựng đất nước vốn từ lâu đã bị nhà cầm quyền tước đoạt dưới nhiều danh nghĩa như “đoàn kết” hay “làm chủ tập thể” hay “độc lập trước đã” hay “ổn định để phát triển”, v.v..

Chính vì thế, có thể nói phản tỉnh và phản biện là hai xu thế quan trọng nhất tại Việt Nam hiện nay, ít nhất là trong giới trí thức.

Xu thế phản tỉnh gắn liền với câu hỏi “là gì” và xu thế phản biện gắn liền với câu hỏi “tại sao”, đặc biệt, “tại sao không”.

*

Cùng với câu hỏi “như thế nào”, đó là những câu hỏi phổ biến và quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại. Không có các câu hỏi ấy chắc chắn sẽ không có kiến thức. Không có kiến thức sẽ không có khoa học, và từ đó, kỹ thuật. Không có khoa học kỹ thuật sẽ không có tiến bộ. Không có tiến bộ sẽ không có văn minh. Không có văn minh sẽ không có lịch sử. Không có lịch sử, nhân loại sẽ không có quá khứ. Không có quá khứ sẽ không có . niệm về bản sắc hay căn cước, nghĩa là con người sẽ không là gì cả. Sẽ không có gì khác với các loài động vật khác.

Trong lịch sử, câu hỏi xuất hiện sớm nhất có lẽ là câu hỏi “là gì”. Triết học, nhất là triết học cổ đại vốn được xây dựng trên ba nền tảng chính: siêu hình học, đạo đức học và nhận thức luận; cả ba đều gắn liền chủ yếu với câu hỏi “là gì”: Bản chất của vũ trụ là gì? Hiện thực là gì? Ý nghĩa cuộc sống là gì? Cái tốt là gì? Cái xấu là gì? Cái thiện là gì? Cái ác là gì?

Chân lý là gì? Nghệ thuật là gì? Con người có thể biết được gì? Tiêu chuẩn để phân biệt đúng/sai là gì? Vấn đề mà Socrates cho là quan trọng nhất, “biết mình”, cũng gắn liền với câu hỏi “là gì”: Bản thể con người là gì? Những định nghĩa phổ quát (universal definition) làm tiêu chuẩn cho Sự thực và sự Công chính là gì? Khi Descartes chủ trương hoài nghi tất cả, ông cũng băn khoăn, trước hết, với câu hỏi hiện hữu là gì? Và cái thực là gì? Có thể nói câu hỏi “là gì”, vốn mang tính bản thể luận, xuất phát từ nhu cầu và tham vọng định nghĩa bản thân mình cũng như thế giới bên ngoài và bên trong mình. Lịch sử tự nhận thức của nhân loại, ở một mặt nào đó, có thể nói là lịch sử những cuộc truy tầm mải miết những câu hỏi “là gì” ấy. Hỏi rồi lại hỏi. Chấp nhận rồi lại hoài nghi. Cứ thế, liên tục. Đời này sang đời khác.

Trong khoa học, câu hỏi “là gì” cũng rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn có lẽ là câu hỏi “tại sao”: sau khi nhận diện vấn đề hay sự kiện, các nhà khoa học nỗ lực tìm kiếm nguyên nhân chủ yếu qua con đường duy lý (rationalism) hoặc con đường thực nghiệm (empiricism). Tại sao con người sinh ra? Tại sao con người bị bệnh? Tại sao con người chết?

Tại sao mặt trời mọc vào buổi sáng và lặn vào buổi tối? Tại sao mặt trăng có lúc tròn lúc khuyết? Tại sao nắng? Tại sao mưa? Tại sao trái táo lại rơi xuống đất? Tại sao chim bay được? Tại sao nước chảy xuôi và sôi khi được đun nóng? v.v…

Trả lời những câu hỏi tại sao ấy, chúng ta nắm bắt được cấu tạo, quy luật và nguyên tắc vận hành của tự nhiên, những điều làm nên cái chúng ta gọi là kiến thức khoa học. Trên cơ sở các kiến thức thu nhận được ấy, người ta đặt ra những câu hỏi khác xoay quanh mấy chữ “như thế nào”, từ đó, kỹ thuật được ra đời và phát triển.

Câu hỏi “tại sao không” chắc chắn ra đời muộn hơn. Nó được đặt trên ba tiền đề chính: một, sự hiện hữu của một cái gì đó đã được công nhận; hai, sự hiện hữu của cái quyền được nói không; và ba, sự hiện hữu của một cái gì khác có khả năng thay thế cái hiện đang có. Ba tiền đề ấy đều có tính lịch sử: chúng được hình thành trong một giai đoạn nào đó với những điều kiện nhất định. Về phương diện nhận thức, số không là một phát hiện cuối cùng, sau các con số khác, từ 1 đến 9. Về phương diện văn hoá, quyền nói “không” gắn liền với quyền được từ chối và quyền được lựa chọn, nghĩa là gắn liền với ý niệm dân chủ. Bởi vậy, nếu câu hỏi “là gì” có tính bản thể luận (ontological), câu hỏi “tại sao” có tính chất nhận thức luận (epistemological), câu hỏi “như thế nào” có tính kỹ thuật, câu hỏi “tại sao không” có ý nghĩa chính trị rõ rệt. Nó nảy sinh từ ý thức về tự do và, ngược lại, nó có chức năng nuôi dưỡng và phát huy tự do.

Chúng ta là những cây sậy biết tư duy nếu chúng ta biết đặt những câu hỏi “là gì”; là những con người văn minh nếu biết đặt câu hỏi “tại sao”; là những con người hiện đại nếu biết đặt câu hỏi “như thế nào”, nhưng chúng ta chỉ thực sự là những người tự do nếu chúng ta biết và được quyền đặt câu hỏi “tại sao không”.

*

Hỏi “tại sao không” là bắt đầu phản biện.

Tôi không biết ở Việt Nam chữ “phản biện” xuất hiện từ lúc nào và ai là người đầu tiên dùng chữ ấy. Tôi chỉ đoán là nó có lịch sử không lâu lắm. Và nó được ra đời, trước hết, không phải trong lãnh vực chính trị, bởi, trước khi nó trở thành thịnh hành với những trang báo mạng kiểu Bauxite Việt Nam với tiêu đề “Tiếng nói phản biện nhiều mặt của người trí thức” thì nó đã được sử dụng khá nhiều trong lãnh vực giáo dục với những “giáo sư phản biện” và “Hội đồng phản biện”.

Tôi rất thích cái chữ phản biện ấy.

Phản biện là dùng lý lẽ để chống lại một cái gì đó. Ở đây có hai điểm: chống và lý lẽ. Như vậy, sự chống đối ở đây chỉ dừng lại ở phạm vi tư tưởng và học thuật. Nó không có tính bạo động và cũng không nhắm đến bạo động. Những lời cáo buộc mà một số chính quyền độc tài thường sử dụng đối với những người phản biện chỉ là một lối vu khống.

Hơn nữa, “cái gì đó” trong định nghĩa trên không phải bao hàm con người hay sản phẩm (bất kể loại gì) của con người. Phản biện khác với chỉ trích: Chỉ trích nhắm vào người. Phản biện cũng khác với phê bình hay phê phán: Ở cả hai từ này, đối tượng có thể là người mà cũng có thể là vật thể (ví dụ tác giả và tác phẩm của họ).

Phản biện chủ yếu là chống lại một luận điểm. Nhưng phản biện lại khác với biện bác. Biện bác nhắm, trước hết, đến sự bác bỏ. Biện luận để bác bỏ. Sự bác bỏ là chủ đích, là mục tiêu duy nhất. Nó có tính cách tiêu cực. Người ta nói hay hay dở, đúng hay sai mặc kệ: người biện bác chỉ khăng khăng tìm cách phủ nhận. Phản biện thì khác. Nó chống đối một luận điểm bằng cách đề xuất một cách nhìn hay một góc nhìn khác để, thứ nhất, người bị phản biện phải cố gắng chứng minh quan điểm của mình là đúng đắn nhất, và thứ hai, để mọi người có thể lựa chọn.

Như vậy, phản biện được xây dựng trên tinh thần đối thoại, và do đó, có tính tích cực và xây dựng. Có thể nói mục tiêu đầu tiên của phản biện không phải là bác bỏ (như trong biện bác) hay đả kích (như trong chỉ trích) hay tìm khuyết điểm (như trong phê phán) hoặc cả khuyết điểm lẫn ưu điểm (như trong phê bình). Mục tiêu chính của phản biện là thúc đẩy mọi người cân nhắc lựa chọn cái tối ưu.

Mục tiêu thứ hai của phản biện là buộc đối tượng bị phản biện phải tăng cường sự thuyết phục cho các quan điểm của họ. Họ phải chứng minh là họ đúng hơn. Muốn chứng minh như thế, họ cần ít nhất hai điều:

Thứ nhất là minh bạch: Họ phải nêu đầy đủ các luận cứ và luận chứng để biện hộ cho luận điểm của họ. Ví dụ: liên quan đến vấn đề khai thác bauxite ở Việt Nam, người ta cần phải chứng minh các dự án ấy là có lợi, hoặc ít nhất, không có hại gì về các phương diện quốc phòng (chủ yếu trong quan hệ với Trung Quốc, nước đầu tư chính vào các dự án ấy), môi trường (để không xảy ra tai nạn lũ bùn đỏ như ở Hungary), xã hội (không làm rối loạn đời sống của cư dân địa phương), và kinh tế (liên quan đến vấn đề giá thành và lợi nhuận), v.v…

Chứng minh chứ không phải là khẳng định hay hứa hẹn suông.

Thứ hai là phải duy lý hoá: Đối diện với sự phản biện, tức sự chống đối bằng lý lẽ, người ta phải sử dụng lý lẽ để tự vệ.

Đây chính là lý do khiến ở Tây phương, người ta thường khuyến khích học sinh và sinh viên tập trung rèn luyện kỹ năng phản biện bằng cách thường xuyên phản biện lại các luận điểm không những của người khác mà còn của chính mình trong các bài luận văn mình đang viết. Kỹ năng phản biện này thường được gọi là counter-argument.

Về phương diện chính trị và xã hội, với hai mục tiêu (tìm cái tối ưu và thuyết phục) cũng như hai yêu cầu (minh bạch và duy lý) nêu trên, phản biện rõ ràng là một điều cần thiết không những để tránh những chính sách sai lầm mà còn để thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và duy lý hoá, tức, nói chung, quá trình hiện đại hoá của đất nước.

Phản biện, do đó, là trách nhiệm của trí thức.

*

Tất cả những sự phản tỉnh và đặc biệt, phản biện ấy chỉ có ý nghĩa khi nó gắn liền với quyền tự do ngôn luận.

Trong các quyền của con người, quyền tự do ngôn luận là điều tôi quan tâm nhất. Lý do, một phần, có lẽ vì tôi là nhà văn; phần khác, quan trọng hơn, theo tôi, không có tự do ngôn luận, rất nhiều quyền tự do khác sẽ trở thành vô nghĩa. Chẳng hạn, có thể nói đến tự do tư tưởng mà lại không có tự do ngôn luận được không? Tư tưởng là cái gì cần được bộc lộ và chia sẻ. Nghĩ ngợi sâu xa đến mấy mà không được quyền mở miệng ra nói với ai thì có tư tưởng để làm gì? Ngoài ra, không được tự do ngôn luận liệu có thể có tự do trong văn học nghệ thuật hay trong chính trị được không? Chắc chắn là không.

Thiếu tự do ngôn luận, trong văn học, người ta chỉ có thể gặp những con vẹt; trong xã hội, chỉ gặp một đám câm điếc, và trong chính trị, chỉ gặp một bầy cừu.

Nhớ, sau năm 1975, quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam bị giới hạn đến độ người ta không những không dám viết thật mà còn không dám nói thật với bạn bè những điều mình nghĩ nữa. Ngay trong giới sinh viên, nói năng bao giờ cũng đầy cảnh giác. Một câu nói đùa, với bạn bè, ngoài hành lang, cũng có thể bị báo cáo và có thể bị mang ra kiểm điểm trong chi hội, chi đoàn hay chi bộ. Nói năng ngoài các quán cà phê hay quán nhậu lại càng nguy hiểm. Ở đâu cũng có công an nhỏng tai lên nghe ngóng. Có lần, vào một tiệm hớt tóc ở Phú Nhuận, tôi thấy ai đó viết hai câu thơ trên bức vách: “Ở đây tai vách mạch rừng / Nói năng cẩn thận, xin đừng ba hoa”.

Trên thực tế, không hiếm người bị ở tù nhiều năm vì những sự ba hoa như thế.

Sau phong trào đổi mới từ giữa thập niên 1980, tình hình khá hơn nhiều. Lần đầu tiên về lại Việt Nam năm 1996, tôi ngạc nhiên thấy bạn bè mình, cả bạn cũ lẫn bạn mới, vừa khề khà uống bia vừa cười cợt chế độ một cách hể hả. Khác hẳn với ngày trước, lúc tôi chưa vượt biên. Nhưng sự thay đổi chỉ dừng lại ở đó. Ở các quán nhậu. Giữa bạn bè. Cái gọi là tự do ngôn luận ấy chỉ giới hạn ở một hình thức: xuất bản miệng.

Nói thì được còn viết thì không. Đó là thứ luật lệ bất thành văn mà hầu như ai cũng biết. Và hầu hết đều dừng lại ở cái giới hạn ấy. Tức tối điều gì ư? Thì cứ chửi toáng lên. Bất mãn điều gì ư? Thì cứ phê bình, chỉ trích thả cửa. Nhưng đừng viết. Nếu viết thì đừng công bố ở đâu cả. Công bố là bị bắt, hay ít nhất, bị trù dập ngay tức khắc.

Một thứ tự do như vậy không thể gọi được là tự do. Tự do ngôn luận thực sự không thể giới hạn trong hình thức phát biểu: Nó phải bao gồm cả nói, từ nói ở chỗ riêng tư đến những chỗ công cộng, đến viết và công bố, từ trên sách báo đến trên mạng. Tự do ngôn luận thực sự không thể bị giới hạn trong phạm vi đề tài: Nó phải bao gồm quyền tự do phát ngôn về mọi vấn đề, kể cả về chính trị. Tự do ngôn luận thực sự cũng không thể bị giới hạn ở mức độ: Nó phải dung hợp cả sự phê phán và đả kích. Tự do ngôn luận cũng không thể bị giới hạn ở hoạt động: Nó phải bao gồm cả ba yếu tố, từ việc tìm kiếm đến việc tiếp nhận và tham gia phát tán thông tin cũng như ý tưởng.

Với cách nhìn như thế, không ai có thể nói là Việt Nam đã có tự do ngôn luận. Người Việt Nam biết rõ điều đó. Cả thế giới cũng biết rõ điều đó. Kết quả các cuộc điều tra về nhân quyền trên thế giới đều ghi nhận: Việt Nam không hề có tự do ngôn luận.

Báo chí và xuất bản thì đều nằm hết trong tay nhà nước. Nhà nước kiểm soát từ A đến Z. Internet cũng bị kiểm soát.

Đầu năm 2010, báo cáo của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Sans Frontières) nêu tên Việt Nam trong danh sách “những kẻ thù của internet”. Những nước đứng đầu gồm có: Trung Quốc, Việt Nam, Iran, Bắc Hàn, Cuba, Miến Điện, Saudi Arabia, v.v.. Trong danh sách ấy, Việt Nam “được” đứng vào vị trí thứ nhì với 17 người bị bắt vì những phát ngôn đòi hỏi tự do trên internet, chỉ đứng sau Trung Quốc nơi có 72 người bị bắt, và trên Iran với 13 người. Đầu năm 2011, trong một buổi nói chuyện về tự do ngôn luận và internet tại Đại học George Washington vào ngày 15 tháng 2, ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary R. Clinton, nêu đích danh Việt Nam – cùng với Trung Quốc, Miến Điện, Cuba và Iran – là nơi internet bị kiểm soát nghiêm ngặt.

Trong một không khí chính trị ngột ngạt như thế, phản biện là một điều cần thiết. Để vạch trần những sự dối trá. Để nhìn thẳng vào sự thật, từ đó, với bản thân mình, được làm một trí thức độc lập, và với đất nước, được đóng góp một chút gì đó.

Ít nhất một tiếng nói.

Nguyễn Hưng Quốc

  • GS Nguyễn Hưng Quốc – Ảnh: Uyên Nguyên
Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:, , ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: