Vũ Ngự Chiêu & Hoàng Ðỗ Vũ – Nhục Hận Biển Đông Nam Á: Kiện Hay Không Kiện (sắp xuất bản)

KIEN HAY KHONG KIEN COVER quyen motTác phẩm Nhục Hận Biển Ðông Nam Á – Kiện hay không kiệnHợp Lưu xuất bản, 2015

11012884_841719149248797_3138774177431596682_n

Ðặng Hiền

Sau một thời gian khá dài tạm ngưng xuất bản báo in của Hợp Lưu, chúng tôi quyết định sẽ theo chiếu hướng phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật truyền thông, để tái bản Tạp Chí Hợp Lưu in, đồng thời phát động việc ấn hành các tác phẩm có giá trị của các học giả và tác giả ngoài cũng như trong nước.

Tác phẩm được chọn để mở đầu hoạt động của Nhà Xuất Bản Hợp Lưu là biên khảo mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu và Bà Hoàng Đỗ Vũ, về một đề tài sôi động dư luận suốt bốn thập niên qua, tức vấn đề “tranh chấp biển đảo” Đông Nam Á. Nghiên cứu nặng về khía cạnh pháp lý này đã được sơ thảo năm 1999, bằng Anh ngữ, tức tiểu luận về khía cạnh Nhân Quyền trong bang giao Liên Bang Mỹ và Việt Nam từ 1975 tới 1995. Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu và bà Hoàng Đỗ Vũ cũng đã nhận học bổng Fulbright của Bộ Ngoại Giao Mỹ du khảo Việt Nam trong niên khóa 2004-2005, nghiên cứu về khía cạnh pháp luật của kế hoạch đổi mới (1986 tới hiện tại), đồng thời có dịp làm việc, thăm viếng từ bắc chí nam, qua sự trợ giúp của Đại học Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh—tức Đại học Văn Khoa cũ của Sài Gòn, nơi Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu đã tốt nghiệp bằng Cử Nhân Giáo Khoa Triết Đông năm 1974, mặc dù đã bị động viên, tái ngũ sau cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968.

Phần thứ hai của tác phẩm này là một nghiên cứu về tham tâm xâm chiếm Đại Việt của nhà Minh (1368-1644), đổi tên nước ta thành Giao Chỉ Đô thống sứ ti (5/7/1407-2/1/1428). Dựa trên tư liệu Trung Hoa, đặc biệt là Minh thực lục [Ming shi-lu], cùng các bộ quốc sử Lê, Tây Sơn và Nguyễn, Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu tóm lược những kỷ niệm buồn vui của hơn 20 năm chiến tranh kháng Minh (1407-1428), cùng thí nghiệm “đô thống sứ ti” [dutong tusi] mà nhà Minh đã áp dụng ở Đại Việt, cho tới năm 1647, khi Chu Do Lang, tức Minh Quế Vương, phong Thái thượng Hoàng Lê Thần Tông (1619-1643, TTH 1643-1649, 1649-1662) làm An Nam Quốc Vương, và rồi 20 năm sau, 1667, Ải Tân Giác La Huyền Hoa (Khang Hy, 1661-1722) nhà Thanh cũng phong Lê Huyền Tông (1662-1671) làm An Nam Quốc Vương, trả lại quốc thống cho vua chúa Việt. Trong bài phúng điếu Quang Trung, Ải Tân Giác La Hoằng Lịch (Càn Long, 1735-1796) cũng giúp khẳng định về tục lệ cống tượng người vàng [kimren] khoanh tay, cúi đầu mà vua Minh bắt các vua An Nam phải cống lễ, cùng với số quí kim vàng bạc lên tới 5,000-10,000 lạng (187 kilograms 500 tới 375 kg) mỗi năm. Trong nghiên cứu mới nhất này, sử gia Vũ Ngự Chiêu đã dùng phương pháp tỉ đối nhiều nguồn tư liệu gốc, trả lại sự thực cho lịch sử dân tộc. Đặc biệt, tác giả dành phần kết luận cho độc giả và hậu thế, hơn tiếm đặt những kết luận mà mỗi công dân Việt cần tự suy gẫm, tìm hiểu cho mình. Kết luận cần thiết vì tình trạng địa lý-chính trị giữa Việt Nam với Trung Hoa—hai nước láng giềng, nhưng nhỏ lớn khác nhau, và tham vọng làm chủ cả vũ trụ của Hán tộc. Chúng tôi cũng sẽ phổ biến những sáng tác văn chương có giá trị, với niềm tin không thể có sự trói buộc phi nhân, vô lý nào quyến tự do được sáng tác, và tự do thông tin.

Đa tạ sự yểm trợ của quí vị độc giả cùng văn thi hữu suốt hơn hai thập niên qua. – Tạp Chí Hợp Lưu

VNC 4

Vũ Ngự Chiêu

DẪN NHẬP: Viết về liên hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa hiện nay, rất tế nhị và khó khăn, vì không chỉ có liên hệ giữa hai nước láng giềng, mà còn những ràng buộc giữa hai đảng “Cộng Sản,” ít nhất từ năm 1938, khi Nguyễn Sinh Côn (Linov, tức Hồ Chí Minh, 1892-2/9/1969) được Quốc Tế Cộng Sản [QTCS, Comintern] gửi về Diên An.

Chúng tôi nghĩ thuật ngữ “Communism” của Karl Marx—vốn chỉ có nghĩa “công hữu trong xã hội nguyên thủy”—đã bị nhóm Chen Doxu [Trần Độc Tú] và Li Dachao [Lý Đại Chiêu] dịch sai thành “Cộng Sản” [gongshan hay gongchan]. Họ cũng dịch tên Karl Marx thành Mã Khắc Tư, và năm 1919 lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mã Khắc Tư, tiền thân Đảng Cộng Sản Trung Hoa [THCSĐ]. Tháng 11/1945, giữa lúc hiểm họa liên quân Pháp và Bri-tên tài xâm chiếm phía nam vĩ tuyến 16 dưới chiêu bài Đồng Minh, và Pháp đang điều đình với chính phủ Tưởng Giới Thạch (Chang Kai-shek) để tiến ra bắc, “tước vũ khí quân Nhật,” Ban Chấp Ủy trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương [CSĐD] loan tin đã họp ngày 5/11/1945, “nghị quyết tự động giải tán Đảng CSĐD [từ ngày 11/11/1945]. Những tín đồ của Chủ nghĩa CS muốn tiến hành việc nghiên cứu chủ nghĩa, theo Cờ Giải Phóng, cơ quan ngôn luận vủa Đảng CSĐD, sẽ gia nhập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư ở Đông Dương.” Đặng Xuân Khu (Trường Chinh, 1909-1988), đương kim tổng bí thư, làm Tổng thư ký.[1] Việc giải tán Đảng CSĐD này, theo Nguyễn Sinh Côn, nhằm mục đích “hợp tác tinh thành” với các đảng phái khác, hầu thiết lập một chính phủ liên hiệp kháng chiến đầu năm 1946, và bầu cử Quốc Hội, đặt xuống những nền tảng pháp lý.[2] Thực sự, các phe phái Việt Nam đã bị quan tướng Quốc quân Trung Hoa và đại diện Pháp áp lực, khuyến khích ngồi lại với nhau sau khi Tưởng Giới Thạch quyết định nhường quyền kiểm soát phía bắc vĩ tuyến 16 cho Pháp (Hòa ước Trùng Khánh [Chongqing], 28/2/1946) và phụ bản quân sự tháng 4/1946 để tập trung đánh Cộng. Theo vài nhân chứng, kể cả Võ Nguyên Giáp, tức Võ Giáp (1911-2013), Tư lệnh Hà Nội là Chu Phúc Thành cùng Tiêu Văn, cố vấn chính trị, đã từng tạm giữ Côn trọn một ngày để điều tra về vụ ám sát một Pháp kiều. Cuối cùng, Côn được phóng thích, nhưng tài xế và xe bị giữ lại. Một lãnh tụ Việt Cách, từng cầm đầu một phe Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải ngoại ở Côn Minh nhưng đã bí mật ngả theo Cộng Sản từ thập niên 1930, đang vận động tranh cử ở Thái Bình cũng bị gọi về Hà Nội, giam giữ, tra khảo và mớm cung, trút trách nhiệm cho Linov Côn cùng Võ Giáp. Nhờ vậy, đầu năm 1946, một chính phủ liên hiệp ra đời, rồi đến một Quốc Hội mà các phe phái ngầm thỏa thuận về số dân biểu. Phe Việt Cách của Nguyễn Hải Thần, và Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh (tức liên Minh Đại Việt Quốc Dân Đảng trong nước và Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải Ngoại, từ Trung Hoa về, hay từ ngục tù, Côn Đảo ra) được tặng không 70 ghế đại biểu Quốc Hội, và bốn ghế bộ trưởng. Nguyễn Sinh Côn cùng các lãnh tụ đối lập như Vũ Hồng Khanh cũng ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt ngày 6/3/1946 và Phụ bản quân sự 3/4/1946, đồng ý cho Pháp thay thế Quốc quân Trung Hoa, đổi lấy điều kiện mông lung như “một quốc gia tự do trong Liên Hiệp Pháp,” được duy trì một quân đội riêng, và Pháp hứa sẽ rút quân khỏi Việt Nam trong năm [5] năm—những điều kiện mà Linh Mục Cao Ủy Georges Thierry d’Argenlieu kết tội là vượt qua quyền ủy thác của Đô Đốc, nhưng vì nhu cầu đổ bộ lên miền bắc trước ngày đệ nhất chu niên chiến dịch Meigo (9-14/3/1945), d’Argenlieu tìm đủ cách xé bỏ tạm ước, và hoàn trả Paris Tướng Philippe M Leclerc de Hautecloque, Raoul Salan, cùng Ủy viên Cộng Hòa Bắc Kỳ Jean Sainteny (Roger).[3] Tháng 9/1946, Nguyễn Sinh Côn cũng mang việc giải tán Đảng CSĐD ra để “đánh lừa” Đại sứ Mỹ ở Paris rằng mình và chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến của VNDCCH không phải là Cộng Sản. Mặc dù an ninh Mỹ chưa tìm ra những bằng chứng cụ thể về liên hệ giữa Nguyễn Sinh Côn cùng Quốc Tế Cộng Sản trong giai đoạn này, (và thực ra Josef Stalin chẳng mấy thiết tha, và tới đầu năm 1950 mới miễn cưỡng cho Mao Trạch Đông [Mao Ze-dong] sử dụng Côn) nhưng ngày 9/9/1946, Bộ Ngoại Giao Mỹ cho Tổng Lãnh sự Sài Gòn Charles S Reed biết có tin Liên Sô Nga đã chỉ thị Đảng Cộng Sản Pháp gửi cán bộ qua huấn luyện Việt Minh. Ngoài ra, cơ quan tình báo Pháp báo động về sự hiện diện của cán bộ Cộng Sản Trung Hoa tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Hải Phòng, và ngay cả Hà Nội.

Trong khi đó, hội nghị Fontainebleau giữa Pháp và VNDCCH ngừng họp từ ngày 9/9/1946. Tình thế căng thẳng đến độ ngay một tuyên cáo chung dự trù công bố ngày 10/9/1946 cũng không đạt được. Bởi vậy, ngày 11/9/1946, Nguyễn Sinh Côn bí mật gặp Đại sứ Mỹ Jefferson Caffery ở Paris để nhờ can thiệp, và ngay tối đó, được Đệ nhất thư ký Tòa Đại sứ là George A Abbott tiếp xúc, tìm hiểu lập trường Côn.[4]

Hôm sau, có sự can thiệp của Caffery hay không, Bộ trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet (đã biết Nguyễn Sinh Côn tại Paris từ thập niên 1920) quyết định cứu vãn tình hình, tiếp tục đích thân thảo luận bí mật với Nguyễn Sinh Côn (từ tháng 7/1946 theo đề nghị của Côn ngày 22/7/1946) rồi đồng ý ký Tạm ước [Modus vivendi] 14/9/1946 cùng Tuyên Cáo Chung. Thực ra, đây chỉ là một phần nước trộn lẫn đất cát cố gắng gạn vét từ một ly nước đổ để lập lại nguyên tắc của Hiệp ước Sơ bộ 6/3/1946, với lời hứa đình chiến tại Nam Bộ từ ngày 30/10/1946, phóng thích tù binh, và sẽ nối lại thương thuyết từ tháng 1/1947. Đáng chú ý là Côn đã nhấn mạnh muốn về nước ngày 14/9, và chiều đó Moutet đã làm phiếu trình chính phủ Georges Bidault về Tạm Ước 14/9/1946. Chẳng hiểu tại sao có tin đồn nửa đêm 14/9 Côn mới chịu chấp nhận điều kiện của Moutet dù Bộ Chính Trị đã yêu cầu Côn đừng nên ký bất cứ thứ gì, và Moutet không muốn đặt lên đĩa bạc ân sủng của nước Pháp, vì chưa thấy cần thiết phải giao trả lại Nam Bộ, và quan tâm đặc biệt đến cái gọi là “bạo lực cách mạng” của Đảng CSĐD. Ngoài ra, một nhóm đại diện các nhà kỹ nghệ và thương gia làm ăn ở Đông Dương cũng bí mật thương thuyết với chuyên viên kinh tế của phái đoàn VNDCCH, nhưng không đạt được kết quả nào.[5] Thái độ ương ngạnh của Linh Mục/Cao Ủy Georges Thierry d’Argenlieu, với sự yểm trợ của Tướng Charles de Gaulle, được coi như nỗ lực phá hủy mọi ảo vọng của Nguyễn Sinh Côn. Và, các quan tướng Pháp như Jean Valluy đều hăm hở vén cao tay áo, sửa soạn chiến xa, phi cơ, tàu chiến cùng Nhảy Dù, Lê Dương, Biệt kích chờ đợi đuổi Côn khỏi Bắc Bộ Phủ Hà Nội, lang thang trong rừng núi—giống như Liên quân Bri-tên, Pháp và tù binh Nhật đã đuổi Lâm Ủy Hành Chánh và Kháng Chiến Nam Bộ của nhóm Hoàng Quốc Việt (tức Quận thọt Hà Bá Cang), Trần Văn Giàu, và Phạm Văn Bạch khỏi Sài Gòn trong dịp cuối tuần 22-23/9/1945. Tướng Bri-tên Douglas D Gracey, Tư lệnh Sư đoàn 20 Gurkha (da đen), được đích thân Tướng Slim, người cầm đầu lục quân Bộ Tư lệnh Đông Nam Á, chọn làm Tư lệnh lực lượng Liên Hiệp Quốc giải giới quân Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16, từng lạnh lẽo cho lệnh Thống chế Terauchi, cựu Tư lệnh Lộ Quân Miền Nam, phải dời chỗ ở từ Đà Lạt xuống Sài Gòn, chỉ huy tù binh Nhật bắn vào dân An-nam-mít, nếu cần, để sớm vãn hồi trật tự theo kiểu Pháp—và, công khai đe dọa vấn đề hồi hương của quân Nhật sẽ tùy thuộc vào sự hợp tác với “Đồng Minh.” Hồ sơ mật về những buổi họp của Ủy Ban Đón Tiếp Đồng Minh tại Sài Gòn, cùng những lệnh bắt Nhật đưa đại diện Lâm Ủy Hành Chính tới bàn Hội nghị, giải thích rõ ràng tại sao đã xảy ra những vụ cướp bóc và bạo lực ở Tân Định do Bình Xuyên chủ xướng.[6]

Chuyến qua Pháp từ ngày 30/5 tới 16/9/1946, mà Côn [Hồ] đóng vai một quốc trưởng, hy vọng thuyết phục thế giới về chính nghĩa độc lập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] (1945-1976) thất bại, vì Linh mục/Cao Ủy Thierry d’Argenlieu và nhóm Gaullist chỉ coi “Hồ” như lãnh tụ một Ðảng, và lãnh thổ Việt Nam không quá vĩ tuyến 16, trừ thêm các khu tự trị cho sắc tộc ở thượng du Bắc Việt (Mường, Thái, Nùng, Mèo [H’Mong) cùng vùng rừng núi phía tây Trung Kỳ (Chàm, Ê-đê hay Rhadé, Gia Lai hay Jirai, Hrê). Đáng sợ hơn nữa, Thierry d’Argenlieu quan niệm rằng mọi hòa ước chỉ có tính cách giai đoạn, sẽ bị xóa bỏ, khi bước sang một giai đoạn mới. Trong hồi ký cuối đời, Raoul Salan từng gọi cấp chỉ huy cũ của mình là “Monsieur Vilain” [Ông Đê Tiện].

Thierry d’Argenlieu và phe nhóm muốn tìm một giải pháp khác Hồ Chí Minh—như tái lập cựu hoàng Duy Tân (1907-1945), đã bị giáng xuống thành Hoàng tử “Vĩnh Sang,” đầy sang Réunion, châu Phi, mới được phong cấp Chuẩn úy, đưa sang Paris theo đơn xin và sự vận động của các viên chức thuộc địa. Nhưng tai nạn phi cơ ngày 26/12/1945 khiến “lá bài bí mật” của de Gaulle tan biến như một giấc mơ đẹp. Cố vấn chính trị Léon Pignon cùng d’Argenlieu—phần nào do sự gợi hứng của Khâm sứ Vatican Antonin Drapier ngả sang ý muốn tái lập cựu hoàng Nguyễn Vĩnh Thụy (Bảo Đại, 1926-25/8/1945) với sự phò trợ của Ngô Đình Diệm (21/7/1897-2/11/1963), con bài “Công Giáo,” xuất thân từ một gia đình hai đời vui hưởng “bát cơm bảo hộ Pháp,” thích dùng cây trúc như một biểu hiệu quân tử, nhưng bị nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1908-1963) lên án là “sẽ làm mất nước vào tay Cộng Sản.” Ông vua thứ 13 nhà Nguyễn đã được Linov Côn thả sang Trung Hoa tị nan từ tháng 3/1946, rồi tạm trú ở Hong Kong với một vũ nữ, dưới sự bao bọc của Hội truyền giáo Hong Kong và một điệp viên bí danh Yolle, qua trung gian Lưu Bá Đạt, một cựu nhân viên Ngân hàng Đông Dương người Việt gốc Hoa ở Đà Nẵng, thân thiết và bạn đồng tù của Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Tài chính của VNDCCH, cùng nhiều lãnh tụ cách mạng Việt Nam hay các giáo phái miền nam.[7]

  1. Chủ thuyết “Đông Phương Hồng” Mao Trạch Đông (Mao Nhuận Chi, 1898-1976) [Maoism] là một thứ chow mein trộn lẫn những mảnh vụn dã sử tiểu thuyết Tam Quốc Chí, Thủy Hử với kiểu mẫu công nhân vô sản [proletariat] của thế kỷ XIX, cùng nông dân “nghèo và trắng như tờ giấy, có thể viết bất cứ chữ gì trên đó.” Ngày còn trẻ, Marx từng ví nông dân như một bị khoai [a bag of potatoes] của cách mạng. Tuy nhiên, thuyết duy vật, đan kẽ với sự nghèo khổ và đè nén, bóc lột triền miên của những xã hội quân chủ chuyên chế, chậm tiến kiểu Trung cổ Á châu đã khiến Đảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] cầm quyền được 70 năm, và Đảng CSTH, 66 năm. Hơn nữa, áp lực Trung Cộng xiết tới gân cốt, khiến khó vẫy vùng. Nghiên cứu Mao’s China (1977) của Giáo sư Maurice Meisner, là một nghiên cứu xuất sắc về giai đoạn này. Vì vị thế bất đối xứng giữa Hà Nội và Bắc Kinh, đã nẩy sinh những thuật ngữ “bandwagoning v/s hedging” để xếp loại sự “hợp tác toàn diện, 16 chữ vàng” với sự đề phòng, cảnh giác âm thầm qua hàng rào quyền lợi quốc gia cùng kinh nghiệm lịch sử. Riêng trường hợp Việt Nam, ảnh hưởng của 1,000 năm chiếm đóng “cơ mi” và 900 năm “thông hiếu” theo qui luật xã hội đen, pha trộn với men rượu hồng “thiên mệnh” cần được nghiên cứu kỹ càng hơn, trên những văn bản của hai nước. Hai mẫu người “Hảo Hán tử” của tiểu thuyết và phim ảnh kiếm hiệp Trung Hoa cần được xếp bên những Hoa kiều lang thang mua “đồng nát,” hay những trùm tài phiệt như “Hui Bon Hoa,” hãng sản xuất bột giặt bằng vôi sống, hay tung vào thị trường hàng tấn thực phẩm lên men thối, sinh độc, cùng những đồ chơi cho trẻ nhỏ mang đủ loại vi khuẩn ô nhiễm. Từ cuối thập niên 1990 còn xuất hiện thêm những đòi hỏi “lãnh địa” hay “tô giới” tại những khu khai thác quặng mỏ bauxite ở Cao nguyên Trung Bộ hay phía tây Hà Tĩnh, khiến gợi nhớ khu kỹ nghệ gang thép Thái Nguyên trước đó. Chuyện khó tin, nhưng có thực: Các đại sứ toàn quyền Trung Cộng trên thực chất là những Đạt lỗ xích thời Nguyên, hay Bố chính sứ ti và Án sát sứ ti thời Minh—trực tiếp và lạnh lùng ngăn cản người Việt bầy tỏ long yêu nước, thương nòi, kể cả biển đảo. (Thật đáng khuyến khích khi thấy Bộ trưởng Công An, Ủy viên Bộ Chính Trị, Đại tướng Trần Đại Quang cho phổ biến trên website của mình, tháng 8/2015, bài của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, kêu gọi cần bảo vệ biển Đông Nam Á, biên giới Hoa-Việt, Cao nguyên Trung Bộ và biên giới Tây Nam. Người ta tự hỏi liệu Đại Hội Đảng thứ XII sắp tới, và Quốc Hội Việt Nam có dám ra Nghị Quyết về biển đảo hay chăng? Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi về đâu? Chủ tịch Trương Tấn Sang? Và, Đại tướng Phùng Quang Thanh? Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh thay đổi về nhân sự chưa hẳn mang lại thay đổi chính sách. 70 năm hiện hữu của chế độ “Cộng Sản” Việt Nam khiến không thể không thận trọng khi thẩm giá về thay đổi nhân sự.)
  2. Từ đầu năm 1950, dư luận thế giới mới biết đến thứ “ngoại giao nhân dân,” hay giữa hai đảng CSTH và CSVN; nhưng khối văn chương cổ điển chiến tranh lạnh chưa thể nói đúng và đầy đủ sự lệ thuộc của Nguyễn Sinh Côn vào Zhongnanhai [Trung Nam Hải], nơi đặt ban thường vụ Bộ Chính Trị Đảng CSTH, cùng Quân Ủy Trung Ương Giải Phóng Quân—qua cố vấn chính trị Luo Guibo [La Quí Ba], và phái bộ cố vấn quân sự do Wei Guoqing [Vi Quốc Thanh], người gốc Tày tức Choang ở Guangxi [Quảng Tây] chỉ huy.

Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” từ Tuyên Quang “đi bộ 17 ngày” mới tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được đón lên Bắc Kinh trong kế hoạch của Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi]. Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến cầu viện bí mật này. Những nghiên cứu “nghiêm túc” nhất suy đoán rằng “một phái đoàn” đã đến Bắc Kinh và “có thể” ký một hiệp ước ngày 18/1/1950—đúng ngày Bắc Kinh nhìn nhận VNDCCH. Ngay Ðại tướng Võ Nguyên Giáp—tên thực Võ Giáp (1911-2013)—từ năm 1994 và rồi 2001 mới đề cập đến “bạn” và chuyện cầu viện; nhưng không trưng dẫn được những phụ bản tài liệu khả tín như phóng ảnh các công điện và văn bản liên hệ.

(Võ Nguyên Giáp, Ðiện Biên Phủ [ÐBP] (Hà Nội: NXBQÐND, 2001), tr 14-17 [Stalin chỉ thị Mao giúp tổ chức 10 đại đoàn, HCM mời Trần Canh qua giúp], 32-4 [đoàn CSQS/TC], 39-42 [Trần Canh], 45–50 [Ðông Khê], 51-85 [Thất Khê, Cốc Xá], 92-5 [Trần Canh], 102-3 [viện trợ TC năm 1950], 128 [20% nhu cầu năm 1950]; Idem., Chiến đấu trong vòng vây [CÐTVV], (Hà Nội: NXBQÐND, 2001); Idem., Ðường tới Ðiện Biên Phủ [ÐTÐBP] (Hà Nội: NXBQÐND, 2001); William S. Turley, “The Military Construction of Socialism: Post-war Role of the People’s Army of Vietnam;” trong David G. Marr & Christine P. White (eds), Postwar Vietnam: Dilemmas in Socialist Development (Ithaca: SEAP, 1988), pp 195-210);

Nhân dịp tranh chấp giữa Hà Nội và Bắc Kinh trong giai đoạn 1977-1991, giới nghiên cứu được tiếp cận một số thông tin vượt ngoài dự tưởng—như Võ Giáp chỉ có công đứng ra nhận chiến công do tướng tá cố vấn quân sự Trung Cộng chỉ huy, từ chiến dịch Lê Hồng Phong II (9-10/1950) tới Ðiện Biên Phủ (1953-1954). Ðiều khiến những người thận trọng thắc mắc là tại sao Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] chưa bạch hóa các tài liệu văn khố Ðảng và Quân Ðội Nhân Dân [QÐND] để phản bác hay xác nhận chứng từ của Chen Geng [Trần Canh], Liu Shaoqi [Lưu Thiếu Kỳ], Zhou En Lai [Chu Ân Lai], Luo Guibo [La Quí Ba], Wang Yanquan [Vương Nghiên Tuyền], cùng các cố vấn khác mới công bố.

Hầu hết những tài liệu lược dẫn trên đều có hạn chế về mức khả tín. Thứ nhất, với Bắc Kinh và Hà Nội, “lịch sử Ðảng” chỉ công bố những sự thực giai đoạn, hay nửa sự thực, phù hợp với mục tiêu chính trị và tuyên truyền nhất thời. Thứ hai, nhật ký hay hồi ký và truyền khẩu sử, tự chúng đầy chủ quan và khó tránh lầm lỗi. Ðó là chưa nói đến thú ngụy tạo chứng từ, được biện minh bằng nguyên tắc: chiến tranh hay chính trị phải biến trá. (Kiểu Hồ Chí Minh là người Tàu!)

Trường hợp tiêu biểu là di chúc và ngày chết của Nguyễn Sinh Côn, tức Hồ Chí Minh. Theo tài liệu chính thức từ năm 2001, Hồ Chí Minh (Linov Côn) chết tại Hà Nội lúc 9G47 ngày Thứ Ba, 2/9/1969. Vì là ngày Quốc Khánh thứ 24, Bộ Chính trị Đảng LĐVN quyết định không công bố ngay. (President Ho Chi Minh’s Testament (Hanoi: The Gioi, 2001), tr 10). Năm 1969, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn (1906-16/7/1986) quyết định HCM chết ngày 3/9 hay 4/9/1969. Ngày Thứ Tư, 3/9/1969, Phái đoàn BV tại Paris ra thông cáo: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bị đau nặng từ mấy tuần nay, Đảng và Nhà Nước hết sức săn sóc. Bệnh đang tái phát và việc cứu chữa cho Chủ tịch lành mạnh là nhiệm vụ trọng đại và khẩn cấp bậc nhất của Đảng và chánh phủ. Đảng và Nhà Nước treo giải thưởng danh dự tối cao cho bất cứ ai chữa bịnh được cho Chủ tịch (được gọi là Người).

Hôm sau, Thứ Năm, 4/9/1969, Đài phát thanh Hà Nội và phái đoàn BV tại Paris loan tin Hồ chết, sau một cơn đau tim rất nặng. BV tổ chức lễ quốc tang từ 4/9 đến 11/9. Tại Paris, phái đoàn BV yêu cầu hoãn phiên họp thứ 33. Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình (Yến Sa) về Hà Nội chịu tang Hồ. Thứ Sáu, 5/9/1969, Nhân Dân loan tin HCM chết ngày 4/9/1969. Ủy ban lễ tang: Duẩn, Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng, Chu Văn Tấn, Nguyễn Thị Thập, Phan Kế Toại (Phó Thủ tướng), Trần Đăng Khoa, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, Thích Trí Độ, Vũ Xuân Kỷ (Ki-tô), Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Hương, và Vũ Quang. (ND, 5/9/1969)

Theo Hoàng Văn Hoan, trước lúc Hồ tắt thở, Lê Duẩn không cho các Ủy viên BCT đến chào Hồ, hay nghe lời trối trăng. Sau đó, đưa ra một bản di chúc đánh máy, có chữ ký của cả Hồ và Duẩn. Nhưng khi di chúc Hồ được công bố, không làm lại phóng ảnh di chúc này. Theo Hoan, Duẩn đã ngụy tạo di chúc Hồ. (Tin Việt Nam, 7, (9/1981):1-6) Năm 2001, Đảng CSVN mới công bố di chúc “thục” của Nguyễn Sinh Côn, nhưng không tuân theo, vì Côn đòi hỏa thiêu để khởi xướng tục hỏa thiêu.

Có lẽ phải nhiều thập niên nữa, văn khố Việt Nam, Trung Hoa, Pháp, Nga Sô và Mỹ mới bạch hóa hoàn toàn, trả cuộc chiến Việt Nam, và liên hệ Hoa-Việt vào chỗ đứng đích thực của chúng. Phương pháp làm việc tỉ đối giữa nhiều nguồn tài liệu văn khố [multi-archival] đã giải mật vào đầu thế kỷ XXI giúp tạm phác họa cái nhìn toàn cảnh vai trò tiền đồn của Việt Nam trong cuộc chiến tranh lạnh 1947-1991, mà chuyến xuất ngoại cầu viện Trung Cộng và Nga Sô năm 1950 của Hồ được coi như một dấu mốc quan trọng. Chúng cũng giúp phản ánh hiện tượng “Trung quốc hóa” hay “Mao-hóa” Ðảng CSVN (dưới danh nghĩa Ðảng Lao Động), và con đường “khúc khuỷu” [zigzag] mà Mao Nhuận Chi (Mao Trạch Ðông) muốn Ðảng LÐVN vượt qua. Hay, ba [3] biện pháp, mười hai [12] chữ: “hai [2] đại đoàn rưỡi, 1 đường quốc lộ, ba [3] lớp cán bộ.”

Do ảnh hưởng của phong trào phản chiến tại Pháp rồi Liên Bang Mỹ, cộng với trào lưu “tả phái” của một số trí thức và phóng viên, ký giả, cuộc chiến Việt Nam đôi khi bị diễn dịch một cách ngây ngô, sai lầm. Một thí dụ cụ thể là trận đánh Điện Biên Phủ và Hiệp định Đình chiến Geneva, 20-21/7/1954. Trận Điện Biên Phủ thực sự khởi đầu ngày 13/3/1954, sau khi Chu Ân Lai (1878-1976) cho lệnh Vi Quốc Thanh kiếm ít chiến thắng làm đà cho hội nghị Geneva. Cho tới đầu thế kỷ XXI, ba tiếng Điện Biên Phủ được cơ quan tuyên truyền CSVN gán ghép cả vào chiến dịch đấu tố địa chủ và trung nông (1953-1956), hay cuộc oanh tạc Linebacker II của Liên Bang Mỹ (18-26/12/1972), trước khi ký Hiệp định Ngưng Bắn và Tái Lập Hòa Bình Paris 27/1/1973. Trên 25,000 bộ đội Việt Minh tử vong và hơn 100,000 dân công (tức lao công chiến trường) sử dụng trong chiến dịch Tây Bắc này, tại khu vực được biết như Điện Biên ngày nay. Mặc dù chẳng có công trạng đáng kể, Đại tướng Võ Giáp từng lấy tên Điện Biên đặt cho con mình, hay danh hiệu truyền tin của Bộ Tổng Tham Mưu. Từ năm 1991, khi Võ Giáp chống việc cho Trung Cộng khai thác mỏ Bauxite ở Trung Nguyên, Bắc Kinh đã tiết lộ phần nào sự thực qua hồi ký Chu Ân Lai, La Quí Ba, v… v… cùng vài nghiên cứu bằng Anh ngữ. Trong ấn bản thứ hai hồi ký Điện Biên Phủ (Nhà xuất bản QĐND năm 2001), Tướng Giáp mới nhắc đến vai trò “bạn” cùng áp lực trên gân cốt não tủy của Bắc Kinh—như hủy bỏ kế hoạch Đông-Xuân 1953-1954 cúa Giáp—tức tập trung vào mặt trận đồng bằng sông Hồng—và tiếp tục chiến dịch Tây Bắc, dựa trên bản sao kế hoạch Navarre mà Bắc Kinh trộm cắp được. Bắc Kinh còn tiết lộ vai trò chủ động của Ân Lai trong kế hoạch đình chiến ở Đông Dương, theo kiểu mẫu Hiệp ước Ngưng bắn giữa Nam và Bắc Hàn Panmunjon (Bàn Môn Điếm, 27/7/1953). Như thế, bài phỏng vấn HCM trên báo Expressen vào cuối tháng 10/1953—tiết lộ Nguyễn Sinh Côn muốn mở lại thương thuyết với Pháp—có lẽ là một mệnh lệnh của Bắc Kinh và Mat-scơ-va, không phải của cá nhân Côn.

Năm 1954, trên đường về nước phúc trình với Mao về hội nghị đình chiến Geneva, Ân Lai đã ký với Nehru và U Nu tuyên cáo tôn trọng năm nguyên tắc “sống chung hòa bình” mà Lai đề xướng từ ngày 31/12/1953 [mutual respect for territorial integrity and sovereignty; non-aggression; non-interference in each other’s internal affairs; equality and mutual benefit; peaceful co-existence].

Sau đó, đến Liễu Châu [Liuzhou], Quảng Tây [Guangxi] họp mật với Sinh Côn về việc tạm thời chia cắt Việt Nam theo vĩ tuyến 16 hay 17. Với chủ trương “thờ nước lớn”—sự đại chi lễ, hay bandwagoning—Sinh Côn hứa sẽ theo lệnh Bắc Kinh, “đả thông tư tưởng” những cán bộ tả khuynh, đòi đánh Pháp đến người Việt cuối cùng.[8]

Năm 2001, ở lần tái bản thứ hai hồi ký Điện Biên Phủ, Võ Giáp mới nói về Quốc Thanh, hay thái độ kiêu ngạo nước lớn của Ân Lai khi cho lệnh rút quân khỏi Căm Bốt và Lào, cùng chấp nhận vĩ tuyến 16 hoặc 17 (sông Bến Hải, cầu Hiền Lương) làm ranh giới hai vùng tập trung hai quân đội Bắc-Nam;[9]

Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 30 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Ðông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[10]

  • Tác giả Vũ Ngự Chiêu – ảnh tư liệu của Hợp Lưu

 

[1] Cờ Giải Phóng, (Hà Nội), số 33, 18/11/1945. Năm 2000, BCH Đảng CSVN đã hiệu đính tên dịch Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, và sửa lại ngày 5/11/1946 thành 11/11/1946. Văn Kiện Đảng Toàn Tập [VKĐTT], số 8:1945-1947 (Hà Nội: 2000), tr 19-20.Đa tạ bà Trần Thị Nga đã tặng bộ VKĐTT.

[2] Chúng tôi quyết định sử dụng tên thực Nguyễn Sinh Côn, hoặc Linov Côn, sau khi phát hiện tập hồ sơ liên quan đến Trường Quốc Học, tức An Nam Tây Tự Quốc Học ở Huế, từ 1886 đến 1910. Xem, thư ngày 7/8/1908, Giám đốc trường Quốc Học, gửi Tòa Khâm về việc trò Nguyễn Sinh Côn được nhập học trường này trong niên khóa 1908-1909; CAOM (Aix en-Provence), Annam, dossier R1. Từ năm 1981-1982, chúng tôi đã làm việc trên nhiều tài liệu về Nguyễn Sinh Côn, như báo cáo của Mật Thám Pháp và Tòa Khâm sứ Huế, cũng như một mật báo viên người Việt ở Paris năm 1919-1920 (Fonds SLOTFOM và ECOLE COLONIALE). Tuy nhiên, vì lá thư xin nhập học Trường Thuộc Địa Paris ngày 15/9/1911 ký tên Nguyển Tất Thành, sinh năm 1892, con Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, Vinh, Nghệ An, chúng tôi chưa cả quyết Nguyễn Sinh Côn là tên thực của Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh. Xem thêm Nguyễn Vĩnh Châu, “Phỏng vấn sử gia Vũ Ngự Chiêu về Hồ Chí Minh” (2010); hopluu.net. Linov là bí danh của Sinh Côn tại Mat-scơ-va trong giai đoạn 1934-1938. Đáng chú ý là trong Nghị quyết sửa lại ngày chết của Nguyễn Sinh Côn từ 4 hay 3/9/1969 thành 2/9/1969, chỉ có bí danh cách mạng Hồ Chí Minh, không nhắc gì đến tên Nguyễn Sinh Côn. Cần xác định thêm một lần: Ông Nguyễn Thế Anh ký chung tên với tôi trong bài về hai lá đơn xin nhập học Trường Thuộc Địa Paris trên báo Đường Mới (Paris), nhưng không dính líu gì đến sự phát hiện những tư liệu về Nguyễn Tất Thành. Nhiều chuyên viên Việt Nam không biết đến những tài liệu quí báu của đợt trí thức tây học thứ hai Việt Nam qua cửa chính hay cửa hậu Trường Thuộc Địa, như Bùi Quang Chiêu, Trần Trọng Kim, v… v…

[3] Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Change in Viet-Nam Between 1940 and 1946” [Những Biến Đổi Chính Trị và Xã Hội tại Việt Nam Giữa 1940 và 1946], unpublished Ph D dissertation, University of Wisconsin-Madison, Dec 1984, under the supervision of Professor John R W Smail, Part III: Brutality of World Politics, chapts 10-13. Nguyên Vũ [Vũ Ngự Chiêu], “Con tàu thống nhất;” Hợp Lưu (Foutain Valley, CA), số 85, tháng 10-11/2005, tr 127-128 [121-150]; Service historique de l’Armée de Terre [SHAT] (Vincennes), 10H xxx; Department of State, Foreign Relations of the United States [FRUS], 1946, VIII: The Far East, (1971) pp 54, 58-9; Department of Defense, United States-Vietnam Relations, 1945-1967, (Washington: GPO, 1971), Book 1-C 95-96., và Book 8, p. 79. Võ Nguyên Giáp, Những Năm Tháng Không thể nào quên, (Hà Nội: QĐND, 1974), tr 63, 184-187: Lê Tùng Sơn, Nhật ký một chặng đường (Hà Nội : Văn Học, 1978), tr. 200-209 ; Amiral Thierry d’Argenlieu, Chronique d’Indochine, 1945-1947 (Paris: Albin Michel, 1985), pp 190-192, 193, 200-203, 439-441 [Thiều Bá Xương, Quyền Tư lệnh Quân đoàn 53, can thiệp]. [Sẽ dãn: Chronique, 1985] Tài liệu CSVN chỉ nhắc đến Tiêu VănChu Phúc Thành.

[4] Tel 6131, Jefferson Caffery gửi BNG, ngày 11/9/1946; FRUS, 1946, VIII: The Far East, (1971) pp 58-59; United States-Vietnam Relations, 1945-1967, 1971, Book 1-C 95-6; Memo, George M. Abbott gửi Đại sứ Caffery, ngày 12/9/1946; Ibid., Book 1-C 95-6, 103-104). Abbott sẽ trở thành Tổng Lãnh sự Sài Gòn; và năm 1950, trao cho Bảo Đại tin mừng Liên Bang Mỹ thừa nhận Quốc Gia Việt Nam. Ba ngày sau, 7/2/1950, đến lượt Bri-tên.

[5]Modus Vivendi [Tạm ước] 14/9/1946.” gồm 11 điều khoản [articles], và Bản tuyên cáo chung. Ngày 18/9/1946, chính phủ Pháp phê chuẩn Modus Vivendi 14/9/1946. CĐ 4671, Paris gửi BNG, 17/9/1946, 17G00; FRUS, 1946, VIII: The Far East, (1971) pp. 59-60; US-Vietnam Relations, 1945-1967, (1971), Book 1-C 80-81; Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], IA: 1939-1946, (Houston: 1996), Phụ bản, tr 393-99; “Nguyên văn bản Thoả Hiệp Án Pháp-Việt làm tại Paris ngày 14/9/1946;” Nam Kỳ (Sài Gòn), 23/9/1946. Linh mục Cao Ủy d’Argenlieu chống lại điều IX, liên quan đến Nam Kỳ; Chronique, 1985:320-24.]

[6] SHAT (Vincennes), 10 H xxx; trích dịch trong Chính Đạo, VNNB, IA: 1939-1946 (1996), tr 269-270. Khi hoàn tất luận án năm 1984, chúng tôi chưa có dịp tham khảo những tài liệu của Ủy Ban Đón Tiếp Đồng Minh Sài Gòn. Cần xác nhận đây là những tư liệu nghiêm túc, không phải tin tình báo. Xem thêm CAOM (Aix), Conseiller Politique [CP], hộp 247.

[7] Báo cáo ngày 21/12/1946, Massimi, Hải Phòng, gửi Ủy viên Bắc Kỳ [Sainteny]: CAOM (Aix), HCFI, CP 255. Đa tạ Bà Giám đốc Văn Khố Aix en Provence đã cho phép đặc biệt tham khảo tài liệu này năm 1999, khi chưa đến thời hạn giải mật. Xem thêm Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập (Houston, TX: Văn Hóa, 1999-2000), tập II & III. Để có một ý niệm đại cương về các tác nhân lịch sử cận và hiện đại, xin tham khảo Chính Đạo, VNNB, 1939-1975, tập III: Nhân vật chí, tái bản có hiệu đính (Houston: Văn Hóa, 1997). [Sẽ dẫn: “Nhân Vật Chí (1997)]

[8] Zhounianpu [Chu [Ân Lai] Niên Phổ], 1949-1976, 1:384, 386-388; Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975 [Trung Hoa và những cuộc chiến Việt Nam, 1950-1975] (Chapel Hill: North Carolina Press, 2000), tr 58, 59-61)

[9] Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ, in lần thứ hai (Hà Nội: QĐND, 2001); Hoàng Văn Thái, Điện Biên Phủ Chiến dịch lịch sử, (Hà Nội: QĐNG, 1994), tr. 15-9). 1/1/1953: Vi Quốc Thanh về nước. Trình bày kế hoạch lập mật khu cho Pathet Lào. (Vu Hóa Thẩm, LQB, 2008:58)

Về hội nghị Geneva (26/4 [8/5]-21/7/1954), xem Great Britain, Documents relating to the discussion of Korea and Indo-China at the Geneva Conference. Miscellaneous No.16 (1954), Cmd. 9186; Commissaire Général de France et Commandement en Chef en Indochine, “Note a/s Conférence de Genève sur l’Indochine (14 juillet 1954); SHAT (Vincennes), Tư liệu Ely [1K 233], carton 39, d. 1; Indochine, 10H xxx [246-248]; United States-Vietnam Relations, 1945-1967 (Washington: GPO, 1971}; Bk IX; FRUS, 1952-1954, XVI: The Geneva Conference, (Washington: GPO, 1981); Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston: Văn Hóa, 2004).

[10] Centre des Archives d’Outre-Mer [CAOM] (Aix en Provence), Affaires Politiques [AP], carton 3441, d. 4; và, Service historique de l’Armée de Terre [SHAT] (Vincennes), 10H xxx. [sẽ dẫn: Báo cáo của Bonfils ngày 23/9/1948]. Những tài liệu ghi chú “xxx” là tư liệu chưa giải mật hoặc được yêu cầu không bạch hoá.

Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:, , , ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: