GHPGVNTNHN/HK – Phật Giáo Việt Nam, Biến Cố và Tư Liệu: Hai Mươi Năm Trong Chế Ðộ Cộng Sản (1975-1995)

kvadcamera_1463369689491

LỜI VÀO TẬP

Thấm thoát đã hai mươi năm trôi qua kể từ khi đất nước lâm vào Quốc Nạn và Phật giáo lâm vào Pháp Nạn dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam. Hai mươi năm ấy so với thời gian có mặt của Phật giáo trên đất nước thì chỉ là một khoảnh ngắn ngủi, một phần trăm của lịch sử 2000 năm. Vậy mà đã có không biết bao nhiêu là suy vi, tủi nhục diễn ra trong cái khoảnh thời gian ngắn ngủi ấy. Và cho đến nay, người ta vẫn chưa dự đoán được là đến lúc nào cơn Quốc Nạn và Pháp Nạn kia mới được giải trừ. Trước cái viễn ảnh mờ mịt đó, những kẻ có lòng đối với Dân Tộc và Ðạo Pháp vẫn chỉ có một con đường trước mắt là tiếp tục ngồi lại với nhau, vạch tìm một khai lộ cho tương lai đất nước. Vạch tìm bằng cách nhìn lại các biến cố lịch sử, các tư liệu mà tự nó đã nói lên một cách trung thực các sự kiện, rồi từ đó thảo luận để rút tỉa kinh nghiệm, bàn bạc để nhận rõ các ưu khuyết điểm… có vậy mới cất được những bước vững chãi hơn trong những ngày dấn thân sắp tới. Ðó là lý do có mặt của tập tài liệu này, vì đây có thể nói là bản đúc kết và tóm lược những biến cố quan trọng liên quan đến sinh hoạt và vận mệnh của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở quốc nội từ ngày 30-4-1975 đến khoảng thời gian tiền Ðại Hội Khoáng Ðại lần thứ I của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo.

Mặc dầu có mặt với mục đích như thế, tập sách này cũng rất cần thiết được phổ biến đến tất cả những ai muốn tìm hiểu hoặc chưa có cơ hội tìm hiểu một cách chính xác về hiện trạng Phật Giáo Việt Nam trong nước cũng như hành hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Hải Ngoại.

Với mục đích cung cấp biến cố và tư liệu, những người thực hiện tập tài liệu này sẽ cố gắng trình bày một cách khách quan các biến cố quan trọng xảy ra theo thứ tự thời gian cũng như theo liên hệ nhân quả của các sự kiện. Chỗ nào đáng giải thích hay chú thích thêm, chúng tôi mới giải thích và chú thích; còn ngoài ra, đều dựa vào và trưng dẫn nguyên văn các văn kiện qua lại từ phía Phật giáo và chính quyền Việt Nam để cho các văn kiện này tự nói lên sự thực.

Như vậy, tập sách sẽ chia làm 5 Phần: Phần I và Phần III xem như là Phần Biến Cố, trong đó, Phần I sẽ trình bày sơ lược các dữ kiện xảy ra trong nước đối với Giáo Hội Phật giáo truyền thống theo thứ tự thời gian, Phần III sẽ trình bày sơ lược các vận động đấu tranh hậu thuẫn của GHPGVNTN Hải ngoại (đặc biệt là Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo tại Hoa Kỳ) nhằm yểm trợ phong trào phục hồi Giáo hội Phật giáo truyền thối; Phần II, IV và V có thể xem như là Phần Tư Liệu, chỉ trưng dẫn nguyên văn các văn kiện liên hệ, cũng theo thứ tự thời gian trong mỗi Phần riêng biệt, trong đó, Phần II là các văn kiện tài liệu quốc nội, Phần IV là những văn kiện tài liệu ở hải ngoại, và Phần V là những văn kiện bằng ngoại ngữ (Anh hoặc Pháp) từ các chính phủ các quốc gia, các tổ chức nhân quyền, các chính khách quốc tế, các tôn giáo bạn v.v… lên tiếng ủng hộ công cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do tôn giáo và nhân quyền do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chủ xướng.

Trong Phần I, ở một số sự kiện quan trọng, chúng tôi chú thích số trang để quí vị có thể tìm đọc ngay các văn kiện liên hệ được trưng dẫn nguyên văn ở các phần II.

Riêng Phần III, Sơ lược về các hành hoạt của GHPGVNTN Hải Ngoại, chúng tôi xin được sử dụng các bản Báo Cáo và Tổng Kết của Ðại Hội Thống Nhất PGVN tại Hoa Kỳ (1992), Ðại Hội Thường Niên lần I (1993), lần II (1994), lần III (1995) và Ðại Hội Khoáng Ðại lần I (1996) của GHPGVNTNHN-HK vì các văn bản này tự chúng đã làm công việc tóm lược các hành hoạt của Giáo Hội tại hải ngoại rồi. Cũng cần lưu ý ở Phần III này rằng, vì tính cách giới hạn của thời gian và tài liệu nắm được, chúng tôi chỉ có thể cung cấp các biến cố và tư liệu liên hệ trực tiếp đến Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo, đặc biệt là Văn Phòng Thường Trực Hội Ðồng Ðiều Hành; ngoài ra, hoạt động của các Châu khác như Châu Âu, Châu Úc và Châu Á với sự vận động tích cực và vô cùng hữu hiệu để yểm trợ công cuộc đấu tranh phục hồi Giáo hội truyền thống của chư Tăng Ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Chi Bộ Châu Âu, Chi Bộ Úc Châu/Tân Tây Lan và Chi Bộ Á Châu, đều đề cập đến một cách khái quát theo tài liệu hiện có. Chúng tôi thiết tha chờ đợi một công trình sưu tập của chính Giáo hội các Châu ấy để bổ túc cho tập tài liệu này trong lần tái bản được hoàn bị hơn.

Tất nhiên với số trang giới hạn của một tập tài liệu tóm lược, ấn bản này sẽ không tránh khỏi những sơ xuất hay thiếu sót, vì vậy chúng tôi rất mong đợi sự tận tình chỉ giáo và đóng góp ý kiến từ chư Tôn đức Tăng Ni, các bậc thức giả và đồng bào Phật tử trong nước cũng như ngoài nước để tập sách được hoàn chỉnh hơn trong lần in tới.

Lời cuối, với bấy nhiêu việc nhỏ mọn, chúng tôi chỉ hy vọng rằng sẽ đóng góp một cách nhìn đúng như thực đối với hiện trạng Phật Giáo Việt Nam tại quê nhà. Ðược như vậy thì chúng tôi đã mãn nguyện.

Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo
Văn Phòng Thường Trực Hội Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN-HK
(Nhiệm kỳ I, 1992-1996)

 

PHẦN I:
SƠ LƯỢC NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG LIÊN QUAN ÐẾN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
(1975-1995)

Từ bối cảnh băng hoại trầm uất của xã hội Âu châu ảnh hưởng bởi nhiều thế kỷ trước với sự góp phần không nhỏ của các tôn giáo hữu thần Tây phương, Marx đã nhiều lần lặp đi lặp lại nhận định của ông: “Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng”. Và Lenin, trong bối cảnh của nước mình đầu thế kỷ 20 với Chính Thống Giáo Nga, cũng nhại lời Marx, triển khai cái nhận định vơ đũa kia thành một thứ chân lý chắc nịch trong sách lược nhuộm đỏ thế giới của mình. Thế rồi, cái “chân lý” về tôn giáo ấy trở thành một thứ tín điều mới cho người Cộng Sản khắp năm châu, kể cả châu Á với Trung Hoa, Việt Nam, Ðại Hàn… là những nước được nuôi dưỡng bởi ba nền đạo học (Phật-Khổng-Lão) hoàn toàn không mang tính chất hữu thần cũng như hệ thống tổ chức tập trung quyền lực như các tôn giáo Tây phương.

Ngay từ khi toàn thắng chiếm Trung Hoa, Mao Trạch Ðông đã áp dụng ngay chính sách bài trừ tôn giáo. Tại miền Bắc Việt Nam, chính sách ấy cũng được Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng sản Việt Nam triệt để tuân thủ từ sau Hiệp định Genève 1954. Và cuối cùng, sau khi chiếm trọn đất nước vào tháng 4 năm 1975, giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam lại tiếp tục thi hành cái tín điều sai lầm ấy đối với các tôn giáo vững mạnh tại miền Nam, đặc biệt nhắm vào Phật giáo – một tôn giáo (phải cưỡng ép mà dùng từ ngữ hạn hẹp này) có số lượng quần chúng đông đảo nhất của dân tộc.

Từ những ngày đầu tiên của chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, đồng thời với các chính sách kinh tế mới, cải tạo thương nghiệp và quốc hữu hóa tài sản của nhân dân, Cộng sản đã tịch thu và chiếm dụng ngang nhiên hầu hết các cơ sở thờ tự (các động sản và bất động sản của chùa…) cho đến các cơ sở văn hóa giáo dục (các trường Trung Tiểu học Bồ Ðề, Tu viện, Sơ – Trung – Cao đẳng Phật học viện, Ðại học Phật giáo…), các cơ quan từ thiện xã hội (Cô nhi viện, Ký nhi viện, Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội…) trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo. Ðối với Tăng Ni, họ bắt bớ, giam cầm, cưỡng bức hoàn tục bằng mọi cách, thậm chí còn bắt đi nghĩa vụ quân sự để cầm súng chiến đấu ngoài mặt trận.

Nhưng Phật giáo vốn là một tôn giáo gắn liền một cách hoà hợp với dân tộc từ gần hai mươi thế kỷ qua biết bao nhiêu thời kỳ suy-thịnh nhục-vinh của đất nước; cho nên, lịch sử Phật giáo đã không ngoa khi nói rằng “Phật giáo với Dân tộc là một. Dân tộc còn là Phật giáo còn; Dân tộc mất là Phật giáo mất”. Như vậy, một khi chính sách của người Cộng sản xâm tổn đến quyền lợi chung của dân tộc, hẳn nhiên sẽ có sự lên tiếng phản đối của Phật giáo. Căn nguyên mọi phong trào đấu tranh của Phật giáo là từ đó.

Giai đoạn giao thời giữa hai chế độ và giữa hai Giáo Hội (1975-1980)

09-4-1975: Thông cáo kêu gọi Hóa Giải của Viện Hóa Ðạo: Khi quân đội Cộng sản Bắc Việt ồ ạt vượt vĩ tuyến 17, xâm chiếm các tỉnh cao nguyên, miền Trung, Nam và Tâm Nam bộ, và cuối cùng bao vây Sài Gòn, còn những nhà lãnh đạo trung ương của chính thể miền Nam thì cao bay xa chạy, người ta đã thấy ngay cái viễn cảnh đen tối nhất sẽ chụp phũ xuống thân phận những lương dân vô tội miền Nam. Ðể tránh cảnh đổ máu vô ích vào những giây phút cuối cùng mà mọi người đều thấy rõ phần thắng sẽ về ai – giữa một lực lượng chính quy với bao nhiêu quân đoàn sắt máu có kỷ luật và một lực lượng quân đội đã tan rã không có cấp chỉ huy – Viện Hóa Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã ra Thông Cáo vào ngày 09-4-1975, kêu gọi hai phe lâm chiến hãy thương thảo để tìm một giải pháp hòa bình cho Việt Nam. Nội dung Thông cáo, ngoài ý hướng tỉnh giác phía quân đội Bắc Việt đang thắng thế: “đừng biến chúng ta thành tù nhân của chủ nghĩa, vì đời sống con người quý hơn chủ nghĩa”. Giáo Hội còn đề nghị ba điểm cụ thể chính yếu sau:

  1. Với hòa bình, chúng ta có thể phục vụ đạo pháp và dân tộc hữu hiệu hơn.
  2. Yêu cầu hai phe lâm chiến đừng tàn sát nhân dân vô tội vì theo bên này hay theo bên kia.
  3. Yêu cầu hai phe lâm chiến hạn chế tối đa vũ lực cứu mạng người trong giai đoạn chuyển tiếp.

*

22-11-1975: 12 Tu sĩ Phật giáo tự thiêu tại Cần Thơ: Tại chùa Dược Sư, Cần Thơ, Ðại đức thích Huệ Hiền và tất cả Tăng Ni trong chùa tổng cộng gồm 12 vị, đã tự thiêu tập thể nhằm phản đối sự đàn áp Phật giáo của chế độ CSVN. Trong bản tuyên bố để lại, 12 vị này nêu rõ: “Chúng tôi sắp sửa thể hiện việc thiêu thân để bảo toàn Chánh Pháp, để bảo vệ danh nghĩa của giới Tăng sĩ tại địa phương cũng như toàn quốc… Hành động của chúng tôi ngày hôm nay là cốt đem tấm nhục thân này làm bó đuốc soi sáng cho những người mê muội vô ý thức…” Ðối với đệ tử của chùa Dược Sư, Ðại đức Huệ Hiền căn dặn: “Chúng ta không nên vì cái thân vị kỷ này, không nên nuối tiếc nó, không nên khóc lóc vì nó. Trái lại, chúng ta phải tự hãnh diện đã sử dụng nó đúng mức, sử dụng nó cho công lý, cho tự do… Nên nhớ không ai cứu ta bằng ta tự cứu ta, không ai giải thoát ta bằng ta tự giải thoát ta.” Ðối với nhà cầm quyền Cộng Sản, Ðại đức Huệ Hiền đại diện toàn thể Tăng ni tự thiêu, nêu lên nguyện vọng 6 điểm rồi kết luận rằng: “Chúng tôi, Tăng Ni chùa Dược Sư, tha thiết kêu gọi quý vị hãy tôn trọng tự do tín ngưỡng của tất cả mọi tôn giáo… Chúng tôi quyết nguyện thiêu thân hôm nay vì chúng tôi nghĩ thà chết vinh hơn sống nhục, thà chết cho chân lý đạo nghĩa hơn sống mà phải theo tà thuyết hại dân.”

(Kèm theo tư liệu ghi lại sự kiện trên, có ba phụ bản văn kiện liên quan:
– Phụ bản1: thư Tuyệt mệnh của Ðại đức Thích Huệ Hiền, trụ trì Thiền viện Dược Sư, Cần Thơ cùng toàn thể Tăng Ni tự thiêu.
– Phụ bản 2: Tâm thư lưu lại của chư Tăng Ni Tự thiêu tại Thiền viện Dược Sư, Cần Thơ.
– Phụ bản 3: Thư của Tăng Ni chùa Dược Sư gởi chính quyền CSVN.)

28-11-1975: Viện Hóa Ðạo lên tiếng về vụ Tự thiêu ở Cần Thơ: Hòa thượng Thích Trí Thủ, bấy giờ là đương kim Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã gởi văn thư số 0316/VHÐ/VT đến Chủ tịch chánh phủ Cách Mạng lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, ngoài việc tường trình về nội vụ tự thiêu của 12 vị Tăng Ni theo kết quả điều tra chung giữa Giáo Hội và chính quyền địa phương. Giáo hội đã tế nhị không quy trách nhiệm vụ cho chính quyền trung ương về sự vụ, nhưng trình bày nguyện vọng 5 điểm như sau:
1. (Chính quyền) chỉ thị cho các bộ hạ tầng triệt để tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của toàn dân đã được Mặt trận và chính phủ Cánh Mạng bảo đảm bằng minh văn
2. Xử lý thích đáng những người có trách nhiệm đã gây ra sự kiện bi thàm tại Thiền viện Dược Sư.
3. Xin phóng thích những người bị bắt khi họ về thăm Thiền viện Dược Sư.
4. Xin giải toả và trả lại ngôi Thiền viện Dược Sư.
5. Tìm biện pháp hữu hiệu ngăn chặng không để cho những trường hợp tương tự tái diễn.

Phụ bản:

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Viện Hóa Ðạo

Sài Gòn, ngày 28 tháng 11 năm 1975

Kính gởi: Ông Chủ Tịch Chánh Phủ Cách Mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam

Thưa quí vị Chủ Tịch,

Ngày 02 tháng 11 năm 1975, tại tỉnh Cần Thơ đã xảy ra một vụ tự thiêu tập thể hết sức bi thảm của 12 Tăng Ni để phản đối chánh quyền địa phương về hành động vi phạm chánh sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của Mặt Trận Dân Tộc Giải phóng và Chánh Phủ Cách Mạng. Nguyên nhân như sau:

Hằng năm cứ đến ngày 21 tháng 9 Âm lịch, Tăng Ni Thiền viện Dược Sư tại ấp Tân Long A, xã Tân Bình, quận Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ có làm lễ kỷ niệm Ni Cô Diệu Hậu đã tự thiêu ngày 21 tháng 9 năm Nhâm Tý (1972) để cầu nguyện hòa bình. Ðặc biệt năm nay cũng là lần thứ nhất kỷ niệm một Ni Cô nữa tên Diệu Nguyên cũng đã tự thiêu để cầu nguyện hòa bình ngày 21 tháng 9 năm Giáp Dần (1974). Vì hai sự kiện trùng hợp đó nên năm nay Tăng Ni Thiền viện Dược Sư đã tổ chức lễ kỷ niệm trong ba ngày từ 19 đến 21 tháng 9 Ất Mão, tức từ 23 đến 25 – 10 – 1975. Nhưng cuộc lễ đã bị chính quyền địa phương ngăn cấm.

Ðến ngày 24 tháng 10 năm 1975, Ủy Ban Cách Mạng xã Tân Bình đã cho gọi Ðại Ðức Thích Huệ Hiền đến văn phòng xã buộc phải chấp hành những điều sau đây:
1. Cấm tuyệt đối không được treo cờ Phật Giáo ngoài chùa.
2. Cấm tuyệt đối không được để chung việc cầu nguyện tôn giáo cho Bác và liệt sĩ vào các chương trình hành lễ.
3. Tăng Ni thiền viện không được nhập thất và tịnh Khẩu mà phải ăn cơm và nói chuyện để học theo đường lối cách mạng.
4. Ông Trụ Trì phải có trách nhiệm phát huy thắng lợi vẻ vang lịch sử vĩ đại của Cách Mạng cho Tăng Ni Thiền Viện.
5. Tăng Ni Thiền Viện phải hợp tác sinh hoạt chính trị các tổ chức đoàn thể của Cách Mạng.
6. Cấm tuyệt đối không được thu nhận đệ tử xuất gia và tại gia.

Vì nhận thấy những điều trên đây của Uủy Ban Cách Mạng xã Tân Bình quá khắt khe đối với người tu hành, không thể thực hiện đồng lòng chọ cái chết để được giải thoát.

Và đúng 24 giờ khuya ngày 29 tháng 9 Aát Mão, tức ngày 02 tháng 11 năm 1975, tất cả Tăng Ni Thiền Viện Dược Sư đạ tự thiêu để lại một bức thư tuyệt mệnh với bảy các Tăng Ni đã bị nhà chức trách địa phương đưa đi mất tích và thiền viện Dược Sư bị cô lập.

Ba ngày sau nghe tin thầy tự thiêu, mấy người đệ tử của Ðại Ðức Thích Huệ Hiền là Ni Cô Diệu Hoa tục danh Phạm Thị Chước, Ni Cô Diệu Hậu tên Nhà (không rõ họ) và cô Vũ Bạch Tuyết pháp danh Diệu Nga về thăm liền bi bắt và đưa đi đâu không ai biết. Ngoài ra còn nhiều chi tiết liên quan đến vụ này chúng tôi không thể đề cập hết vì quá đau lòng.

Thưa quí vị Chủ Tịch,
Chúng tôi phản ảnh sự kiện này với niềm hy vọng là quí vị Chủ Tịch và Chính Phủ Cách Mạng sẽ lưu tâm nhiều hơn đến tình hình tại các cơ sở hạ tầng. Chúng tôi không tin hay nghĩ rằng sự kiện đáng tiếc nay cũng như một số sự kiện khác liên quan đến vấn đề tự do tín ngưỡng đã xảy ra tại một số nơi, là chủ trương hoặc chính sách chung của mặt trận và Chính Phủ, mà đây chỉ là dự bồng bột và sai lầm của những cán bộ hạ tầng. Chúng tôi chưa mất niềm tin ở chính sách quang minh và chính đại của cách mạng, do đó chúng tôi xin đạo đạt lên ông chủ tịch và chính phủ những nguyện vọng sau đây:
1. Chỉ thị cho các cán bộ hạ tầng triệt để tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đã được Mặt Trận và Chánh Phủ Cách Mạng bảo đảm bằng minh văn.
2. Xử lý thích đáng những người có trách nhiệm đã gây ra sự kiện bi thảm tại Thiền viện Dược Sư.
3. Xin phóng thích những người bị bắt khi họ về thăm Thiền Viện Dược Sư
4. Xin giải tỏa và trả lại ngôi Thiền Viện Dược Sư.
5. Tìm biện pháp hữu hiệu ngăn chặn, không để cho những trường hợp tương tự tái diễn.

Thưa quí vị Chủ Tịch,

Ðáng lý ra chúng tôi phải đến trực tiếp trình bày nội vụ với quí vị cho được đầy đủ hơn và kín đáo hơn thay vì gửi văn thư này, nhưng rất tiếc là một cuộc gặp gỡ trực tiếp như vậy rất khó khăn, bởi vì, từ sau ngày Miền Nam được hoàn tàn giải phóng đã ba lần chúng tôi xin được tiếp xúc với quí vị để trình bày về lập trường của Giáo Hội chúng tôi, nhưng đã không được quí vị chấp thuận. Tuy nhiên chúng tôi vẫn sẵn sàng cung cấp đầy đủ chi tiết về vụ này cũng như về nhiều vấn đề khác một cách trực tiếp nếu quí vị Chủ Tịch thấy điều đo cần thiết.

Với tất cả lòng thành, chúng tôi cầu chúc quí vị Chỉ Tịch dồi dào sức khoẻ để lãnh đạo Mặt Trận và Chính Phủ mang lại yên vui hạnh phúc cho toàn dân.

Trân trọng cám ơn và kính chào quí vị Chủ Tịch

Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo
Hoà Thượng Thích Trí Thủ
(Ấn ký)

04-10-1976: Giáo hội can thiệp việc CSVN bắt tu sĩ đi quân dịch: Đất nước vừa tàn cuộc chiến nồi da nấu thịt sau gần 30 năm khói lửa, CSVN lại tiếp tục vào một cuộc chiến mới gọi là “Nghĩa vụ quốc tế” đối với Campuchea, và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ra quyết định số 310/TTG ngày 22-7-1976 trong đó bắt buộc các tu sĩ các tôn giáo trong lứa tuổi từ 18 đến 25 đều phải thi hành “nghĩa vụ” quân sự này. Hòa Thượng Thích Trí Thủ đã lên tiếng can thiệp với lời lẽ khiêm cung qua văn thư số 0189-VHĐ/VP đề ngày 04-10-1976 gởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng để xin miễn dịch cho các tu sĩ thanh niên nằm trong 8 trường hợp đặc biệt do Viện Hóa Đạo đề nghị. Nhà nước CSVN đã không đáp ứng yêu cầu của Viện Hóa Đạo. Kết quả là hàng ngàn tăng sĩ trẻ Phật giáo trên khắp đất nước–đặc biệt là miền Trung và Nam Việt Nam–phải lên đường tòng quân, một số không muốn cởi áo cà sa đã phải sống trốn tránh ở các địa phương khác. (Xem Văn thư số 0189-VHĐ/VP, Phần II)

Phụ bản:

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO

Số: 0189 – VHĐ/VP

TP Hồ Chí Minh ngày 04 tháng 10 năm 1976

Kính gửi: Ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng Chính Phủ nước CHXHCNVN
Kính thưa Thủ Tướng,

Chính phủ vừa ra quyết định gọi thanh niên tuổi từ 18 đến 25 thi hành nghĩa vụ quân sự. Một số Tăng sĩ thuộc Giáo Hội chúng tôi trong hạn tuổi nói trên đã được nhà chức trách các địa phương gọi đi đăng ký. Chúng tôi ý thức đây là nghĩa vụ của toàn dân.

Tuy nhiên, đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chúng tôi, từ ngày miền Nam được giải phóng, rất nhiều Tăng sĩ đã tự nguyện trở về đời sống thế tục để phục vụ tổ quốc, số còn lại thực thụ tiếp tục tu hành không đáng kể, nay nếu phải nhập ngũ, thì số quân cũng chẳng thêm được bao nhiêu mà điều đó lại trái với bản chất giáo lý cũng như lịch sử và truyền thống của đạo Phật.

Bởi những lẽ ấy, chúng tôi xin đề nghị Thủ Tướng cứu xét và nếu có thể, cho miễn hoặc tạm hoãn, nếu không được tất cả, thì cũng cho một số Tăng sĩ trong những trường hợp sau đây để mong vớt vát lại một số mầm non hầu duy trì nền tôn giáo cổ truyền trong tương lai:

  1. Những Tăng sĩ hiện đang giữ các chức vụ trong Giáo Hội từ thượng từng đến các cơ sở.
  2. Những tăng sĩ đang theo học tại các Trung và Cao Đẳng Phật Học Viện.
  3. Những tăng sĩ tại các tu viện đang thực hiện các chương trình canh tác và sản xuất.
  4. Những Tăng sĩ đã đi tu thuở nhỏ.
  5. Những tăng sĩ có cha mẹ trên 60 tuổi.
  6. Những chùa có từ 4 tăng sĩ trở xuống.
  7. Những Tăng sĩ ở các chùa có các vị trú trì trên 60 tuổi.
  8. Những tăng sĩ là những người lao động duy nhứt trong chùa.

Kính thưa Thủ Tướng,

Chúng tôi hy vọng Thủ tướng sẽ hoan hỷ cứu xét rộng rãi những thỉnh nguyện trên đây của Giáo Hội chúng tôi.

Xin chân thành cầu chúc Thủ Tướng mạnh khỏe. Trân trọng các ơn và kính chào Thủ Tướng.

Viện Trưởng Viện Hóa Đạo

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Hòa Thượng Thích Trí Thủ
(Ấn ký)

09-02-1977: Viện Hóa Đạo lên tiếng về việc 19 tu sĩ bị bắt: 19 Tăng sĩ Phật giáo ở các cấp thuộc nhiều tỉnh khác nhau đã bị Nhà nước giam cầm không lý do chính đáng. Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, đã gửi Văn thư số 0031/VHĐ/VP đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng, yêu cầu chính phủ cứu xét việc giam giữ 19 vị tu sĩ này và cho họ được trả tự do vào Tết Đinh Tỵ. Ông Đồng không trả lời và yêu cầu Giáo hội đã không được Nhà nước đáp ứng.

Phụ bản:

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO

Số: 0031/VHĐ/VP

Hồ Chí Minh ngày 09 tháng 02 năm 1977

Kính gửi:
Ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng Chính Phủ nước CHXHCNVN

Thưa Thủ Tướng,

Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, một số tu sĩ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chúng tôi bị các cơ quan chính quyền địa phương bắt giữ (danh sách đính kèm) và cho đến nay vẫn chưa được trả tự do hay đưa ra tòa xét xử, nên chúng tôi không hiểu các đương sự đã phạm những tội trạng gì?

Nhân dịp Xuân Đinh Tỵ sắp tới, Giáo Hội chúng tôi xin Thủ Tướng hoan hỷ chỉ thị cho các cơ quan hữu trách địa phương tạm thời cho các đương sự được trở về sum họp với Giáo Hội trong ba ngày ngày Tết, sau đó xin cứu xét từng trường hợp một, nếu có tội thì xin được xét xử sớm, nếu không thì xin trả tự do cho họ được trở về đời sống bình thường để góp phần xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện tại.

Trân trọng cám ơn và kính chào Thủ Tướng.

Viện Trưởng Viện Hóa Đạo
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Hòa Thượng Thích Trí Thủ
(Ấn ký)

Đính kèm theo đây là danh sách các Tăng sĩ bị bắt giam:

  1. Đại Đức Thích Bửu Huệ, Chánh Đại Diện GHPGVNTN tỉnh Long Khánh, bị bắt tại Long Khánh ngày 05-5-1975.
  2. Hòa Thượng Thích Thiện Đức, Chánh Đại Diện GHPGVNTN tỉnh Ba Xuyên (cũ), bị bắt ngày 15-7-1975.
  3. Đại Đức Thích Đức Quang, Chánh Đại Diện GHPGVNTN Quận Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (cũ) bị bắt tại Quận Phú Giáo ngày 15-8-1975.
  4. Đại Đức Thích Chơn Không bị bắt tại thị xã Đà Nẵng ngày 04-12-1976.
  5. Đại Đức Thích Thiện Thông, tục danh Nguyễn Thanh Minh, Phó Đại Diện GHPGVNTN tỉnh An Giang, bị bắt tại An Giang ngày 07-5-1976.
  6. Đại Đức Thích Thanh Roãn, tục danh Trần Thanh Roãn, Trí Trì chùa Pháp Vương, đường Điện Biên Phủ, thành phố Hồ Chí Minh, bị bắt tại đồn số 9 xa lộ, ngày 17-02-1976.
  7. Đại Đức Thích Nguyên Minh, Phó Đại Diện GHPGVNTN tỉnh Nghĩa Bình, bị bắt ngày 15-7-1976.
  8. Đại Đức Phạm Văn Toàn bị bắt tại Bà Rịa ngày 25-3-1976.
  9. Đại Đức Trần Sữu, bị bắt tại Bà Rịa ngày 25-3-1976.
  10. Đại Đức Phạm Chí Tâm, bị bắt tại Bà Rịa ngày 25-3-1976.
  11. Đại Đức Nguyễn Kế Hoạch, bị bắt tại Bà Rịa ngày 25-3-1976.
  12. Đại Đức Tô Thanh Nhơn, bị bắt tại Bà Rịa ngày 25-3-1976.
  13. Đại Đức Hoàng Linh Thoại, bị bắt tại Bà Rịa ngày 25-3-1976.
  14. Đại Đức Đặng Ngọc Hưng, bị bắt tại Bà Rịa ngày 25-3-1976.
  15. Thượng Tọa Thích Khế Hội, Chánh Đại Diện GHPGVNTN tỉnh Phú Yên bị bắt tại chùa Bảo Tịnh thị xã Phú Yên, tỉnh Phú Khánh ngày 24-10-1976.
  16. Đại Đức Thích Liễu Minh, bị bắt tại Mỹ Tho ngày 17-12-1976.
  17. Đại Đức Thích Minh Tâm, Chánh Thư Ký Ban Đại Diện GHPGVNTN tỉnh Thuận Hải, bị bắt tại thị xã Phan Thiết ngày 06-11-1977.
  18. Đại Đức Thích Giác Minh, Chánh Đại Diện GHPGVNTN xã Tân Minh, Bình Tuy bị bắt cuối tháng 01 năm 1977.
  19. Đại Đức Thích Thiện Huệ, tục danh Nguyễn Văn Lang, bị bắt tại huyện Long Khánh, tỉnh Đồng Nai ngày 25-21976, hiện bị giam tại trại Lê Văn Duyệt, thành phố Hồ Chí Minh.
Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: