Vi Ðức Hồi: Đối mặt: Con Đường Đến Phong Trào Dân Chủ

DI TREN CON DUONG DAN CHU COVER FINALÐỐI MẶT: ÐI TRÊN CON ÐƯỜNG DÂN CHỦ, tác giả Vi Ðức Hồi
Người Việt Books xuất bản, 2014 (Bìa và trình bày: Uyên Nguyên)

Vài nét về Tác giả

Vi Đức Hồi, sinh năm 1956, dân tộc Tày, xuất thân trong một gia đình nông dân miền núi nghèo. Nguyên quán xã Tân Lập, Hữu Lũng, Lạng Sơn.
Thoát ly gia đình năm 1975. Vào Đảng cộng sản Việt Nam năm 1980 đến năm 2007 bị khai trừ và cách chức mọi chức vụ đang đảm nhiệm, buộc thôi việc vì đã cổ vũ cho phong trào dân chủ Việt Nam. Năm 2010, bị kết án 5 năm tù giam và 3 năm quản chế sau khi mãn hạn tù.
Các chức vụ trước khi tham gia phong trào đấu tranh dân chủ: Uỷ viên ban thường vụ huyện ủy, trưởng ban tuyên giáo huyện ủy, giám đốc trường đảng huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn.
Tháng 4 năm 2014, ra tù, hiện cư ngụ tại quê và tiếp tục tham gia đấu tranh dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

 

vdh-305Hồi tôi còn nhỏ, tôi nhớ bố tôi thường hay hát ru mấy câu ca dao quen thuộc cho tôi và các em tôi để ru ngủ. Thực ra ông không thuộc nhiều, chỉ quanh đi, quẩn lại mấy bài: “Con cò bay lả bay la, Mẹ đi làm về…”; rồi một vài bài về quê hương đất nước gì đó. Nhưng quen thuộc nhất vẫn là mấy câu ca dao:

Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bác Hồ hơn mẹ, hơn cha…

Rồi ông tự giải thích cho tôi nghe rằng: Núi Thái Sơn to lắm, vừa to vừa cao, ở mình không có núi nào to, cao bằng. Nước ở nguồn chảy ra hết ngày này qua ngày khác, hết năm này sang năm khác không bao giờ cạn. Người ta so sánh như vậy để thấy công lao cha mẹ sinh thành, chăm sóc, nuôi dưỡng đối với người con là rất to lớn. Đạo làm con phải biết điều đó và luôn phải có hiếu với cha mẹ, luôn phải vâng lời cha mẹ…

Bác Hồ như thế nào mà hơn cả bố, mẹ ạ? Tôi thắc mắc. Ông giải thích cho tôi: Lớn lên con sẽ hiểu. Bác Hồ là người có công rất lớn đối với đất nước, đối với dân tộc Việt Nam. Công lao của người lớn như biển đông. Con phải biết nếu không có Bác Hồ thì không có chúng ta hôm nay, chúng ta không được làm người, công lao Bác Hồ là hơn cả mẹ, hơn cả cha đấy.

Nhà tôi thuộc thành phần bần nông, bố tôi rất tự hào về thành phần “cơ bản” này, cố gắng lắm mới dựng được căn nhà gỗ ba gian. Hôm vào nhà mới có ông cán bộ tuyên huấn của huyện ủy được hạ phóng xuống nằm ở xã tôi đến hàng năm nay để vận đông nhân dân chấp hành đường lối chính sách của Đảng, nhà nước. Ông thường xuyên đi lại ăn nằm ở nhà tôi, vì bố tôi cũng làm một chân nho nhỏ ở xã (làm phó chủ tịch UB xã). Ông đến và đem tặng một câu đối viết bằng chữ quốc ngữ ép tròn, nguyên bản của hai vế đối là:

Ơn Bác Đảng ấm no kiến thiết,
Nhờ tổ tiên phúc trạch bình an.

Tôi vừa treo xong ở nơi trang trọng nhất, mấy ông bạn bố tôi tấm tắc khen hay và đua nhau đưa ra lời bình. Vế thứ hai thì đã rõ ít ai tranh luận và giải thích; vế thứ nhất thì nhiều người hăng hái phân tích. Ông cán bộ tuyên huấn của huyện ủy nói dõng dạc và sâu sắc lắm. Ông nói: nếu không có Đảng, không có Bác Hồ thì không thể có cái nhà mới này được, vì loại người như chúng ta suốt đời đi làm thuê làm mướn cho bọn địa chủ, cường hào, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, lấy đâu ra tiền của mà làm nhà? Mà có tiền của đi chăng nữa thì chúng nó cũng không cho ta làm vì nó chỉ muốn dân ta nghèo khổ suốt đời… Bác nói chí phải, câu đối thật ý nghĩa, cứ gọi là đối chan chát… Liên tiếp hết người này đến người kia chúc rượu ông. Lúc đó tôi cũng rất thán phục ông cán bộ của Đảng này. Mãi về sau tôi mới biết câu đối do một ông thầy đồ viết cho.

Tôi không thể nào quên được láng giềng cạnh nhà tôi có ông một hôm mua được một tấm ảnh Bác Hồ để treo nhân dịp tết nguyên đán sắp đến. Ông ngắm nghía mãi rồi quyết định treo lên một chiếc cột quân ở giữa nhà, vừa đóng đinh xong, ông cán bộ của Đảng vào liền xua tay và nói với chủ nhà: Ấy, chỗ này không được, phải treo lên chỗ trịnh trọng nhất chứ! Cái ảnh này còn quan trọng hơn cả tổ tiên chúng ta. Ông phải treo lên trên bàn thờ thì mới phải đạo chứ! Thế là tấm ảnh được đưa lên trên bàn thờ, cao hơn cả bát hương thờ tổ tiên. Từ đó ở làng tôi nhà ai mua được ảnh Bác Hồ đều treo ở vị trí như ông cán bộ của Đảng hướng dẫn.

 Vào dịp năm học mới, các gia đình đều mua sắm cho con bộ quần áo mới. Nhà tôi nghèo nên không có được niềm vui ấy. Cùng làng có đứa cùng trang lứa tôi, sáng nay nó mong mỏi mẹ nó đi chợ về. Chả là mẹ nó hứa mua cho nó bộ quần áo mới. Vừa thấy bóng dáng mẹ là nó chạy ùa về ngay, bọn trẻ chúng tôi cũng ùa theo xem. Vẫn ông cán bộ của Đảng hạ phóng ấy ngắm nghía bộ quần áo mới mà mẹ nó vừa mặc thử cho nó rồi dõng dạc: “Đây là áo của Đảng, của Bác Hồ, nhờ công ơn của Đảng, của bác ta mới có cơm ăn áo mặc, cháu cố gắng học cho giỏi để đền đáp công ơn Đảng, bác Hồ nhé.” Đứa trẻ gật đầu vâng vâng dạ dạ. Bố mẹ nó cũng gật gù tán thưởng và nói thêm với con: “Bác là cán bộ của Đảng, bác nói cái gì cũng đúng. Con phải nhớ lời bác dặn, nhớ chưa?” “Vâng ạ!” Đứa trẻ lại gật gù. Tôi tủi thân vì mình không có quần áo mới; và lúc đó cũng biết tự an ủi mình vì chắc còn rất nhiều bạn như mình.

Tôi lớn lên trong môi trường như vậy. Không riêng gì tôi, tôi mong ước lớn thật nhanh để được vào Đảng, để cống hiến được nhiều cho tổ quốc, cho nhân dân. Tôi cũng rất tự hào về cái thành phần được gọi là “cơ bản” của gia đình mình, tự hào về bố mình, tuy chẳng có trình độ gì nhưng cũng được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Có chút ít về lợi thế nên tôi đã sớm trở thành đoàn viên, hồi đó được gọi là cánh tay phải của Đảng. Có nhiều người thắc mắc, tôi là người thuận tay trái nên thấy cũng có lý. Sau này được đổi thành cánh tay đắc lực của Đảng, tôi tự hào lắm. Nhớ lại những năm mới đi công tác, tôi nôn nóng muốn được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Chả thế mà mấy lần chi đoàn cơ quan tôi bình bầu đoàn viên ưu tú để giới thiệu cho Đảng xem xét, bồi dưỡng kết nạp Đảng, tôi bị rớt mấy lần vì còn một số mặt hạn chế cần tiếp tục tu dưỡng, tôi đã cảm thấy chán sống. Thế rồi lại trấn tĩnh lại. Và cái gì đến sẽ đến. Năm 1980 tôi được kết nạp Đảng, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời tôi.

Tôi là người cũng chẳng có trình độ và tài cán gì cho lắm, nhưng được cấp trên quan tâm nâng đỡ nên vừa chuyển Đảng chính thức tôi đã được bầu vào cấp ủy địa phương (cấp huyện). Rồi năm 1983, được cử đi học trường Đảng Nguyễn Ái Quốc hệ cao cấp tại Hà Nội, đến năm 1986 ra trường. Trong thời gian học, tôi được tiếp nhận những thông tin rất quan trọng. Đó là: chủ nghĩa Mác Lê-nin là đỉnh cao của khoa học xã hội; xã hội lòai người tất yếu phải đi lên CNXH và CNCS; chủ nghĩa tư bản là thối nát, đang giãy chết, là đêm hôm trước của CNXH; muốn xây dựng CNXH và CNCS thành công thì tất yếu phải có chính Đảng Cộng sản lãnh đạo, sự lãnh đạo của Đảng là tuyệt đối; Đảng không chia sẻ quyền lực, quyền lãnh đạo cho bất cứ ai vv và vv.

Ra trường, tôi như một con chiên ngoan đạo. Tôi luôn tin vào Đảng, tôi là một trong những người lớn tiếng khẳng định đường lối của Đảng luôn đúng đắn, mặc dù trong thời điểm đó đất nước đang đứng bên bờ vực thẳm do những chính sách sai lầm của Đảng gây ra. Chắc vì thế tại đại hôi huyện Đảng bộ năm1986 tôi được bầu vào thường vụ huyện ủy, phụ trách công tác tổ chức của Đảng bộ huyện.

Đại hội 6 của Đảng mở ra đường hướng mới, đường hướng mở cửa, xóa bỏ tập trung quan liêu bao cấp, đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế… Tôi cũng là người hăng hái tuyên truyền về các quan diểm của Đảng theo đúng những gì Đảng định hướng. Cũng vào thời điểm này tôi bắt đầu vấp phải những hiện thực khách quan, tức là những thực tế sinh động trong đời sống xã hội, nếu đem đối chiếu với các quan điểm của Đảng thì tôi thấy nó không đúng với những gì mà Đảng đã nhồi nhét cho tôi. Tôi bắt đầu hình thành lối tư duy mới theo phong trào đổi mới tư duy mà Đảng đang hô hào và bắt đầu chú ý và tiếp nhận những thực tế đó để rồi tự mình đánh giá, phân tích, suy luận. Thật thú vị, có những cái mà trước đây mình cho là việc cỏn con, không đáng quan tâm, bỏ ngoài tai, thì bây giờ suy ngẫm lại, lại thấy nó rất có ý nghĩa. Lần theo lối tư duy này có những lúc tôi đã giật thót mình vì cảm thấy xấu hổ về những gì mà mình đã nói và làm, về những gì mà mình đã thao thao bất tuyệt để rồi bây giờ thấy nó thay đổi hẳn. Từ đó con người tôi đã có những chuyển biến căn bản trong tư tưởng, từ một con người nói và làm theo định hướng sang con người biết tiếp nhận hiện thực xã hội để rồi có thái độ nghiêm túc đánh giá, xem xét nó theo nhiều giác độ khác nhau.

*

Tôi bắt đầu có thái độ nghiêm túc để xem xét các vấn đề xảy ra ngay xung quanh mình, rồi đến những vấn đề ở nơi này, nơi khác. Những vấn đề rất tản mạn mà trước đây tôi không bao giờ để tâm tới.

Vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80, quân đội cho giải ngũ, phục viên hàng loạt chiến sĩ, sĩ quan trở về địa phương do cuộc “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” đã hoàn thành. Thời đó các cơ quan của Đảng, nhà nước, đoàn thể ở các cấp ồ ạt tiếp nhận những bộ đội phục viên xuất ngũ. Tiêu chuẩn duy nhất được tuyển dụng là Đảng viên vì thời đó đang thiếu cán bộ trầm trọng. Sau thời gian công tác, nhất là từ khi chuyển đổi cơ chế từ khép kín, bao cấp sang cơ chế mở, phần lớn đã không đáp ứng được cả về tiêu chuẩn cũng như về năng lực thực tiễn, vì tuyệt đại đa số là những người chẳng được qua trường lớp nào, lớn lên họ phải cầm súng chiến đấu theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng. Thế là hết đợt giảm biên này đến đợt giảm biên khác lần lượt họ phải về địa phương.Việc họ phải rời khỏi công sở thì chẳng ai phản ứng gì, ngay cả những người phải ra đi họ cũng thấy vui lòng vì tự mình thấy không đáp ứng được nhiệm vụ trong tình hình mới.

Cái đáng bàn là cuộc sống của họ như thế nào sau khi trở về địa phương. Nhà nước trả cho họ được khoảng 6 tháng lương, vẻn vẹn chỉ có vậy. Thật không may cho họ, thời điểm đó các địa phương đã tiến hành xong việc giao khoán ruộng đất ổn định lâu dài cho các hộ gia đình. Tôi đã được chứng kiến cảnh hẫng hụt của nhiều người khi họ tâm sự, cảnh ngơ ngác tìm kế sinh nhai. Đã không ít người đòi Đảng, chính quyền cơ sở phải chia ruộng đất cho họ, và tất nhiên Đảng, chính quyền không thể moi đâu ra ruộng đất để cho họ cày. Cực chẳng đã, nhiều người đã trực tiếp đòi ruộng cha ông mà ngày trước họ đã góp vào hợp tác xã, không ít người đã tự ý đi cày ruộng cha ông của mình, thế là hình ảnh người chiến sĩ năm xưa cả nước trân trọng, mến mộ:

“Hoan hô anh giải phóng quân!
Kính chào anh con người đẹp nhất.
Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất,
sống hiên ngang bất khuất trên đời”

Nay họ đã trở thành đối tượng của Đảng, chính quyền địa phương, họ được quy là công thần, gây rối, chống lại đường lối của Đảng, nhà nước. Kết cục có người bị đuổi ra khỏi Đảng, có người bị bắt lên xã, lên huyện tạm giam để xử lý vì đã ngang nhiên lấn chiếm đất đai của nhà nước đã giao cho người khác. Liên quan đến các chiến sĩ giải phóng quân, những con người đã từng làm nên “những chiến công hiển hách, giải phóng miền nam, thống nhất tổ quốc”, tôi chợt nhớ một sự kiện quan trọng trong đời tôi, vì nó một lần nữa khẳng định cách nhìn nhận khác thường của tôi về cuộc chiến tranh được gọi là “chống Mỹ, cứu nước”.

 Năm 1990, tôi được tham gia đoàn cấp ủy, chính quyền địa phương đi thăm viếng nghĩa trang Trường Sơn (vì địa phương tôi cũng có liệt sĩ được quy tụ tại nghĩa trang này). Hồi đó nghĩa trang đang được tu bổ, mở rộng và nâng cấp. Tôi thấy ghê rợn khi nhìn thấy máy ủi, ủi lên những khúc xương người, cả những đầu lâu bật lên. Nước mắt tôi ứa ra vì biết rằng còn rất nhiều, rất nhiều những hài cốt còn nằm sâu trong lòng đất này, mà chắc chắn chẳng phải hài cốt người Mỹ hay bất cứ của người nước ngoài nào đến đây xâm lược nước ta mà còn nằm dưới lòng đất này, mà chính là xương, thịt của người Việt Nam ta. Trong phạm vi bài viết này tôi không phát biểu chính kiến của mình, nhưng tôi tin rằng lịch sử sẽ rất công bằng để phán xét về cuộc chiến này.

Bất cứ ai không để ý đến thì nó cũng đập vào mắt hình ảnh trong xã hội Việt Nam bắt đầu xuất hiện một tầng lớp “giai cấp” mới. Tầng lớp này giàu lên một cách nhanh chóng, đó là tầng lớp Đảng viên cộng sản có chức, có quyền. Tôi cũng nhận thấy càng ngày cán bộ có quyền chức họ khác cán bộ ngày xưa lắm, họ trở nên xa dân, trở nên hách dịch, quan liêu từ lúc nào không biết. Tôi nhớ có lần một lãnh đạo cấp tỉnh xuống cơ sở thăm và làm việc, đám trẻ con xúm vào ngắm nghía chiếc xe con của vị lãnh đạo địa phương, có vị thư ký gì đó ra bảo lái xe với giọng gay gắt: Cậu phải chú ý, không để cho bọn trẻ con nó đến gần xe, kẻo nó nghịch,vẽ bậy lên xe bị xước sơn là hỏng xe. Người lái xe vâng dạ liên hồi. Rồi vẫn người cán bộ ấy, ông quay lại nói rất dõng dạc với đám trẻ con: bọn nhóc chúng mày đi ra ngoài chơi, không được động vào xe ô tô nhé, đứa nào nghịch xe bố mẹ phải đền ốm, bán hết số trâu, bò của xã này còn chưa đền nổi chiếc xe này, chúng mày hiểu chưa? Bọn trẻ con trố mắt rồi lảng ra ngoài. Tôi chạnh lòng vì thấy ông cán bộ kia ăn nói xấc xược với dân, nhất lại là với trẻ em. Tôi quay ra tính ngay, ở cái xã miền núi này có gần 400 hộ, tổng đàn trâu, bò có 600, bình quân mỗi hộ có hai con trâu hoặc bò, trong đó trâu bò cày kéo 450 con. Bình quân giá thời điểm đó trâu, bò cày, kéo bán được mỗi con 1 triệu, như vậy làm sao mua nổi chiếc xe của ông lãnh đạo tỉnh này, nghe nói giá chiếc xe này (cũng tính giá thời điểm đó) đến một tỷ đồng.

Cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao những người có chức có quyền, những người ở các ngành “nhạy cảm” mà dân vẫn gọi là ngành hái ra tiền, họ giàu lên như diều gặp gió mà xã hội ta đương nhiên thừa nhận, cho rằng những người này không giàu mới là chuyện lạ.

Tôi cũng không hiểu có nhiều quy định mang tính đặc quyền, đặc lợi mà được ban hành tưởng chừng nó không bao giờ thực hiện được bởi vì nó quá vô lý, vô lý đến nực cười, nực cười đến chảy nước mắt. Thí dụ: Họ quy định những lô đất khác nhau để cấp cho các đối tượng khác nhau, như lô đất của thường vụ cấp ủy, lô đất của cán bộ cốt cán, lô đất của cán bộ công chức thường… Sở dĩ phải phân ra như thế là vì mỗi lô có vị trí khác nhau và đi liền nó là giá trị của nó hoàn toàn khác nhau. Phân ra như vậy cũng là để có chế độ khác nhau. Đó là thường vụ cấp ủy, thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân sẽ được cấp với diện tích rộng hơn… Có điều là tuyệt đối không thấy có lô đất nào dành cho những đối tượng là thương binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình có công với nước… mặc dù một số đối tượng này họ cũng có nhu cầu về đất ở còn gay gắt hơn cả những đối tượng mà cấp ủy Đảng quy định, thậm chí đất của họ còn “được” nhà nước thu hồi để cấp cho cán bộ công chức.

Hàng năm người ta tổ chức kỷ niệm ngày 27-7 ngày thương binh – liệt sỹ. Tôi biết chuyện này là chuyện rất nhỏ nhưng thôi đã trót thì trót luôn, đã nghĩ đến nó thì cũng nói ra hết để nhẹ lòng, nhẹ dạ:

Uống nước nhớ nguồn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Đảng, nhà nước Việt Nam đã làm được nhiều việc để “đền ơn đáp nghĩa”, điều đó không ai giám hoàn toàn phủ nhận. Câu cửa miệng “ngày giỗ thằng chết, ngày tết thằng sống”. Đúng vậy, tôi được đi dự rất nhiều ngày lễ “trọng đại” này, gọi là ngày “thương binh liệt sĩ”, nhưng tôi chẳng thấy thương binh, gia đình liệt sĩ đâu, chỉ thấy nhẵn mặt đại diện các ban ngành mà bất cứ hội nghị nào cũng có mặt, có chăng lúc nhiều nhất tôi đếm được 4 người thương binh và 3 gia đình liệt sĩ trên tổng số hơn 6 chục người đại biểu và khi xếp mâm thì đến trên 8 chục người. Điều đáng nói là nhiều thôn, xã cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ chức huy động quyên góp quỹ “đền ơn đáp nghĩa” chỉ đủ hoặc không đủ chi bữa cơm để tổ chức tọa đàm kỷ niệm ngày lễ thiêng liêng này. Những đối tượng thương binh, gia đình liệt sĩ chỉ nhận được món quà của nhà nước gửi đến, ngoài ra họ chẳng nhận được gì thêm. Hình ảnh một người có quyền chức khá cao, trong không khí vui mừng, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, ông nói với giọng điệu giễu cợt: “theo tôi nên đề nghị Đảng, nhà nước tách ra ngày thương binh riêng, ngày liệt sĩ riêng để anh em mình có dịp bù khú hơn.” Rồi ông cười khà khà chẳng cần giữ ý tứ gì với mọi người xung quanh. Mọi người đồng thanh tán thưởng, cùng nhau nâng chén hô to: dô… dô.

Những chuyện tương tự trên không sao kể hết nổi. Người ta thì cho rằng chuyện đời thường, nhưng đối với tôi nó tác động thật sâu sắc. Từ những chuyện thường ngày xảy ra xung quanh tôi, tôi bắt đầu nghĩ đến những vấn đề lớn hơn, những vấn đề của đất nước, của dân tộc.

Thực tế trong cách mạng giải phóng dân tộc ta thấy hàng loạt các tổ chức ra đời, có những tổ chức Đảng đứng ra thành lập, có những tổ chức được thành lập một cách tự phát, với tất cả khao khát giành độc lập – tự do cho tổ quốc. Nhạy cảm những điều đó, Đảng cs đã tập hợp họ lại thành sức mạnh của dân tộc, thực hiện thành công mục tiêu cao cả đó. Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm nhiều thành viên ở các Đảng phái, tổ chức khác nhau và ngay sau đó nhiều thành viên đã phải tìm cách rút khỏi bởi sự xảo trá của Đảng Cộng sản. Năm 1988 Đảng cs “hóa vàng” Đảng dân chủ Việt Nam và Đảng xã hội Việt Nam, trốc tận gốc cái mà không những đang làm lu mờ đến vai trò của Đảng cs mà còn là tiềm ẩn làm lung lay vị trí độc tôn cai trị. Thở phào nhẹ nhõm vì Đảng đã làm được tất cả những gì cần làm để củng cố vị trí thống trị đất nước vĩnh viễn. Đảng rất đỗi tự hào vì được “nhân dân” gọi “Đảng ta”. Đất nước chỉ có một Đảng, dân tộc Việt Nam chỉ có một Đảng, một Đảng chi phối toàn bộ các hoạt động trong đời sống xa hội. Tôi lần mò để ý xem Đảng đã đi vào lòng người đến đâu, đi vào cuộc sống thế nào.

Là Đảng viên thì bất cứ ai cũng phải viết kiểm điểm vào dịp sáu tháng đầu năm và vào dịp cuối năm. Khổ nhất là ngững người không có vi phạm khuyết điểm gì, cố vắt óc nghĩ ra khuyết điểm gì đó để đưa vào bản kiểm điểm, không có không xong vì trong bản kiểm điểm bao giờ cũng có 2 phần: ưu điểm và khuyết điểm. Cực chẳng đã, tự nhận: “trong đấu tranh phê bình và tự phê bình còn rụt rè”, cụm từ này hầu hết Đảng viên nào cũng đưa vào và hết năm này sang năm khác vẫn phải sử dụng nó như một cẩm nang của mỗi Đảng viên.

 Mấy Đảng viên đang ngồi viết cấp tốc bản kiểm điểm, một người nói bâng quơ gì đó tôi không nhớ nữa.

 Đúng là trên đời chẳng có gì là tuyệt đối cả. Ông nhầm rồi, một người ngắt lời nói.

Ông thử viết vào bản kiểm điểm Đảng viên của ông là tôi tương đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng xem, mọi người cười ồ lên, người kia gãi đầu gãi tai tôi chịu, tôi chịu. Thế là cái học thuyết tương đối đã không đúng với đường lối của Đảng csvn.

Tôi rất chạnh lòng vì tôi là một trong những người được cấp ủy giao phó đi triển khai các nghị quyết của Đảng, khi được nghe mấy anh, chị em trong cơ quan kháo nhau:

Sợ nhất là phải đi học tập chính trị, nghe chẳng vào tai gì cả, buồn ngủ lắm… mấy cháu học sinh, sinh viên thì tỏ thái độ gay gắt: cháu ghét nhất là môn chủ nghĩa Mác – Lê nin, bọn cháu phải học cái đó để làm gì, lằng nhằng, viễn vông làm sao ấy…

Chuyện vào Đảng càng những năm gần đây càng lạ lẫm. Cấp trên giao cho cấp dưới như giao chỉ tiêu kế họach nhà nước, đơn vị nào không hoàn thành sẽ bị gạt ra khỏi danh hiệu “chi, Đảng bộ trong sạch, vững mạnh”. Chỉ tiêu ấy cuối cùng được đổ lên đầu chi bộ cơ sở Đảng. Được gặp một số thanh niên ở nông thôn ra học các lớp tìm hiểu về Đảng, lớp bồi dưỡng Đảng viên mới kết nạp, nhiều người than phiền:

Tự nhiên thấy bảo em phải đi học cảm tình Đảng, em biết gì đâu, bọn em vào Đảng để làm gì? Làm quan chẳng đến mình… Và thực tế nhiều Đảng viên mới kết nạp do phải đi tìm kế sinh nhai ở nơi khác, họ bỏ Đảng luôn, gia đình khó khăn không tham gia sinh hoạt được bỏ Đảng luôn. Điều lạ nữa là không ít Đảng viên đi thoát ly gia đình nay trở về địa phương cũng bỏ luôn. Đặc biệt là nhiều sĩ quan quân đội khi phục viên, xuất ngũ, về hưu cũng bỏ luôn. Lãnh đạo Đảng ở địa phương tức lắm, cho đây là xúc phạm đến thanh danh của Đảng nhưng cứ phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”.

 Một điều làm cho tôi tự nhiên thấy mất hết sự trân trọng của mình đối với Đảng, đó là sự xu nịnh của khá nhiều những Đảng viên có quyền chức. Câu chuyện xảy ra khá lâu rồi mà tôi vẫn nhớ như in vì nó tác động sâu sắc đến tôi: một hôm được sinh hoạt ở một Đảng bộ cơ quan khá lớn để tiến hành kiểm điểm Đảng viên dịp cuối năm. Người đứng đầu cơ quan và là phó bí thư Đảng ủy tiến hành kiểm điểm trước. Sau khi ông đọc kiểm điểm xong, bí thư Đảng ủy và là phó thủ trưởng cơ quan chủ trì cuộc họp yêu cầu mọi người tham gia ý kiến góp ý với lãnh đạo. Không ai chịu phát biểu, làm cho chủ trì hội nghị phải chỉ định từng người phát biểu, rồi ông chủ trì phát biểu cuối cùng. Ông nói rất nhiều ưu điểm của vị lãnh đạo này.Về khuyết điểm ông nhấn rất mạnh rằng:

Tôi đã nhiều lần nhắc nhở, phê bình thẳng thắn nhiều lần mà thấy đồng chí không tiến triển gì, lần này (ông nói): với tinh thần nói thẳng, nói thật, dù phải mất lòng tôi cũng nói, tôi nói là vì sự nghiệp chung, vì sự sống còn của xí nghiệp này, vì cuộc sống của hàng trăm cán bộ, công nhân đang nằm trong tay, khối óc của đồng chí nên tôi phải nói để đồng chí sửa ngay. Mọi người nín thở để rồi ông nói gì, điều khủng khiếp gì sẽ giáng xuống đây. Ông tiếp tục với giọng vẫn gay gắt: khuyết điểm lớn nhất của đồng chí là không chịu giữ gìn sức khỏe của mình. Mọi người cười ồ lên phá tan bầu không khí căng thẳng.

Năm 1985, thời đó, Đảng đang tập trung xây dựng cấp huyện thành pháo đài, là đơn vị tự chủ cả về kinh tế – chính trị – quân sự. Tại trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Hà Nội, lúc đó có lớp học bồi dưỡng cho cán bộ chủ chốt cấp huyện, một hôm có lãnh đạo cao cấp của Đảng và chính phủ đến thăm và nói chuyện. Tôi đang học ở đó và được đến nghe buổi nói chuyện hiếm có này. Người đến là Tố Hữu, lúc đó là ủy viên bộ chính trị, phó chủ tịch thứ nhất hội đồng bộ trưởng, trưởng ban xây dựng và tăng cường cấp huyện của Đảng, nhà nước. Hội trường chật ních chờ vị lãnh đạo này. Khi ông bước vào hội trường, tất cả đứng dậy vỗ tay nồng nhiệt chào đón đúng theo hướng dẫn của ban tổ chức. Ông chào mọi người và trịnh trọng tuyên bố với mọi người:

Trước tiên tôi thông báo với các đồng chí tin vui. Rồi ông ngừng nói, cả hội trường lặng như tờ để chờ đón tin vui, lát sau ông tuyên bố: tôi xin thông báo tin vui với các đồng chí là: đồng chí tổng bí thư Lê Duẩn rất quan tâm đến vấn đề xây dựng và tăng cường cấp huyện. Cả hội trường cười ồ lên rồi như họp chợ, mọi người bàn tán nhau cho đến khi ban tổ chức nhắc trật tự. Hôm sau trên trang nhất báo Nhân Dân đăng tải nguyên văn lời thông báo của nhà lãnh đạo Tố Hữu. Lúc giải lao mọi người chen nhau chụp ảnh với lãnh tụ, còn tôi lẩn ra quán uống trà.

Lãnh đạo Đảng quan trọng như vậy đấy, nhưng trong thực tế tôi cũng thấy nó khác, khác đến nỗi khó hiểu. Nếu là chức bí thư Đảng ở cấp huyên, cấp xã, phường thì không nói làm gì, nhưng tôi thấy cái chức bí thư chi, Đảng bộ ở cơ quan, xí nghiệp thì đưa đẩy nhau làm, có thể đây là nhiệm vụ kiêm nhiệm, chẳng có lương lậu gì cả, nhiều người nói: chỉ tội rách việc. Vì vậy chức ấy thường là đẩy cho cấp phó thủ trưởng cơ quan làm, nhiều xí nghiệp phân công cho trưởng phòng hành chính đảm nhiệm. Cuộc họp Đảng ủy, thủ trưởng đơn vị của mình đến dự chính là làm nhiệm vụ của người Đảng viên, nhưng trong thực tế lúc nào cũng được giới thiệu như một cấp trên về dự. Các cuộc sinh hoạt Đảng như vậy thường là muốn tổ chức bữa tươi, bí thư lúc nào cũng tranh thủ thủ trưởng cơ quan (chủ tài khoản), viện trợ cho chút ít. Phải chăng đó là lý do khiến nhiều người không muốn làm công tác Đảng, mặc dù vẫn biết “Đảng ta là Đảng cầm quyền”.

Quá trình vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đã gặp nhiều trắc trở giữa Đảng lãnh đạo với chính quyền quản lý. Nhớ lại có lần lãnh đạo địa phương đi dự hội nghị của đơn vị quân đội cấp sư đoàn, trong giới thiệu đại biểu, ban tổ chức giới thiệu ông chủ tịch huyện trước, sau đó mới giới thiệu bí thư huyện ủy, mặc dù ông bí thư là tỉnh ủy viên. Mặt ông bí thư đỏ như gà chọi, hậm hực lắm. Trong bữa ăn, có người nhắc ông sư trưởng tế nhị rằng: ban tổ chức hôm nay có sơ xuất, ông sư trưởng nói thẳng thừng: trong quân đội tư lệnh là trên hết, chúng tôi chỉ biết ông chủ tịch ủy ban là to nhất vì ông quản lý, điều hành mọi công việc, tôi chỉ làm việc với ông chủ tịch các cấp chứ chưa bao giờ làm việc với bí thư Đảng.

Có lẽ trong thực tế vai trò của Đảng ngày càng bị lu mờ, nguy cơ này càng rất nguy hiểm khi nó được vận hành trong quân đội, công an và lực lượng vũ trang nói chung. Để cứu nguy vai trò của Đảng ngày càng giảm thiểu trong đời sống xã hội, Đảng đã có bước điều chỉnh quan trọng, theo đó trong quân đội có chế độ chính ủy hoặc chính trị viên như trước đây, chức này ngang với chỉ huy trưởng để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Các lực lượng khác và các cơ quan, doanh nghiệp gắn thủ trưởng, giám đốc kiêm bí thư Đảng luôn.

*

“Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, Đảng bao gồm những người tiên tiến nhất…”. Đó là lời tự đề cao mình của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện rất rõ ràng trong cương lĩnh, điều lệ, cho đến tất cả các văn kiện của Đảng. Bởi nó là tiên tiến nhất, tiên phong nhất… nên nhiều người được khoác cho mình cái mác “hơn người” ấy bắt đầu tự cao, tự đại, tự cho mình đã hơn người.

 Hồi tôi đang theo học lớp đại học tại chức do viện đại học mở Hà Nội tổ chức, tôi nhớ có vị giáo sư nói với lớp tôi: “Cán bộ lãnh đạo Đảng hiện nay như một con ngan, cũng biết bay nhưng phải gọi chim bằng cụ; cũng biết bơi nhưng so với vịt thì thua xa; cũng đi bộ được nhưng không thể bằng gà”. Tôi ngậm ngùi, hèn chi đất nước ta, dân tộc ta ngày càng tụt hậu so với thiên hạ bởi cứ để những con ngan họach định quốc kế dân sinh. Đến đây, tôi chợt nhớ câu chuyện:

Có đoàn kiểm tra do tỉnh ủy quyết định đến một đơn vị làm nhiệm vụ thu ngân sách tiến hành kiểm tra các hoạt động của đơn vị. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, đoàn kiểm tra yêu cầu đơn vị đưa toàn bộ sổ sách, giấy tờ nộp cho đoàn để tiến hành làm việc. Chấp hành lệnh của đoàn kiểm tra, đơn vị bật toàn bộ hệ thống máy tính và giao cho đoàn, và nói: “tất cả ở trong đó hết”. Người này nhìn người kia lắc đầu, ông trưởng đoàn tuyên bố tạm dừng cuộc kiểm tra đối với đơn vị và ông phân bua ở đơn vị ông chưa được trang bị loại máy móc này nên không biết sử dụng. Chuyện cũng kể rằng có ông lãnh đạo Đảng cao nhất, ở một địa phương, một hôm ông đến dự khai giảng năm học mới ở một trường trọng điểm của tỉnh. Ông căn dặn học sinh: Trong thời đại ngày nay khi mà nước ta hòa nhập với thế giới, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, các cháu không những phải học tiếng Anh mà tiến tới còn phải học cả tiếng Mỹ nữa các cháu ạ.

 Bất cứ ai đã là Đảng viên cộng sản, được vào trường Đảng học từ hệ trung cấp trở lên, ra trường là có thể làm được lãnh đạo, các kiến thức khác không cần thiết bởi đã được trang bị học thuyết chủ nghĩa Mác-Lê nin, đỉnh cao của khoa học xã hội lòai người. Trớ trêu thay thời kỳ xét ngạch bậc công chức, các văn bằng, chứng chỉ do các trường Đảng từ tỉnh đến trung ương đều không được chính phủ chấp nhận, vì nó không nằm trong hệ thống các trường do bộ giáo dục quản lý (trừ trường đại học tuyên giáo). Vì vậy tuyệt đại đa số các cán bộ đang làm công tác xây dựng Đảng, các tổ chức đoàn thể ở các địa phương chỉ có văn bằng chứng chỉ trong hệ thống trường Đảng nên không thể xếp vào ngạch bậc công chức như cán sự hoặc chuyên viên được. Cú sốc bất ngờ làm cho uy lực của Đảng nói chung, cán bộ làm công tác Đảng, đoàn thể nói riêng bị giảm sút nghiêm trọng. Các cán bộ lãnh đạo Đảng tỏ ra cay cú, bất bình cho rằng Đảng đã bị chính quyền hạ nhục. Từ đó người cán bộ của Đảng trong con mắt của đội ngũ cán bộ công chức khác hẳn so với trước và những người làm công tác Đảng cũng đã tự mình điều chỉnh cả về phong thái cũng như phát ngôn từ tốn hơn. Cũng từ đó việc đi học tại các trường Đảng, tổ chức Đảng phải ra tay cắt cử, coi đây là nhiệm vụ của Đảng giao phó.

Tôi cũng thấy những điều bất cập của bộ máy được gọi là “hệ thống chính trị”, bao gồm Đảng, nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội. Với tư cách là “lãnh tụ chính trị”, Đảng tự tổ chức biên chế cho mình bộ máy đồ sộ không chịu thua kém bên nhà nước, chính phủ có bộ ngoại giao, Đảng có ban đối ngoại; chính phủ có bộ nông nghiệp, Đảng có ban nông nghiệp; chính phủ có ủy ban dân tộc, Đảng có ban dân tôc… (đến giờ có cắt giảm đi một số ban), và bên nhà nước có các cơ quan tư pháp, bên Đảng có ban nội chính. Hệ thống này được tổ chức đến các cấp địa phương.

Ngoài ra còn bộ máy của các tổ chức đoàn thể nhân dân cũng đồ sộ không kém phần. Tất cả đều làm nhiệm vụ quản lý đất nước, vận động nhân dân chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước, dìu dắt nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Nếu như các bộ máy này tự tìm nguồn thu, tự lo kinh phí cho những hoạt động của mình thì khỏi cần nói, đằng này tất cả đều ăn theo những đồng tiền đóng thuế của người dân. Là người có nhiều năm làm việc trong cơ quan Đảng, nhà nước, tôi thấy xấu hổ vì hàng năm cứ vào cuối năm, chuẩn bị bước sang năm mới lại diễn ra các cuộc cãi cọ rất gay gắt về việc phân bổ kinh phí cho các cơ quan Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân. Đơn vị nào cũng đưa ra vị trí, vai trò và tầm quan trọng của đơn vị mình hòng có được nhiều kinh phí để chi tiêu. Vào thời kỳ đó đâu đâu cũng thấy bàn luận, so tỵ giữa cơ quan này với cơ quan kia về kinh phí nhà nước cấp. Một đất nước đã nghèo mà còn đè lên đôi vai người dân những gánh nặng khổng lồ đến vậy thì làm sao dân tộc ta không kém thiên hạ?

Tôi thấy Đảng luôn tự hào về tài “nghệ thuật lãnh đạo” của Đảng. Đem chuyện này trao đổi với một số người dân thì họ nói: Đảng có tài lừa bịp thì có (Một nhóm người ngồi kháo nhau mà tôi thấy họ đều nói đúng). Họ nói rằng khi còn nhỏ đi học, sách giáo khoa cấp 1 dạy rằng ở Miền Nam (đồng bằng sông Cửu Long) có giống lúa trời, quanh năm thóc chín, người dân cứ việc đi gặt hái không bao giờ hết, vựa thóc này có thể nuôi sống được toàn thể đồng bào cả nước ta. Hiện nay đế quốc Mỹ đang xâm chiếm, chúng vơ vét hết của cải của đồng bào Miền Nam, khi nào giải phóng, thống nhất tổ quốc thì tha hồ mà sung sướng. Nay, thống nhất nước nhà, chẳng thấy lúa đâu, bài học ấy cũng biến mất.

“Cầm vàng còn sợ vàng rơi,
 Vào hợp tác xã đời đời ấm no”…

Một người đọc lại câu ca dao quen thuộc để châm chọc, mấy người khác chửi độc: khốn nạn cái hợp tác xã cấp thấp, cấp cao ấy, lùa dân vào một hố để chôn. Bây giờ thì tôi chẳng tin thằng cha nào hết, một người hăng hái nói tiếp: ông Hồ dặn sau khi thống nhất đất nước thì nhà nước miễn thuế cho nông dân ít nhất 2 năm, thế mà chúng nó giấu tiệt, giấu cho đến khi không giấu nổi nó mới chịu, ngay cả ngày chết của ông Hồ mà nó còn lừa dân thì chẳng có gì mà chúng nó không lừa.

Trở về nhà trong trạng thái mông lung suy nghĩ chẳng đâu vào đâu, tiết trời đầu xuân tô điểm cho những ngày Tết Nguyên Đán của dân tộc làm lòng người phấn chấn, vơi đi những căng thẳng, những gay gắt trong cuộc sống đời thường. Ngả lưng xuống giường cho giãn xương cốt bởi qua một ngày tiếp quản toàn những rượu, bia theo phong tục, tập quán của những ngày tết. Lúc này tôi mới để tâm nghe chiếc loa truyền thanh của huyện suốt ngày ra rả chĩa vào nhà tôi làm cho nhiều khi rất khó chịu nhưng vẫn phải nghe. Tôi bật cười vì chợt nhớ đến có ông bạn là người hay say rượu, “tửu nhập ngôn xuất”, ông đã xuất thì không ai có thể cắt ngang được. Hôm đến nhà tôi uống quá say, mọi người cứ để cho ông nói, vì có muốn nói cũng chẳng ai xen vào được, vì cứ cất tiếng là bị ông quát bỏ. Đúng 11 giờ trưa, chiếc loa truyền thanh bắt đầu phát với tần số âm lượng hết công suất. Ông ta chỉ tay về phía chiếc loa quát lớn “câm ngay”, loa vẫn không ngắt, rồi ông lại quát, tiếng loa lại to hơn, tức quá ông chửi đổng “đồ điếc lòi”.

Tôi bắt đầu thiu thiu ngủ, chiếc loa truyền thanh chuyển tải chương trình phát thanh quân đội nhân dân đến với bàn dân thiên hạ. Tôi cố tỉnh táo để nghe. Mở đầu chương trình là tin khắp nơi thi đua lập thành tích “mừng Đảng, mừng xuân”. Tôi băn khoăn vì tôi vừa đi một số nơi về, thủ đô Hà Nội có, Bắc Giang, Lạng Sơn có, và cả nhiều vùng nông thôn có, tôi chẳng thấy ở đâu có động thái nào chứng tỏ đang nô nức lập thành tích chào mừng ngày sinh nhật Đảng. Ngay cả việc mừng Đảng tôi cũng chẳng thấy ai đả động đến. Những ngày tết mọi người chỉ chúc nhau mừng xuân năm mới, chúc nhau sức khỏe, làm ăn phát đạt. Tuyệt nhiên tôi chưa thấy người nào từ những người có học vấn cao, trí thức rộng, những người bình thường, những người không bình thường cho đến những người thần kinh không ổn định hoặc những gã nát rượu bét nhè cũng không hề có lời nào nói đến việc mừng Đảng, lại càng không thấy có những việc làm thiết thực nào để kính dâng lên Đảng. Phải chăng nó diễn ra ở một vùng xa xôi hẻo lánh mà tôi không thể biết được, hoặc ở một nơi thiên đình nào đó mà mắt thường tôi không thể nhìn thấy.

Nằm trên giường nghe chương trình phát thanh quân đội nhân dân, tôi cứ để trôi theo dòng suy nghĩ tản mạn. Quân đội là của nhân dân, từ nhân dân mà ra, do nhân dân nuôi dưỡng. Ở các nước dân chủ văn minh, quân đội chỉ làm nhiệm vụ theo quy định của hiến pháp và pháp luật, nhà nước trực tiếp quản lý, điều hành quân đội. Quân đội không thể là công cụ của bất cứ một chính Đảng nào, nhiệm vụ thiêng liêng nhất của quân đội là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Quân đội nhân dân Việt Nam, nhiệm vụ hàng đầu lại là bảo vệ Đảng, cụm từ đinh tai nhức óc được lặp đi, lặp lại trong các chương trình phát thanh quân đội: “quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân…”. Một lực lượng hùng hậu, được trang bị các phương tiện và vũ khí tối tân, được chăm lo bằng những đồng tiền thuế của nhân dân đóng góp mà nhiệm vụ hàng đầu là để bảo vệ cho sự tồn tại của một chính Đảng thì quả là thiên hạ dễ có mấy tay! Điều này đã nói lên:

Một là Đảng đã tự tách mình ra khỏi nhân dân, đứng trên nhân dân, trên dân tộc, đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích dân tộc… Chính bởi thế nên mới tự quy định cho mình một chế độ riêng, một chế độ đặc biệt, một chế độ bất bình thường. Nếu Đảng với nhân dân là một, Đảng ở trong nhân dân, vì nhân dân phục vụ, lợi ích của Đảng nằm trong lợi ích của nhân dân thì quân đội chỉ làm nhiệm vụ trung với nước, hiếu với dân thì đã là đủ.

Hai là nguy cơ tồn vong của Đảng cầm quyền mà Đảng đã nhận thấy. Để bảo tồn chế độ độc tôn cai trị, không có con đường nào khác mà là con đường dễ nhất, hiệu quả nhất là lấy quân đội làm lá chắn để bảo vệ, để răn đe, để hậu thuẫn cho sự tồn tại. Ai cũng biết Việt Nam là đất nước không rộng, người đông, kinh tế chưa phát triển nên việc xây dựng quân đội chính quy, hiện đại còn những hạn chế. Tuy nhiên không ai phủ nhận quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội anh hùng, nhưng có một quân đội mà “càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, trăm trận trăm thắng, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như quân đội nhân dân Việt Nam thì trên thế giới này chắc hẳn là không kiếm đâu ra!

Tôi không hiểu tại sao Đảng luôn chọn cách nói lấy được, cách nói khác thường, cách nói coi thường người nghe, cách nói mị dân mà không hề ngượng mồm. Phải chăng đây là cách nói vốn có, cách nói đặc thù, cách nói cố hữu của bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản? Hơn thế nữa Đảng còn rất tự hào cho đây là một trong những tài “nghệ thuật lãnh đạo” của Đảng, là một trong những bí quyêt rất thành công của Đảng.

Công bằng mà nói thì Đảng cũng “tài” thật! Không tài sao được khi mà Đảng nhìn thấy đất nước ta đang sống trong áp bức, nô lệ, lòng khao khát của mỗi người dân là mong mỏi có được độc lập dân tộc, thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Thấu hiểu được nỗi đau mất nước của nhân dân, nên ngay từ khi ra đời năm 1930, cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã chỉ ra rằng: sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng sẽ đưa cả nước tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mới, xã hội văn minh, mọi người sống với nhau chan hòa, bình đẳng, thương yêu nhau, một xã hội xóa bỏ chế độ người bóc lột người, một xã hội công bằng dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản, một xã hội do nhân dân làm chủ, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân, là công bộc của dân, là đầy tớ trung thành của nhân dân…

Với những khẩu hiệu kêu như chuông vàng, với đường lối đi vào lòng người như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân đi theo mình, không quản ngại gian khổ, hy sinh một lòng đi theo Đảng, đoàn kết xung quanh Đảng hoàn thành cách mạng dân tộc, giành được chính quyền trao tay Đảng. Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là chính phủ đa nguyên chính trị, gồm nhiều Đảng phái, nhiều tổ chức, nhiều nhân sĩ yêu nước tham gia.

Với “tài thao lược” của Đảng, chỉ trong thời gian ngắn, Đảng đã loại trừ được những thành phần phi cộng sản ra khỏi bộ máy chính phủ, thay vào đó là toàn bộ những Đảng viên cộng sản cầm quyền. Đây cũng là cuộc cách mạng thể hiện sự “tài tình” của Đảng, Đảng tự hào nhờ có cách nói “vốn có” của Đảng nên đã gặt hái được những thành công vang dội trên nhiều lĩnh vực trong suốt quá trình cai trị đất nước. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và “chống Mỹ cứu nước” Đảng cũng luôn thành công trong việc vận dụng cái gọi là “nghệ thuật lãnh đạo”, trong đó công tác tuyên truyền đóng vai trò quan trọng để giành thắng lợi. Đảng đã kêu gọi nhân dân đoàn kết xung quanh Đảng, một lòng đi theo Đảng, tuyệt đối tin tưởng, trung thành với Đảng vì Đảng là đội quân tiên phong, Đảng bao gồm những người tiên tiến nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng luôn trung thành với lợi ích của nhân dân, của dân tộc… Hàng triệu người đã dấn thân theo Đảng lao vào cuộc chiến tàn khốc, đem lại sự vinh quang cho Đảng. Cho đến ngày nay nhiều cựu chiến binh vẫn phải thốt lên: Đảng quá “tài tình”, Đảng có cách nói làm cho mọi người sẵn sàng xông vào lửa như con thiêu thân, sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu lý tưởng của Đảng. Khi Đảng đã giành được mục tiêu thì Đảng quay ngoắt lại với những người đã hy sinh, cống hiến sức mình để hun đắp cho Đảng quang vinh.

Kháng chiến thắng lợi, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với đường lối tập trung mọi quyền lực về tay Đảng, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp tiếp tục duy trì và phát huy. Khi mà nền kinh tế nước ta đã gần như hoàn toàn bị sụp đổ, Đảng kêu gọi mọi người hãy “thắt lưng buộc bụng” để xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiên quyết không theo tư bản chủ nghĩa vì đó là chế độ xấu xa, thối nát. Đùng một cái Đảng bảo phải thay đổi tư duy, nhất là tư duy kinh tế, chấp nhận sự vận hành của cơ chế thị trường. Điều nực cười là cơ chế thị trường nó đã là vốn có trong thế giới tư bản, chính Đảng đã ngăn cấm nó không cho nó được bén mảng đến đất nước mà Đảng đang cai trị, vì sợ nó làm phai nhạt mục tiêu lý tưởng của chế độ. Hàng trăm năm nay Đảng vẫn nguyền rủa nó, vậy mà bây giờ phải chấp nhận nó vì nếu không chế độ của Đảng Cộng sản tất yếu sẽ sụp đổ. Đảng đã không một chút ngượng ngùng khi tuyên bố với bàn dân thiên hạ là Đảng đã sáng suốt, Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới này. Công lao này một lần nữa lại thuộc về Đảng quang vinh.

Tôi còn rất nhớ năm 1990, có một lãnh tụ của Đảng trong dịp đi thăm chúc tết các cháu thiếu nhi nhân ngày 1-6, lãnh tụ này tuyên bố với các cháu nhi đồng rằng: các cháu yêu qúy, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu to lớn… Đứng trước một đối tượng là các cháu thiếu nhi mà lãnh tụ của Đảng cũng không loại trừ để chuyển tải thông tin về công lao của Đảng! Thế mới biết bộ máy tuyên truyền của Đảng như thế nào?

Cứ ngẫm lại là thấy ở Việt Nam mọi hoạt động trong đời sống xã hội mà đạt được những kết quả nhất định đều gắn với công lao của Đảng.

Ngày nay, khi mà toàn cầu hóa đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại, người dân đã tiếp cận được nhiều luồng thông tin khác nhau, tất yếu sẽ có những nhận định, đánh giá về thời cuộc không còn mông muội như trước đây, vậy mà bộ máy tuyên truyền đồ sộ của Đảng vẫn không hề chuyển dịch chút nào cả về phong cách, hình thức cũng như nội dung tuyên truyền. Vẫn chứng nào tật ấy, vẫn ra rả nói không biết ngượng, nói lấy được, nói cho sướng mồm, không cần biết người nghe họ phản ứng thế nào. Chẳng hạn: trong thời đại ngày nay, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội trước hết phải yêu Đảng, trung với Đảng là trung với nước, hiếu với dân!

Phàm những kẻ sắp mất đi thường hay hốt hoảng, đố kị, lóe lên sức mãnh liệt còn lại thể hiện sự tiếc nuối, sự tuyệt vọng của nó.

*

Là một công dân, một Đảng viên của Đảng, tôi rất để tâm suy nghĩ về cơ chế: “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đây là cơ chế tổng thể cho sự vận hành của đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Hãy xem cơ chế này đã giúp ích gì cho đất nước ta.

 Theo cơ chế thì Đảng lãnh đạo bằng những chủ trương đường lối (ra nghị quyết), rồi Đảng tiến hành kiểm tra việc triển khai, thực hiện nghị quyết của Đảng đã đề ra, những Đảng viên của Đảng là lực lượng tiên phong gương mẫu trong việc thi hành nghị quyết của Đảng. Đảng cũng là người có quyền tuyển chọn, phân công người của Đảng trực tiếp quản lý, điều hành, triển khai thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, biến nghị quyết của Đảng thành hiện thực cách mạng. Tôi thiết tưởng rằng người nghĩ ra những chủ trương chính sách đúng đắn, phải là những người hội tụ đủ những tiêu chí cần thiết, thật sự là người có tầm nhìn xa, trông rộng. Trong thực tế ở các địa phương, người cán bộ lãnh đạo Đảng, những người làm công tác Đảng nếu thống kê lên đều cho thấy là những người có trình độ thâp nhất, có năng lực hạn chế nhất so với đội ngũ cán bộ công chức cùng cấp. Phần lớn cán bộ của Đảng thiếu chuyên môn, thiếu trình độ năng lực do những năm trước đây, cán bộ của Đảng thường được tuyển chọn từ bộ đội phục viên, xuất ngũ. Đội ngũ này hiện vẫn chiếm tỉ trọng rất lớn trong các cơ quan của Đảng, vì vậy trong thực tế họ không thể ngang tầm với nhiệm vụ là người lãnh đạo, người tham mưu để ra các quyết sách đúng đắn được.

Đảng là người lãnh đạo, không phải là người trực tiếp tổ chức thực hiện thì việc ra nghị quyết bao giờ cũng rất hạn chế tính thực tiễn, nghị quyết bao giờ cũng mang nặng tính quan liêu, khi áp dụng có nhiều bất cập. Vì vậy, điều dễ hiểu là lúc nào Đảng cũng hô hào phải đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Thực tế thì giữa nghị quyết của Đảng và thực tiễn cuộc sống có khoảng cách rất xa, vì Đảng đã không lấy thực tiễn làm xuất phát điểm, thiếu tôn trọng quan điểm thực tiễn trong xây dựng nghị quyết. Trong thực tế tôi chưa thấy người dân nào mong mỏi, chờ đón nghị quyết của Đảng đến với nhân dân. Vậy mà Đảng phịa ra rằng nghị quyết của Đảng ra đời đáp ứng lòng mong mỏi của các tầng lớp nhân dân. Nhân dân thờ ơ, chẳng cần đếm xỉa đến những nghị quyết của Đảng, là bởi họ thường là người bị thua thiệt, ít được hưởng lợi từ các chính sách của Đảng, trong khi đó nghĩa vụ của họ ngày càng phải gánh nặng.

Về vai trò của nhà nước, với tư cách là người quản lý vận hành theo cơ chế này, nhà nước nói chung, đặc biệt là nhà nước ở cấp địa phương và cơ sở, một mặt phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật hiện hành, nhưng mặt khác họ lại tuân thủ theo các nghị quyết của Đảng cùng cấp nên đã làm cho vai trò điều hành có những hạn chế rất lớn, luôn bị động, thiên biến vạn hóa làm sao cho được cả đôi đàng. Cũng từ cơ chế này đã tạo ra sự nghi kị lẫn nhau giữa Đảng với chính quyền là chuyện phổ biến ở các cấp. Nó làm cho những người làm công tác quản lý điều hành nhà nước lúng túng, khó xử, thiếu chủ động, thiếu sáng tạo, thiếu tính quyết đoán, dẫn đến công việc trì trệ, tạo cơ hội tránh né, ngại va chạm… Hậu quả là xã hội lũng đoạn, tiêu cực nảy sinh, kỷ cương phép nước không nghiêm, vận dụng luật pháp tùy tiện. Cuộc họp ủy ban nhân dân các cấp bao giờ cũng có sự tham dự của thường trực cấp ủy (bí thư hoặc phó bí thư thường trực) cùng cấp và tất nhiên có ý kiến phát biểu chỉ đạo, người chủ trì cuộc họp phải kết luận theo hướng đó. Cấp dưới, nhất là cấp cơ sở luôn phải hứng chịu sự chỉ đạo từ nhiều phía, hôm nay cấp ủy cấp trên đến thăm và làm việc, ngày mai thường trực hội đồng nhân dân đến kiểm tra giám sát, ngày kia ủy ban nhân dân cấp trên đến kiểm tra đôn đốc, không ít có những trường hợp mỗi người nói một nẻo.

Khẩu hiệu “nhân dân làm chủ” luôn thường trực trong cổ họng của mỗi cán bộ lãnh đạo của Đảng. Ta hãy xem nhân dân làm chủ được gì trong chế độ do Đảng Cộng sản cai trị: Ai cũng biết, muốn cho dân làm chủ thì điều kiện tối thiểu là phải nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân, người dân phải được tiếp cận những thông tin khách quan, thông tin đa chiều. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, có những người kể từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến khi nhắm mắt xuôi chân chưa hề tiếp nhận được một thông tin nào ngoài những thông tin chính thống do Đảng Cộng sản phát ra. Các đài phát thanh nước ngoài bị chặn sóng, mạng internet bị tường lửa ngăn chăn. Báo chí sách vở không đồng quan điểm của Đảng bị cấm nghiêm ngặt. Đảng nắm trong tay trên 600 tờ báo chỉ làm nhiệm vụ duy nhất là ca ngợi Đảng, ca ngợi chế độ do Đảng đang cai trị, làm hậu thuẫn cho Đảng để Đảng dễ bề thống trị đất nước.

Một trong những nội dung quan trọng nhất để nhân dân làm chủ là quyền tự do phát biểu chính kiến của mình.Thực tế cho thấy trong xã hội ta, đã có vô số nạn nhân do có ý kiến phát biểu không đồng hành với đường lối của Đảng. Họ bị sách nhiễu, bị phân biệt đối xử, bị xử lý kỷ luật với những hình thức nặng nề, thậm chí bị quy chụp cho là phản động, chống Đảng, chống nhà nước, phản bội lợi ích dân tộc! Hàng trăm người đã và đang phải chịu cảnh tù đầy bởi lý do bày tỏ quan điểm khác với chủ trương quan điểm của Đảng. Chế độ Đảng trị bắt người dân phải đồng thanh ca ngợi Đảng, nói tốt cho Đảng, bất luận Đảng đúng hay sai, muốn góp ý cho Đảng phải có dịp do Đảng tổ chức, phải nói đúng nơi, đúng chỗ, nói vừa phải thôi để Đảng tiếp thu được. Đặc biệt không bao giờ được nói Đảng sai lầm về đường lối mà chỉ có thể sai lầm ở chỗ tổ chức triển khai, về nhận thức của các cấp chưa thấu suốt đường lối của Đảng. Đảng cũng chưa bao giờ nhận về mình sai lầm về đường lối.

Đặc biệt về chế độ lập hội, Đảng luôn có chính sách tàn khốc để đối xử với những ai dám nhen nhóm thành lập hội, đặc biệt là việc lăm le thành lập Đảng phái trong lòng xã hội mà Đảng đang cai quản. Đảng cho rằng sự tồn tại và phát triển các tổ chức xã hội, các Đảng phái chính trị là việc xúc phạm đến uy lực của Đảng, xâm phạm đến an ninh của Đảng, là nguy cơ làm cho Đảng mất quyền độc tôn cai trị. Vì vậy, từ ngày Đảng lên ngôi, không có bất cứ một tổ chức nào được ra đời, thậm chí những tổ chức, những chính Đảng, chính do Đảng, do lãnh tụ của Đảng thành lập, sau khi đã vắt hết nước, Đảng đã hóa vàng họ không thương tiếc vì Đảng cho rằng nó trực tiếp ảnh hưởng tới an nguy của Đảng cầm quyền.

Hiến pháp quy định công dân có quyền biểu tình, song thực tế việc biểu tình ở Việt Nam được hiểu là nếu tổ chức biểu tình ủng hộ Đảng, tán dương với đường lối, chủ trương của Đảng thì việc xin phép biểu tình sẽ được chấp nhận. Còn ngược lại xin phép biểu tình phản đối, không đồng tình với Đảng, không có nội dung cổ vũ cho Đảng thì lập tức bị dập tắt. Ai cố ý tổ chức thì lập tức bị bắt tống giam, bị quy nhẹ là gây rối nơi công cộng, nặng là bạo loạn lật đổ chính quyền. Từ ngày thành lập nước đến nay tôi chưa hề thấy có cuộc biểu tình nào được gọi là ủng hộ các đường lối chính sách của Đảng trừ các cuộc do chính Đảng tổ chức, huy động để cổ vũ cho chính mình hòng lòe bịp dư luận.

Ai cũng biết quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tư tưởng là những quyền cơ bản của con người. Những quyền đó không một ai có quyền tước đoạt họ. Nhưng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản cầm quyền thì những quyền đó ngang nhiên Đảng đã tước đoạt một cách trắng trợn nhưng không ai làm gì được, vì Đảng có trong tay nhà nước, có quân đội, có công an, có nhà tù, có tòa án… Đảng sẵn sàng kết tội cho bất cứ ai mà cả gan thực thi những quyền cơ bản của con người trong xã hội mà Đảng đang là bề trên cai trị. Mất đi những quyền cơ bản ấy là mất đi quyền làm người, đến quyền làm người còn không có thì nói gì đến “quyền làm chủ” của nhân dân! Khẩu hiệu “nhân dân làm chủ” là khẩu hiệu phỉnh nịnh, lừa bịp, mị dân.

Cơ chế: “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là chủ trương gắn kết quyền lực của Đảng vào quá trình xây dựng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, là chủ trương nối dài bàn tay của Đảng vào các ngóc ngách trong đời sống xã hội, là cách thể hiện công lao, quyền lực của Đảng, âm mưu toan tính lợi lộc của Đảng. Xét cho cùng cơ chế này nó là sự ràng buộc lẫn nhau, giằng co nhau, hạn chế lẫn nhau và nó là sự níu kéo lại của sự phát triển xã hội. Nó chỉ có tác dụng, thậm chí rất tác dụng cho việc không quy được cho bất cứ một cá nhân nào phải chịu trách nhiệm cả về pháp luật lẫn vật chất về những quyết sách sai lầm, về những sai phạm do cá nhân gây ra, dù đó là nghiêm trọng nhất. Tất cả đều đổ đầu cho cơ chế, tất cả là tập thể chịu trách nhiệm, và chỉ cần điều chỉnh chút ít về cơ chế, chỉ cần tập thể rút kinh nghiệm là xong và thực tế đã cho thấy chưa có lãnh tụ nào của Đảng bị kỷ luật, bị cách chức, bị truy tố trước pháp luật về những hành vi sai phạm của mình.

Nhân dân ta, đất nước ta đã và đang phải hứng chịu những hậu quả của cái cơ chế do những người tự xưng là “lãnh đạo tài tình, là tiên phong, là sáng suốt” đẻ ra. Đã đến lúc cần vứt vào sọt rác một cơ chế lỗi thời, mang đầy tính đặc quyền, đặc lợi của chế độ độc tôn Đảng trị trên đất nước ta.

Vi Ðức Hồi,
trích Ðối Mặt, Ði Trên Con Ðường Dân Chủ,
Người Việt Books xuất bản, 2015

 

  • Vi Đức Hồi. (hình vẽ nguồn: Quỹ TNLT)

 

Mục Lục

  • Vài nét về Tác giả
  • Lời Giới Thiệu
  • Tựa Của Nhà Xuất Bản
  • Đối mặt: Con Đường Đến Phong Trào Dân Chủ
  • Thư gửi bạn
  • Thư gửi bạn 2
  • Thư gửi bạn 3
  • Thư gửi bạn 4
  • Thư gửi bạn 5
  • Đối Mặt
  • Thay Lời Kết
  • Hãy để nhân dân tự quyết định người đại biểu cho chính mình
  • Sự ngạo mạn của Đảng Cộng sản Việt Nam
  • Quốc hội Việt Nam dân bầu hay Đảng cử
  • Thần tượng Hồ Chí Minh không thể cứu cánh cho Đảng CSVN
  • Các nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền không phạm tội chống lại nhà nước Việt Nam
  • Góc khuất của chương trình xóa đói giảm nghèo
  • Nếu như Trường Thái tạm gác lại ngòi bút nô dịch
  • Thế trận dân chủ trong tình hình mới
  • Chế độ độc tài đã làm thui chột nền giáo dục Việt Nam
  • Chuyện để ngẫm
  • Chuyện ở xứ C còng

Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: