Trịnh Anh Tuấn: 6 Sai Phạm Trong Quá Trình Tố Tụng Của Vụ Án Ba Sàm

anh-ba-sam-cover-final

Chỉ còn một tuần nữa, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội sẽ chính thức tổ chức phiên tòa xét xử blogger Anh Ba Sàm, tức ông Nguyễn Hữu Vinh, và bà Nguyễn Thị Minh Thúy (19/1).

Rất được công luận Việt Nam quan tâm, đây là một vụ án đặc biệt mà không đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ, trải qua hơn 20 tháng giam giữ, với 1 bản kết luận điều tra và 4 bản kết luận điều tra bổ sung của cơ quan an ninh, 2 lần trả hồ sơ của Viện Kiểm sát, 3 lần trả hồ sơ của Tòa án, các nghi can vẫn chưa “được” đưa ra xét xử. Không đặc biệt là ở chỗ, giống như trong nhiều vụ án kéo dài khác, cơ quan tiến hành tố tụng đã nhiều lần sai phạm. Bài viết sau đây chỉ liệt kê và phân tích 6 trong số nhiều sai phạm đó.

Sai phạm 1: Bắt giữ khẩn cấp trái luật

Theo Điều 81, Bộ luật Tố tụng Hình sự thì những trường hợp sau đây được bắt khẩn cấp:

  1. a) Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
    b) Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
    c) Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Cơ quan An ninh Điều tra (ANĐT) cáo buộc ông Vinh vi phạm Điều 258 Bộ luật Hình sự, đây không phải là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, nên trường hợp a) bị loại bỏ. Ông Vinh bị bắt một mình khi đang ở nhà, không có ai chứng kiến cũng không hề có hành vi bỏ trốn, nên trường hợp b) cũng không phù hợp.

Theo cơ quan ANĐT, ông Vinh bị bắt trong trường hợp c), tức là “có dấu vết của tội phạm ở người hoặc chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”. Chứng cứ để cáo buộc là những bài viết trên Internet.

Nhưng việc thu thập, xử lý vật chứng lại cũng có sai phạm: Để hợp pháp hóa việc bắt khẩn cấp, những người thực hiện hành vi bắt khẩn cấp ông Nguyễn Hữu Vinh đã tự tiện sử dụng 3 máy tính của ông và in ra rất nhiều bài viết và tài liệu khác trong 3 máy tính này của ông Vinh.

Như vậy, cơ quan ANĐT đã có hành vi tác động vào máy tính của ông Vinh, truy cập Internet và in ra các tài liệu để phục vụ việc bắt người. Việc này vi phạm nghiêm trọng quy định về thu thập và bảo quản vật chứng (Điều 75 Bộ luật Tố tụng Hình sự), cho nên những tài liệu do công an tự in ra không thể là chứng cứ để bắt giữ ông Vinh được.

Ngoài ra, ông Vinh bị bắt khẩn cấp ngày 05/5/2014. Theo quy định, trong vòng 24 giờ sau khi thực hiện lệnh bắt khẩn cấp, cơ quan thực hiện hành vi bắt giữ phải báo cho Viện Kiểm sát và trong vòng 12 giờ, Viện Kiểm sát phải phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh này. Tuy nhiên, mãi đến ngày 14/05/2014 tức là 9 ngày sau, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao mới có quyết định phê chuẩn lệnh bắt người. Việc này vi phạm quy định về việc bắt giữ khẩn cấp về thời gian phê chuẩn.

Sai phạm 2: Người ký quyết định khởi tố vụ án có liên quan đến vụ án

Trung tướng Hoàng Kông Tư, thời điểm đó là Thủ trưởng Cơ quan ANĐT, là người đưa ra quyết định khởi tố vụ án. Tuy nhiên, trong số 24 bài viết là chứng cứ cáo buộc việc phạm tội của ông Vinh và bà Thúy, có 1 bài có liên quan tới ông, là bài “‘Ông trời con’ Hoàng Kông Tư vs. BBC Việt ngữ”.

Do đó, việc chính ông Tư ký quyết định khởi tố vụ án là vi phạm Điều 42, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Sai phạm 3: Thu thập chứng cứ không hợp pháp

Chứng cứ để kết tội ông Vinh và bà Thúy trong vụ án này là những bài viết trên mạng Internet, tức là những chứng cứ là dữ liệu điện tử. BLTTHS năm 2003 không hề có quy định về việc thu thập những chứng cứ là dữ liệu điện tử.

Tại điều 5, Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC quy định về việc thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử như sau:

Điều 5. Trình tự, thủ tục thu thập dữ liệu điện tử

  1. Dữ liệu điện tử là thông tin chứa trong phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử có thể coi là chứng cứ. Để bảo đảm giá trị chứng cứ, cần thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự đối với việc khám xét, thu giữ, tạm giữ, bảo quản vật chứng có lưu dữ liệu điện tử như: Ổ cứng máy tính, bộ nhớ trong của điện thoại di động, máy ảnh, máy ghi hình, máy fax, máy ghi âm, máy đọc thẻ, thẻ từ, thẻ chíp, thẻ nhớ, USB, đĩa CD, đĩa VCD, đĩa DVD và các loại phương tiện điện tử khác. Khi thu giữ phương tiện điện tử cần chú ý:
    a) Đối với máy tính: Không được tắt (shutdown) theo trình tự mà ngắt nguồn cung cấp điện trực tiếp cho thân máy (CPU) hoặc máy tính (đối với máy tính xách tay);
    b) Đối với điện thoại di động: Tắt máy, thu giữ cả điện thoại, thẻ nhớ, thẻ sim, bộ sạc điện thoại (nếu có);
    c) Đối với phương tiện điện tử khác: Tắt thiết bị, thu giữ cả phụ kiện đi kèm (nếu có).
  1. Khi bàn giao cho chuyên gia phục hồi dữ liệu điện tử, phải làm thủ tục mở niêm phong và niêm phong theo quy định của pháp luật. Để bảo đảm tính nguyên trạng và toàn vẹn của chứng cứ lưu trong vật chứng, việc sao chép dữ liệu để phục hồi, phân tích phải được thực hiện bằng thiết bị “chỉ đọc” (Read only), chỉ thực hiện trên bản sao, không được ghi đè, sửa chữa dữ liệu. Để chuyển hóa thành chứng cứ pháp lý, dữ liệu điện tử phải được chuyển sang dạng có thể đọc được, nhìn được, nghe được; phải lập biên bản về nội dung dữ liệu điện tử đã phục hồi, phân tích; kèm theo lời khai, xác nhận của người phạm tội, người làm chứng về những thông tin đó.

Tuy nhiên, khi tiến hành bắt giữ, cơ quan ANĐT đã không chỉ không tuân thủ quy trình nêu trên, mà còn có hành vi tự tiện sử dụng, in ấn trên máy tính của ông Vinh. Do vậy, với sự can thiệp trái luật của cơ quan ANĐT, những bài viết được in ra từ máy tính ông Vinh cũng như những tài liệu khác từ máy tính không có giá trị để làm chứng cứ kết tội.

Sai phạm 4: Không có bị hại nào trong vụ án

Ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị truy tố theo Điều 258 Bộ luật Hình sự. Điều này quy định

  1.   Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2.  Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Theo đó, những người vi phạm Điều 258 đã “xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. Tuy nhiên, trong cả quá trình điều tra cũng như bản cáo trạng, không hề thấy xuất hiện một bị hại cụ thể nào. Đại diện cho Nhà nước, cụ thể là ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước – cũng không có một văn bản nào thể hiện việc lợi ích Nhà nước Việt Nam bị xâm phạm. Không thấy cá nhân, tổ chức nào hiện diện để chứng tỏ họ bị xâm phạm lợi ích.

Sai phạm 5: Tòa án, Viện Kiểm Sát trả hồ sơ vượt quá thẩm quyền cho phép

Ngày 07/12/2015, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã trả hồ sơ lần thứ 3 về Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, yêu cầu điều tra bổ sung về “vấn đề Đảng tịch”. Viện Kiểm Sát có thẩm quyền cũng trả hồ sơ để điều tra bổ sung 2 lần. Điều này trái với quy định tại khoản 2, Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự về “Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại”:

  1. Trong trường hợp vụ án do Viện Kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá hai tháng; nếu do Toà án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá một tháng. Viện Kiểm sát hoặc Toà án chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần. Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra.

Sai phạm 6: Sử dụng cơ quan không có thẩm quyền và trình độ để giám định chứng cứ kết tội

Cơ quan ANĐT đã sử dụng 24 bài viết trên Internet để làm chứng cứ kết tội ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy. Để 24 bài viết này có thể là chứng cứ, cơ quan này tiến hành trưng cầu giám định Bộ Thông tin – Truyền thông nội dung của 24 bài viết.

Tuy nhiên, chứng cứ ở đây là “nội dung các bài viết”, tức là những sản phẩm thuộc về văn hóa chứ không chỉ là sản phẩm trên lĩnh vực công nghệ thông tin. Nội dung 24 bài viết đề cập đến nhiều mảng: kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử, khoa học kỹ thuật… Vì vậy, để giám định được tính đúng sai của các bài viết, xem chúng xâm phạm lợi ích của ai, thì phải có một hội đồng đủ chuyên môn để giám định.

Trong khi đó, Bộ Thông tin – Truyền thông chỉ đủ khả năng giám định những sản phẩm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông chứ không thể đủ khả năng thẩm định được những bài viết đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, trong các lĩnh vực khác nhau.

Căn cứ vào 6 sai phạm nêu trên trong quá trình tố tụng, có thể nói, cơ quan hành pháp và cả hệ thống tư pháp của Việt Nam đã thể hiện sự lúng túng trong việc nhất mực muốn khép tội blogger Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy.

* Hình: Ông Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm) trong một ảnh chụp tại văn phòng làm việc

SIX MAJOR DUE PROCESS VIOLATIONS IN BA SAM CASE

It is only one week from now until the municipal-level People’s Court of Hanoi officially opens a court session to bring to trial blogger Nguyen Huu Vinh, a.k.a. Ba Sam, and Ms. Nguyen Thi Minh Thuy (January 19th).

Receiving much public attention, this is a special, yet simultaneously not a very special case. On the one hand, the case is special because the related suspects have not yet been brought to trial, even after over 20 months of detention, along with 01 written investigation conclusion, 04 complementary investigation conclusions by the public security agency, 02 times of returning the files by the Procuracy and 03 times of returning the files by the Court. On the other hand, it is also not special because like other protracted cases, numerous violations have been committed by the procedure-conducting body.

This article aims only to list and analyze six out of those violations.

Violation # 1: Urgent arrest carried out in an unlawful manner According to Article 81 of the Criminal Procedure Code, urgent arrests can be made in the following cases:
a) When there exist grounds to believe that such persons are preparing to commit very serious or exceptionally serious offenses;

b) When victims or persons present at the scenes where the offense occurred saw with their own eyes and confirmed that such persons are the very ones who committed the offenses and it is deemed necessary to immediately prevent such persons from escaping.

c) When traces of offenses are found on the bodies or the residences of the persons suspected of having committed the offenses and it is deemed necessary to immediately prevent such persons from escaping or destroying evidences.

The Investigative Security Agency (ISA) under the Ministry of Public Security charges Vinh of trespassing on Article 258 of the Penal Code, which does not fall into the category of very serious or exceptionally serious offenses, therefore, case a) should be dismissed. Vinh was arrested alone when staying at home, without any witness and was not engaged in the act of escaping, making option b) also irrelevant.

According to the ISA, Vinh was arrested in situation c), “When traces of offenses are found on the bodies or the residences of the persons suspected of having committed the offenses and it is deemed necessary to immediately prevent such persons from escaping or destroying evidences”. The evidences used for charging are those articles posted on the Internet.

However, the collection and handling of exhibits were also conducted unlawfully. In order to legalize the urgent arrest of Mr. Vinh, those who involved in the act arbitrarily accessed his 03 computers and printed out many articles and documents therefrom.

By this means, the ISA made impacts on Vinh’s computers, accessing the Internet and printed out documents for the purpose of arresting people. This act seriously violated the regulations the collection and preservation of exhibits (Article 75 – Criminal Procedure Code), so those documents printed out by the police do not qualify as valid evidences for the arrest of Mr. Vinh.

Besides, Vinh’s urgent arrest was made on May 05th 2014. As regulated, within 24 hours following the urgent arrest, the agency in charge of conducting the arrest must inform the procuracies, and within 12 hours, the procuracies must issue a decision to approve or not approve such an arrest. However, it was not until May 14th 2014 (9 days later) that the Supreme People’s Procuracy issued the decision to approve the arrest.

This was a violation of the regulation on urgent arrests in terms of approval time.

Violation # 2: The person signing the decision to initiate criminal proceedings is related to the case itself Lt. Gen. Hoang Kong Tu, who was then head of the Investigative Security Agency, was the one issuing the decision to institute criminal proceedings. Nevertheless, among the 24 articles considered the evidences to criminalize Mr. Vinh and Ms. Thuy, there was one article concerning Mr. Tu, which is titled “Ông trời con’ Hoàng Kông Tư vs. BBC Việt ngữ” (“Little Emperor” Hoang Kong Tu vs. BBC Vietnamese”) Therefore, the fact that Mr. Tu himself signed the decision to initiate the criminal proceedings is a violation of Article 42 of the 2003 Criminal Procedure Code.

Violation # 3: Evidences were collected illegally The evidences used for the conviction of Vinh and Thuy in this case are those articles on the Internet, which are electronic (digital) data. The 2003 Criminal Procedure Code does not include any stipulation on the collection of evidences that are electronic data. Article 5 of Joint Circular No. 10/2012/TTLT-BCA-BQPBTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC provides guidance for the collection of evidences that are electronic data as follows: Article 5. Order and procedure for the collection of electronic data Electronic data are the information contained in electronic means. Electronic data can be considered evidences.

To ensure the value of the evidence, it is necessary to follow the order and procedure of criminal proceedings with regard to the search, seizure, forfeiture and preservation of exhibits that contain electronic data such as: computer hard drives, internal memories of mobile phones, cameras, video-recorders, fax machines, sound recorders, card readers, magnetic stripe cards, chip cards, memory cards, USBs, CDs, VCDs, DVDs and other types of electronic means. During the collection of electronic data,it should be noticed that:
a) For computers: it is not allowed to shut down the computer (as normal), but disconnect the power supply for the CPU (in the case of desktops) or the entire computer (in the case of laptops).
b) For mobile phones: turn off the device, then confiscate the phone, together with memory card, SIM card, battery charger (if any);
c) For other electronic means: turn off the device, then confiscate it together with accessories (if any)

2. When the confiscated objects are handed over to specialists on electronic data recovery, it is required to conduct the procedures of unsealing and sealing in compliance with law provisions. To ensure the intactness and completeness of evidences stored in the exhibits, the copying of data for recovery and analysis must be implemented with a “Read-only” device, only done on copied files and it is not allowed to override or modify the data. In order to be used as legal evidences, the electronic data must be transformed to the readable, visible and audible forms. Also, it is required to record in a minutes the contents of the electronic data that have been recovered and analyzed, together with the statements and confirmations of the crime perpetratoran d witnesses regarding the information.

However, when making the arrest, the Investigative Security Agency not only failed to comply with procedure above, but also arbitrarily used and did some printing from Mr. Vinh’s computer. Therefore, due to the unlawful interference by the ISA, those articles printed out from Mr. Vinh’s computer as well as other documents stored in it do not qualify as incriminating evidences.

Violation# 4: There are no victims in this case Mr. Nguyen Huu Vinh and Ms. Nguyen Thi Minh Thuy are prosecuted according to Article 258 of the Penal Code, which stipulates that:
1. Those who abuse the rights to freedom of speech, freedom of press, freedom of belief, religion, assembly, association and other democratic freedoms to infringe upon the interests of the State, the legitimate rights and interests of organizations and/or citizens, shall be subject to warning, non-custodial reform for up to three years or a prison term of between six months and three years.
2. Committing the offense in serious circumstances, the offenders shall be sentenced to between two and seven years of imprisonment. As provided here, those who violate Article 258 have “infringed upon the interests of the State, the legitimate rights and interests of organizations and/or citizens”. However, throughout the investigation process and as presented in the indictment, there is no mention of a specific victim. President Truong Tan Sang, representative of the State, has not issued any document indicating that the interests of the State have been infringed.

Also, there have been no claims from any individuals or organizations that their interests are transgressed on.

Violation# 5: The returnings of case files (for additional investigation) by the courts and procuracies were beyond their power (ultra vires) On December 07th 2015, the municipal-level People’s Court of Hanoi, for the third time, returned the case files to the Supreme People’s Procuracy, requesting additional investigation on the “issue of (Vinh’s) Party membership”. The competent procuracy also returned the case files for additional investigation twice. These run counter to the provision in clause 2, Article 121 of the Criminal Procedure Code on “Time limits for investigation resumption, additional investigation and re-investigation”, which states: Where the cases are returned by the procuracies for additional investigation, the time limit for additional investigation shall not exceed two months; if the cases are returned by courts for additional investigation, the time limit for additional investigation shall not exceed one month. The procuracies or courts may only return the case files for additional investigation for no more than twice. The time limit for additional investigation shall be counted from the date the investigating bodies receive back the case files and investigation requests.

Violation# 6: Solicitating expertise from the agency that lacks both the authority and qualification The ISA used 24 articles posted on the Internet as incriminating evidence against Mr. Nguyen Huu Vinh and Ms. Nguyen Thi Minh Thuy. In order to make those 24 articles into legal evidences, the ISA solicited expertise from the Ministry of Information and Communication on their contents.

However, the evidences mentioned here are the “contents of the articles”, which fall into the category of cultural products and not on the field of information technology. Those 24 articles discuss a wide variety of topics: economics, politics, social situation, historyand science-technology, etc. Therefore, in order to judge the truthfulness of those articles to see whether they infringe upon the interests of anyone, there must be a professionally-qualified commission to conduct such expertise.

Meanwhile, the Ministry of Information and Communication is only qualified for the expertizing with regard to products in the field of information and communication technology, and not for that of articles discussing multiple issues and fields.

Based on the 6 aforementioned violations in the legal proceedings, it can be said that the executive body as well as the judiciary system of Vietnam have shown clumsiness in their desperate attempts to criminalize blogger Nguyen Huu Vinh and Nguyen Thi Minh Thuy.

Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: