Hoàng Long tuyển dịch: ABE KOBO

Abe Kobo 阿部公房 (1924-1993) là một nhà văn hiện đại xuất sắc của Nhật Bản, có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn lao. Ông đạt giải thưởng văn học Akutagawa năm 1953 với tác phẩm “Bức tường” (壁). Năm 1962, tiểu thuyết “Người đàn bà trong cồn cát” (砂の女) được giải thưởng Yomiuri và giải thưởng giành cho tác phẩm văn học nước ngoài xuất sắc nhất tại Pháp. Ông còn tham gia viết nhiều vở kịch có giá trị. Tác phẩm của ông pha trộn tính chất mộng mị hoang tưởng kiểu Kafka với những dằn vặt về ý nghĩa cuộc sống. Sáu truyện ngắn chọn lọc của Abe Kobo chúng tôi giới thiệu dưới đây được dịch từ tuyển tập  “Trăng cười” (笑う月), Nxb Shinchosha ấn hành năm 2008. Trong số đó, truyện “Màng bong bóng xà phòng”, Abe Kobo có chia sẻ sứ mệnh của nhà văn mà chúng ta cũng ít nhiều đồng cảm “Tôi nghĩ rằng cả tiểu thuyết và sân khấu cuối cùng cũng chỉ là tiếng kêu gào đại diện cho tiếng kêu gào từ những bãi rác kia thôi” (小説も舞台も、結局はごみ捨て場から聞こえてくる叫びを、かわって叫ぶ作業のように思われる).

CHIẾC CẶP

Một người thanh niên mặc bộ trang phục nhàu nhĩ như thể  đã đi bộ suốt trong trời mưa tầm tã rồi cứ thế để cho khô đi xuất hiện trong văn phòng làm việc của tôi. Tuy thế, anh ta có vẻ mặt sáng sủa và gây ấn tượng nghiêm túc đàng hoàng. Chắc anh ta đã xem mục quảng cáo tìm người trên báo.

Thực ra, việc đăng báo tìm người là có thật. Nhưng dù sao cũng đã nửa năm về trước rồi. Đến tận bây giờ mà vẫn trơ trẽn tuyển dụng thì quả là quá bất bình thường. Chẳng phải như muốn nói rằng vì thể không tuyển dụng được nên mới để kéo dài đến tận bây giờ sao?

Tôi không thể nói ra sự kinh ngạc của mình còn anh ta vẫn điềm nhiên.

“Thật sự là không được sao?”

Cảm giác như chẳng thà đặt món hành lý nặng trên vai xuống một lát còn hơn không, cũng với sự đường đột như khi đến anh ta đứng dậy bước đi. Tôi cảm thấy mình như bị bỏ rơi vội vàng gọi giật lại.

“Khoan đã. Chẳng phải tôi để tâm là có lý do sao? Sao đăng quảng cáo từ nửa năm trước mà giờ anh mới đến ứng tuyển? Tôi muốn anh giải thích rõ điểm này. Chỉ cần tôi hiểu được là mọi chuyện ổn thôi. Cũng đang thiếu người, nên tôi cũng nghĩ đến chuyện bổ sung thêm, còn đủ chỗ để xem xét thế nên anh hãy trình bày đi. Rốt cuộc chuyện này là sao đây?”

“Sau nhiều do dự phân vân, có thể nói là một dạng loại trừ, cuối cùng tôi hiểu ra mình chỉ còn đến được chỗ này thôi”

Cách nói của anh ta có vẻ ôm ấp hy vọng đó thật tự nhiên khiến tôi cũng cảm thấy mủi lòng.

“Hãy nói cụ thể xem nào”

“Tại vì cái cặp này đây”, anh ta liếc nhìn xuống cái cặp to quá khổ đang đặt dưới chân mà có vẻ không hợp khi anh mang theo trên đường tìm việc. Cái cặp to đến mức nếu dùng đựng xác trẻ con có thể nhét được đến ba cái xác vào đó.

“Nó gần như tương đương với tất cả sức lực của tôi đó. Nếu chỉ đi bộ không thôi thì có thể mang vác theo dễ dàng nhưng chỉ cần leo cầu thang hay gặp con đường dốc một chút là chịu chết. Vì thế con đường mà tôi có thể chọn lựa tự nhiên bị giới hạn lại. Độ nặng của cái cặp quyết định con đường đi của tôi”

Tôi cảm thấy hơi bị mất hứng.

“Vậy có nghĩa là nếu như không mang theo cái cặp này thì anh đâu đến công ty tôi làm gì đúng không?”

“Đó là vì ông đã thử đặt ra giả thiết không thể nào có được là tôi sẽ buông bỏ chiếc cặp này”

“Nếu buông tay khỏi chiếc cặp này đâu có nghĩa là nó sẽ phát nổ đâu chứ?”

“Dĩ nhiên rồi. Nhìn xem, chẳng phải cho đến giờ, tôi buông tay và đặt nó ở dưới sàn hay sao chứ?”

“Thật  không tài nào hiểu được. Tại sao phải phải cố sống cố chết mang theo cái cặp đó vậy chứ?”

“Đâu phải cố gắng gì cưỡng ép gì đâu. Đó là hành vi tự phát đấy chứ. Nếu như có thể bỏ được, và chính vì nghĩ đến lúc nào đó có thể buông bỏ nên tôi mới không bỏ đấy chứ. Chuyện ngu ngốc bị ép buộc này có thể xảy ra hay sao?”

“Nếu tôi không thể tuyển dụng anh thì anh định sẽ làm gì?”

“Sau khi trở về nơi xuất phát tôi lại tiếp tục lên đường tìm việc. Với điều kiện địa hình đi phải bằng phẳng”

“Tuy nhiên cho dù thể lực anh có vần đề hay chiếc cặp nặng thêm mà anh không thể nào đi nổi thì anh chỉ việc tìm con đường chỗ khu dân cư là ổn thôi…”

“Anh không muốn thuê tôi đến mức đó à?”

“Tôi chỉ xem xét các khả năng. Nếu là anh, tôi sẽ có thể tìm việc từ lập trường tự do hơn nhiều. Chẳng phải nên đi theo hướng đó sao?”

“Tôi là người biết rõ chiếc cặp này hơn bất cứ ai”

“Nếu muốn anh có thể gửi chiếc cặp này ở đây một thời gian xem sao?”

“Làm sao tôi có thể mặt dày mày dạn đến mức thế được”

“Trong cặp có gì vậy?”

“Chẳng có gì quan trọng cả”

“Anh sợ phải nói ra hay sao?”

“Chỉ toàn là vật tầm thường vô vị thôi mà”

“Nếu là tiền bạc thì khoảng chừng bao nhiêu”

“Đâu phải là vật giá trị thì lúc nào cũng giữ khư khư bên mình đâu”

“Tuy nhiên nếu những người lạ nhìn thấy họ đâu nghĩ như vậy? Anh đâu có phải là người cơ bắp gì lắm nếu như bị cướp giật thì chẳng phải anh thúc thủ sao?”

Anh ta khẽ mỉm cười. Nụ cười già dặn từng trải như thể nhìn thấy phong cảnh xa xăm mơ hồ trong tâm trí tôi đang mở ra trước trán bằng một lỗ sâu hoắm. Mặc dù mỉm cười vậy nhưng anh ta chẳng trả lời gì.

“Được chứ gì”, tôi cũng không chịu thua, lên giọng cười nói và lấy tay che trán, trả ngược tia nhìn của đối phương. “Không phải là tôi muốn bắt bẻ gì anh, nhưng đứng từ vị trí của anh thì đừng nên làm ra vẻ cái gì mình cũng biết hết như vậy. Tôi chấp thuận cho anh làm việc ở đây. Nhưng dù vậy cái cặp này cũng quá sức cồng kềnh. Tôi thuê anh nhưng không thuê cái cặp này. Nên tôi muốn anh hạn chế mang nó đến văn phòng. Nếu đáp ứng được điều kiện đó thì anh có thể bắt đầu làm việc từ ngày hôm nay. Anh thấy thế nào?”

“Được chứ”

“Anh định nhét cái cặp này vào đâu trong khi làm việc đây?”

“Sau khi tìm được chỗ thuê nhà, tôi sẽ để ở đó”

“Anh chắc là không sao chứ?”

“Ý anh là sao?”

“Nếu để nơi chỗ trọ thì anh sẽ đi đến đây tay không. Thân thể nhẹ nhõm thế anh sẽ lạc đường đấy?”

“Tôi sẽ đi thẳng từ nhà trọ đến nơi làm việc không rẽ vào đâu cả”

Cuối cùng anh ta cũng nở nụ cười sảng khoái, tôi cũng cảm thấy như mình đã nhẹ gánh trên vai. Tôi gọi điện  thoại đến văn phòng môi giới quen biết, và hướng dẫn anh ta nhanh chóng đi xem nhà. Rất tự nhiên, chiếc cặp được để lại.

Chẳng vì lý do gì hết tôi thử cầm chiếc cặp lên xem. Khá nặng. Tuy nặng nhưng không phải là không thể mang đi. Tôi thử bước đi hai ba bước. Có thể tôi có thể mang đi được xa hơn.

Tôi tiếp tục bước đi. Tay bắt đầu thấy nặng trĩu. Nhưng chưa đến mức không thể chịu đựng được. Nhưng đột nhiên xương vùng lưng tôi kêu rắc rắc và không thể bước thêm bước nào nữa. Khi nhận ra tôi thấy mình đã rời khỏi văn phòng tử lúc nào và đang lê bước lên một con dốc đứng. Tôi đổi hướng và lại có thể bắt đầu bước đi. Tôi muốn quay trở về văn phòng nhưng không sao tìm được đúng đường. Dù có nhớ ra bao nhiêu ngã rẽ đi nữa thì cũng luôn bị ngăn trở bởi những con dốc và những bậc cầu thang một cách vô tình. Những đoạn đường bị cắt rời từng mảnh như vậy không đi đến đâu cả. Cuối cùng tôi đành phải bước đi về hướng mình có thể đi. Rồi tôi không biết mình đi về phương nào nữa.

Nhưng tôi không cảm thấy bất an chút nào. Vì chiếc cặp sẽ chỉ lối rõ ràng cho tôi. Không cần phải do dự, tôi cứ bước đi mãi đến chừng nào có thể là được. Nếu không có đường nào để chọn lựa thì làm gì còn lạc lối hoang mang. Tôi tự do đến mức phát chán.

NGƯỜI BAY TRÊN TRỜI

Một buổi sớm mai, tôi đã có một giấc mơ huyễn ảo. Hay đúng hơn thì phải nói là tôi đã thấy được một điều huyễn ảo như giấc mơ.

Tiếng kêu bi thiết của con chuột chết chìm trong xô nước nhà bếp thoát ra từ giấc mơ tôi biến thành tiếng còi hụ của xe cấp cứu. Tôi lấy sữa trong tủ lạnh ra vừa súc miệng vừa nhìn ra ngoài thì thấy một người đàn ông đang bay trên bầu trời lúc rạng sáng còn chưa chuyển sang màu xanh.

Lẽ dĩ nhiên là tôi không tin và cũng chẳng cảm thấy kinh ngạc gì cả. Bởi tôi nghĩ rằng giấc mơ vừa nãy mà mình đã quên đi giờ vẫn còn đang tiếp tục. Tuy nhiên, dù sao đây cũng là giấc mơ kiểu rất hiếm hoi. Giấc mơ thấy chính mình đang bay lượn thì khoan hãy bàn đến nhưng rõ ràng mơ thấy người khác bay thì quá sức hiếm hoi. Tựa vào thành cửa sổ, tôi chăm chú nhìn lên. Người đàn ông nằm sấp đang bay trên trời như con cá lượn trên nước. Dù chỉ nhìn thấy đường viền như một mẩu màu đen được cắt ra, nhưng tôi biết chắc đó là một người đàn ông. Cái dáng mái tóc bị hất lên vì gió lộng, thân hình mờ mờ, cái góc cong đầu gối với vẻ không tự tin khiến anh có thể suy đoán anh ta khoảng chừng ba mươi lắm, ba sáu tuổi. Bị ngăn bởi con đường hẹp dành cho xe buýt, anh ta liền hướng lên phía mái nhà, bay chậm chạp thong thả song song với con đường với tốc độ của chiếc xe đạp. Nếu đây không phải là giấc mơ thì chắc là ảo giác rồi? Còn nếu như không phải ảo giác thì chắc chắn là giấc mơ thôi.

Người đàn ông tiếp tục bay. Đường bay thẳng với chiều cao khoảng gần sát mái một tòa nhà hai tầng, dáng bay trơn tru như một quả bóng bay theo chiều gió. Rồi đột nhiên anh ta quay mặt nhìn về hướng này. Lấy bàn tay có gắn ăng ten tivi làm trục, anh ta quay ngoắt nửa vòng rồi nghiêng đầu như tìm kiếm điều gì đó và nhìn thấy tôi.

Mình thật bất cẩn. Cứ nghĩ đây chỉ là giấc mơ thôi thế nên cứ tì trán vào kính cửa sổ, phơi nửa thân mình cho người ta thấy mà chẳng để ý gì. Tôi vội vàng thu mình lại. Sự thay đổi của bầu trời lúc rạng sáng thật nhanh ngoài sức tưởng tượng. Chỉ trong có khoảng mười mấy giây mà trời đã sáng bạch đến mức tôi có thể nhìn rõ được gọng kính của anh ta. Còn anh ta chắc chắc đã phát hiện ra tôi. Anh ta vừa nhìn tôi trân trối vừa rụt vai lại,  thu đầu gối gần như sát đến ngực như hình con tôm. Sau đó đột nhiên anh ta vươn thẳng người ra rồi vụt đi như tên bắn, ngay lập tức mất dạng sau những mái nhà.

Tôi ngẫm nghĩ. Thấy mình giống như loài cá rơi vào chỗ nước cạn. Tôi xoa xoa trán. Nhưng chẳng nghĩ được gì sâu xa hơn. Tôi vừa thử lầm bầm “chuyện gì ngớ ngẩn thế” và cảm thấy mình có chút ít ghen tỵ. Mi mắt tôi nặng trĩu. Tôi quay trở lại giường và tiếp tục chìm vào giấc ngủ mộng mị.

Tôi mở mắt thức dậy. Có tiếng gõ cửa tuy có vẻ khách khí nhưng nhẫn nại không ngừng thúc giục tôi. Giờ này mà có ai đến nhỉ? Tôi mở hé cửa nhìn thấy đó là một người đàn ông không quen. Anh ta mặc thường phục màu xám, thắt cà vạt màu xanh. Cái cằm dài như được đặt làm để gắn vào khuôn mặt hóp đầy lỗ chân lông.

“Không mua gì đâu”

Tôi nói với vẻ khó chịu rồi đóng cửa. Chắc chắn là người bán hàng rao bán thứ gì đây. Cho dù bán hàng gì đi nữa thì tôi cũng chẳng cần. Thế nhưng anh ta không nói không rằng, đẩy tôi vào phòng rồi dùng tay đưa ra sau khóa cửa lại mà nói.

“Anh đã nhìn thấy rồi nhỉ?”

Nhịp thở anh ta như thể ta mở nắp một chai bia nóng.

“Nhìn cái gì cơ chứ…”

Một tấm ký ức nhạt mờ dán vào nơi đáy trí nhớ. Như một tờ giấy ướt khó tháo gỡ. Đúng rồi chính là anh ta. Người đàn ông bay trên trời…Một hình chớp bóng bơi qua bầu trời. Vậy có nghĩa chuyện này là tiếp tục giấc mơ khi nãy sao? Hay là những chuyện lúc nãy là hiện thực huyễn ảo như giấc mơ?

“Xin anh đừng bận tâm”, anh ta cụp mắt xuống, rụt vai lại tiếp tục nói như giải thích. “Thực sự chuyện chẳng có gì bất ngờ trên mức tưởng tượng của anh cả. Không, đúng ra phải nói là dưới mức tưởng tượng mới phải. Xin anh cứ nghĩ chuyện này chỉ như một giấc mơ lạ lùng mà thôi…”

“Tôi chẳng để tâm gì đâu”, giọng tôi chẳng có chút tự tin nào. Tôi không thể phán đoán tình huống được. “Tôi chẳng cần phải cố tình làm ba cái chuyện khuấy bùn cho đục lên làm gì cả. Ngay từ đầu tôi đã đinh ninh rằng đây chỉ là một giấc mơ thôi mà…”

“Không đâu, khi anh mở tủ lạnh lấy chai sữa thì anh đã nhận ra chuyện trên trời rồi. Ai có thể uống sữa được trong giấc mơ kia chứ? Vì cửa sổ hướng đông nên từ phía anh ngược sáng chắc khó thấy chứ từ phía tôi mà nhìn chuyện anh đang làm rõ đến mức phân biệt được cả từng nếp nhăn nơi ấn đường của anh nữa. Nếu anh vẫn cho là không phải thì có chai sữa là chứng cớ rành rành không thể nào chối cãi. Nếu anh vẫn không thể nào tin được thì xin mời ngó qua cái tủ lạnh chút đi”

“Vậy thì sao?”

“Bởi vậy tôi mới đến để nhắc nhở anh. Nếu anh suy nghĩ quá mức thì anh sẽ mất kiểm soát đấy. Cho dù đầu tiên chỉ là một chút xíu cảm giác không phù hợp thôi nhưng vết nứt đó theo thời gian sẽ lớn dần lên làm rối loạn những cảm giác thường ngày của anh đấy. Anh sẽ có một thố sâu ngăn cách với tha nhân. Mối quan hệ giữa người với người sẽ dần băng hoại đi mất. Rồi anh sẽ không thể nào cân bằng chính cuộc sống của mình được nữa”

“Lậm quá là anh thì có. Bởi vì trong thế gian này những điều anh nghĩ là không thể nào như vậy được có mà đầy ra”

“Anh có thể chấn chỉnh cảm giác của mình cho chín chắn hơn không?”

“Hơn nữa, mà đúng rồi. Đây cũng đang trong giấc mơ chứ gì? Nếu là giấc mơ đang tiếp diễn thì việc có bao nhiêu chai sữa rỗng cũng chẳng có gì làm lạ cả”

“À, khi anh nhận ra rằng giấc mơ đó cho dù bao nhiêu thời gian trôi qua, cho dù anh đợi đến bao lâu cũng không có vẻ gì là tỉnh mộng được thì… anh cứ tưởng tượng mà xem. Liệu anh có nghĩ rằng mình có thể nào chịu nổi một điều như thế hay không?”

“Nếu đã là mộng ảo thì giấc mộng cuộc đời cũng chỉ là chuyện chớp mắt mà thôi. Nhưng mà thôi, chuyện quan trọng hơn là làm sao anh có thể bay được vậy? Anh có bí quyết hay sử dụng ý chí gì không? Cho dù sử dụng tàu đệm không khí thì cũng có vẻ như chạy rất êm nhỉ?”

“Tôi đã cố gắng để tránh ánh mắt người đời. Nhưng bay trong bóng đêm thì chẳng có cảm giác bay lượn gì cả. Thế nên tôi quyết định chọn những địa hình khuất nẻo khó thấy và bay sát mái nhà tầm khoảng ba mươi phút lúc bình minh. Dù vậy không thể nào tránh được cả trăm phần trăm. Thế nên mới xuất hiện tai nạn bất ngờ như sáng hôm nay. Cho dù bị nói là “biết rõ hành động nguy hiểm” thì mọi chuyện sẽ an bài nhưng mà…”

“Anh nghi ngờ thái quá rồi đó. Còn có thêm chút cảm giác hoang tưởng bị hại nữa chứ. Tính tôi vốn tò mò về mọi thứ mà…”

“Có người lấy chuyện của tôi ra mà nói đùa chơi tại nơi làm việc thế là chức trưởng phòng gần như nắm chắc trong tay đã trôi đi mất, bao nhiêu công sức đổ sông đổ biển cả…Còn có người vợ kia thì đã bị chồng mình ly hôn… Trường hợp nặng hơn thì thậm chí còn bị tống vào bệnh viện tâm thần nữa đấy. Đây không phải là chuyện đùa chơi cho vui đâu…”

“Điều đó thì tôi hiểu nhưng mà…”

“Không biết anh có thực sự hiểu không đây”

“Anh thực sự có thể bay à?”

Anh ta mỉm cười hiu hắt rồi đột nhiên vươn vai ra. Chỉ trong khoảng thời gian vươn ra đó thôi thì anh đã bay lơ lửng rồi. Anh ta bất chợt hạ xuống một chút, rồi vừa bay về phía trước vừa lượn vòng vòng trên đầu tôi. Ngồi bệt xuống sàn nhà, tôi cứ ngước mắt nhìn lên. Anh ta dừng lại nằm song song sát với trần nhà. Tôi nóng nảy không thể tìm ra được lời nào để diễn tả, anh ta như thể là một người nào khác vậy.

“Nhìn đi, không phải dối gạt gì đâu”

“Anh hoàn toàn không sử dụng dụng cụ nào à?”

“Không hề. Thế nào? Thật tội nghiệp đúng không? Người mà như thế này thì còn gì để nói nữa”

“Không phải đâu. Tôi ganh tỵ với anh đấy. Chẳng phải là tiện lợi đệ nhất hay sao? Không cần phải chen chúc trên xe buýt đông đúc hay tàu điện chật chội làm gì mà vẫn ung dung đi được bất cứ đâu, đã thế lại không tốn tiền xăng nữa chứ…”

“Tôi không bay được nhanh thế đâu”

“Nhưng mà tôi cho rằng chỉ riêng việc đi quãng đường ngắn nhất giữa hai điểm đã là tiện lợi đệ nhất rồi đấy”

“Giá trị thực tế là bằng không đấy. Chắc là chỉ có giá trị trình diễn mà thôi”

“Đó chỉ là điểm mù của cá nhân anh thôi. Anh thử so sánh với những người ái mộ không thể nào bay được sau cánh cửa sổ khóa kín mà xem. Nếu để ý đến giá trị thực tế thì anh cũng có nhiều bằng với người trong suốt đó…”

“Tại sao anh lại rẽ câu chuyện sang hướng đó”

“Rẽ á? Không, không có gì”

“Nhưng anh không sợ à”

“Sợ gì cơ?”

“Tôi không nghĩ là anh muốn bay được như tôi đâu”

“Bởi đó là chuyện viễn vông quá sức mà. Nếu bay được thì tôi cũng bay rồi. Này anh, bay được cũng là một loại tài năng đấy. Ai mà chẳng có tài năng trong lĩnh vực nào đó đúng không? Đừng nói là sợ, tôi ganh tỵ với anh luôn đấy chứ. Chà, ung dung tản bộ giữa bầu trời lúc bình minh. Chỉ cần nghĩ đến là cũng đã thấy rạo rực rồi”

Anh ta dùng tay bám vào tường bò xuống một cách khéo léo rồi xỏ chân vào đôi giày xếp ngay ngắn trên sàn nhà.

“Thật vậy sao?”

“Tôi nói dối anh để làm gì chứ”

“Vậy có lẽ đây là lần đầu tiên tôi gặp một người ngoại lệ rồi”. Anh ta xoay người lại và cài nút giày. “Nếu so với những điều tôi nghĩ thì đúng là nhẹ nhõm. Lúc nào và đi đâu tôi cũng bị xem như là quái vật đấy chứ. Khổ sở vô cùng. Nỗi sợ hãi khiến mọi thứ càng trở nên trầm trọng hơn. Nói thật thì gặp được những người như anh tôi mới có thể an tâm trò chuyện đấy…Cái hiện tượng siêu nhiên này cũng có tính truyền nhiễm đấy…”

“Truyền nhiễm à?”

“Ví dụ như căn bệnh nào cũng có vi khuẩn gây ra cả thì chứng sợ người bay cũng xuất phát từ việc đã biết và thấy người bay vậy…Những điều bất chính trong tâm tư…anh biết đấy…một cảm giác băng hoại như thể làm thế giới rối loạn cả lên… Anh nhớ về tôi chứ gì. Mỗi lần nhớ đến, trong đáy sâu tâm hồn anh nỗi sợ hãi lại ứa ra từ từ như một thứ nước màu đen hôi hám. Thế giới nhìn như một cái hang đen ngòm mà trong đó chỉ một người còn sót lại…”

“Nhưng tôi thì không có vấn đề gì đâu. Cho dù tưởng tượng ra tôi cũng chẳng có cảm giác sợ hãi anh gì cả”

Anh ta im lặng làm điệu bộ như phủi bụi nơi tay rồi khẽ cúi đầu.

“Tôi yên tâm rồi. Gánh nặng trên vai đã được đặt xuống. Thật sự xin lỗi đã quấy rầy khi anh đang ngủ. Có gì mong anh lượng thứ cho”

LƯỠI DAO CẠO
Tuyển tập truyện ngắn Nhật Bản hiện đại
Nhiều Tác Giả
Hoàng Long tuyển dịch từ nguyên tác Nhật ngữ
Lotus Media xuất bản lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2019.
Bìa và trình bày: Uyên Nguyên
ISBN: 978-0-359-76168-5
© Tác giả và nhà xuất bản giữ bản quyền.

CHIẾC MÁY ẢNH ALICE

Ðối với tôi bây giờ mà nói, chiếc máy ảnh đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong công việc. Phạm vi sử dụng của nó khá rộng từ việc dùng cho ghi chép ý tưởng cho tiểu thuyết đến ghi chép diễn xuất của sân khấu. Hơn thế nữa, trong khoảng thời gian gần đây tôi đã chụp những phim slide sử dụng thực tế trên diễn xuất sân khấu kịch, hay thử chèn những tấm ảnh chụp nhanh của mình vào tiểu thuyết “Người hộp”[1] của mình, để chính những tấm hình đó tự biểu hiện ra cũng không phải là hiếm. Về mặt kỹ thuật thì khoan hãy bàn đến chứ còn về tần suất sử dụng thì cũng có thể đưa tôi vào hàng bán chuyên nghiệp.

Không phải tôi viết ra những điều này để khoe khoang hay tự mãn gì đâu. Đến mức điều đầu tiên tôi muốn chối phắt ngay là chiếc máy ảnh đã trở thành một công cụ hay phương tiện. Thực tế cần phải từ chối điều này vì chiếc máy ảnh đã được xem như là biểu tượng cho sự sùng bái vật chất của xã hội hiện đại ngày nay.

Đặc biệt ở Nhật Bản điều này rõ ràng hơn hết. Đâu khoảng trước đây tôi có đọc một bài báo nói về người Nhật xuất hiện trong các tranh biếm họa của phương Tây bao giờ cũng phải đeo kính và cầm máy ảnh. Chắc chắn là ngay cả những chuyến du lịch trong nước, máy ảnh là biểu tượng cho khách du lịch lữ hành. Những số liệu thống kê đã củng cố thêm điều này. Nhật Bản là quốc gia sản xuất máy ảnh hàng đầu thế giới đồng thời tự hào là nước có lượng tiêu thụ máy ảnh nhiều nhất hoàn cầu. Vậy thì máy ảnh là thứ gì mà có thể hấp dẫn được người Nhật đến thế chứ?

Có thêm một số liệu thống kê khác lại càng thú vị hơn. Nếu như người mua máy ảnh nhiều thì đương nhiên lượng tiêu thụ phim phải lớn. Nhưng thực ra không phải vậy. Số liệu chính xác thì tôi không nhớ lắm nhưng số lượng phim được người Nhật sử dụng lại ít đến mức không thể nào tin nổi. Dù là một vương quốc về máy ảnh nhưng Nhật lại là quốc gia lạc hậu về phim chụp. Đến mức có một câu chuyện cười về tấm phim đầu tiên đã chụp với tấm cuối cùng đều là quang cảnh ngày tết như nhau nhưng lại nói đó là phong cảnh khi đi tắm biển. Tôi có người quen lậm đến mức sưu tầm tất cả loại máy ảnh của công ty kia rồi cuối cùng không dám ấn nút chụp hình vì bảo là sợ làm hư máy nữa.

Đúng là máy ảnh chỉ là máy ảnh mà thôi. Như Mỹ chẳng hạn vốn đã là một cường quốc về phim chụp mà  người ta còn muốn tăng lượng tiêu thụ phim lên nữa bằng cách chế tạo ra những máy chụp hình dành cho dân nghiệp dư nhưng người Nhật lại không muốn có những máy chụp hình một lần như vậy. Cho dù là máy ảnh cao cấp điều chỉnh phức tạp thế nào đi nữa, thì lý do cũng không phải là sự phiền phức trong thao tác chụp hình. Vì thế mà cách nhà sản xuất mới không ngại ngần gì trong chuyện nâng cao đẳng cấp máy ảnh. Đúng ra bởi vì lượng sản xuất máy ảnh cao cấp vốn dĩ chỉ có thể mua một cách giới hạn đang không ngừng tăng lên nhanh chóng mà mới có thể bá chiếm thiên hạ, không có đối thủ. Chính nhờ những người tiêu dùng mua mà không sử dụng mà máy ảnh Nhật Bản mới có thể hoàn thành công cuộc chinh phục thế giới vậy.

Rõ ràng đó là sự sùng bái vật chất. Thế nên người ta tách rời hành vi chụp hình và cái máy ảnh vốn chỉ là một phương tiện nay đã trở thành mục đích. Tôi không có ý phê phán gì ở đây cả. Tôi chỉ cảm thấy điều đó phản ánh trạng huống tinh thần của thời hiện đại, đáng cho chúng ta xem xét nghiêm túc mà thôi. Cuối cùng cái gì của máy ảnh đã lôi kéo người ta đến mức độ này cơ chứ?

Dĩ nhiên không phải ai cũng yêu thích máy ảnh. Những người có thể suy nghĩ đến máy ảnh một cách hiện thực, ngay từ đầu liệu đã thích thú máy ảnh hay không? Giữa cái việc muốn thử chụp một tấm hình với việc yêu thích máy ảnh có một khe hẹp khó mà vượt qua. Đối với những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, khe hẹp này còn sâu hơn nữa. Điều này cũng giống việc muốn viết tiểu thuyết không có nghĩa là trở thành người ham mê văn phòng phẩm gì đâu.

Thực tế, chỉ trừ những người chuyên nghiệp có thể đổi tác phẩm của mình thành tiền ra thì đối với hầu hết chúng ta, chiếc máy ảnh vốn dĩ là một dụng cụ tưởng tượng thuần túy mà thôi. Kết quả của việc chụp hình bao giờ cũng là một sự mất hứng thú rõ ràng. Những quyển album cũ kỹ phai màu vô ích hiếm khi được chúng ta lần giở ra xem. Ngay cả việc nhớ lại tại sao khi đó mình lại ấn nút chụp hình và mong chờ điều gì cũng không thể. Khi chúng ta nhận ra được rằng cứ ngỡ mình đã để lại những tấm hình nhưng thực ra là say sưa cái hành vi không tồn tại kết quả chắc hẳn chúng ta sẽ quyết tâm vứt bỏ chiếc máy ảnh đi thôi. Dĩ nhiên điều đó cũng có nghĩa chúng ta cũng vứt bỏ đi cái mong chờ không phần thưởng trong khoảnh khắc ấn nút chụp hình kia.

Tuy nhiên, với việc thừa nhận một kết quả không tồn tại, thì cũng có nghĩa có nhiều kẻ mơ ngày không đánh mất đi niềm mong chờ hy vọng và trở nên yêu thích máy ảnh. Bởi vì nguyện vọng của những kẻ đó chỉ là thỏa mãn trong việc ấn nút chụp hình mà thôi chứ không bận tâm gì đến kết quả. Đối với những trường hợp cực đoan, thì chỉ cần ấn nút máy ảnh là đã hoàn thành việc tượng tượng hư cấu của mình rồi. Nếu như thế thì chỉ cần một chiếc máy ảnh mô hình không cần ống kính cũng được thôi. Nhưng sở dĩ kẻ đam mê cuồng  là kẻ đam mê cuồng chính là vì thế. Nếu như có sự đảm bảo rằng việc chụp hình đúng như dự định (hay đúng như lý tưởng của minh) thì mới có thể thỏa mãn sự tưởng tượng của chính mình.

Vì thế những người thích máy ảnh thực sự thì ngay từ đầu đã không bao giờ thèm để mắt đến máy ảnh Polaroid chụp xong có ảnh ngay cả. Nghe đồn là tình hình kinh doanh công ty Polaroid đang gặp nguy hiểm nhưng biết đầu chừng đó chỉ là phỏng đoán nông cạn của việc tìm hiểu tâm lý những kẻ cuồng máy ảnh mà thôi chăng? Cái mà kẻ cuồng máy ảnh tìm kiếm nơi máy ảnh không phải là một thứ hiện thực kiểu thực dụng chủ nghĩa đơn thuần mà chính là sự tưởng tượng. Bằng việc chụp hình, ta có thể ngỡ như được ký tay vào việc sở hữu một phần của thế giới và việc lừa gạt mình vào khoảnh khắc đó thật vui. Điều đương nhiên là chắc chắn trong một góc nào đó của ý thức, ta vẫn hiểu được rằng đó chỉ là sự lừa gạt chính mình mà thôi. Chính vì thế mà chiếc máy ảnh Polaroi lại càng chẳng thú vị gì. Cái cảm giác bệnh hoạn như thế có lẽ cũng là một đặc trưng của những kẻ cuồng máy ảnh chăng?

 Chúng ta có thể thay đổi góc nhìn để thấy một cách nhìn hơi khác. Tuy thích máy ảnh nhưng lại không quan tâm gì đến phim chụp có lẽ tại vì điều mình thực sự muốn chụp không hề có trên thực tế. Bởi có lẽ bản chất từ đầu của máy ảnh là chỉ ngược hướng với hiện thực, xem thường kết quả và muốn cự tuyệt hiện thực chăng? Nếu là như thế thì máy ảnh vốn dĩ là biểu tượng của thứ không hề tồn tại. Hoặc là nó phủ định hiện thực.

Tôi đã đọc một bài báo nói về Lewis Carroll, tác giả của truyện “Alice lạc vào xứ sở thần tiên”[2] rằng vào những năm cuối đời ông đam mê máy ảnh, say sưa những chụp ảnh thiếu nữ đến mức làm phiền hà căng thẳng đến những người xung quanh. Bài báo làm cho tôi cảm thấy bứt rứt không yên. Tôi chưa từng đọc tác phẩm Alice theo kiểu như thế. Tôi không tưởng tượng được là tác giả đã ôm ấp một thứ tình cảm như vậy với Alice. Có nghĩa là tác phẩm “Alice lạc vào xứ xở thần tiên” có thể xem là một dạng tiểu thuyết ái tình. Tác giả đã yêu một cô gái không hề tồn tại thay cho những cô thiếu nữ ngoài đời thực. Và có lẽ ông đã trở nên yêu thích máy ảnh để có thể tìm được chân dung của người con gái không tồn tại đó chăng?

Có thể xem đó là một thứ ảo tưởng rằng chỉ cần tiếp tục chụp hình đến một lúc nào đó ta sẽ tìm thấy Alice chăng? Sự căng thẳng của một khoảnh khắc thiếu vắng điều bất khả. Phải chăng có cả cái nguyện vọng phân rã từng mảnh bằng việc cự tuyệt với hiện thực chăng? Nhưng chỉ trong thế giới thần tiên ta mới có thể gặp được Alice. Những người quá mơ tưởng đến việc chạy trốn thì chỉ dù thế nào đi nữa cũng chỉ có thể chạy trốn vào trong giấc mơ thôi.

MÀNG BONG BÓNG XÀ PHÒNG

Tám tấm hình tôi đưa vào trong tiểu thuyết “Người hộp” đã nhận được nhiều lời khen ngợi. Việc có thể tự mình khen mình như thế chắc tại vì chúng vẫn còn dấu vết của sự nghiệp dư chăng? Thế nhưng từ đó trở đi tôi hầu như không thể chụp thêm một tấm nào nữa. Mặc dù chuẩn bị ấn nút chụp hình đối với tôi mà nói là một  khoảnh khắc tất nhiên thôi thế nhưng không hiểu sao lúc đó tôi trở nên hồ nghi và không sao nhúc nhích nổi ngón tay. Có lẽ ít nhiều tôi đã đạt đến cành giới chuyên nghiệp rồi chăng?

Thử ngẫm nghĩ xem thì thấy tôi vẫn chưa hình thành được phong cách, motif của riêng mình. Tôi vẫn chưa xác định được tâm tưởng của mình cho những vấn đề như tại sao mình định chụp hình, hay suy nghĩ xem mình muốn chụp những tấm hình như thế nào đây? Đó chỉ mới là những khuynh hướng tiềm tàng mà thôi. Mặc dù vẫn còn mơ màng nhưng phải thừa nhận tôi có một sở thích hứng thú nhất định. Trước khi phân tích đến cùng động cơ chụp hình, đầu tiên tôi sẽ liệt kê ra những ví dụ cụ thể tôi đã muốn chụp hình trong những trường hợp thế nào đã.

Đầu tiên đó là rác. Không hiểu sao tôi lại hứng thú với rác chứ? Hay là những bãi rác cũng vậy. Dạo gần đây việc xử lý rác đã đến mức tuyệt đỉnh rồi chứ còn cứ như ngày xưa ngay cả những chỗ không thích hợp cho việc đổ rác thì rác cũng tràn lan, hình ảnh về bãi rác thích hợp cũng mờ mịt lắm. Tuy vậy không phải đã chấm dứt hoàn toàn những bãi rác tự phát. Những chỗ giao nhau của đường tàu, con lộ, sông ngòi hay những cây cầu, những vị trí mà con người không thể nào sống ở đó tự nhiên lại trở thành nơi đổ rác. Cũng may mắn là những chỗ như vậy đều là nơi kín đáo, ít bị mắt người đời soi mói. Cũng giống như những nơi tối tăm hay chỗ trũng trong thành phố nên dù có đi ngang qua, người ta cũng hiếm khi dừng lại. Nếu thật tâm muốn nhìn thì sẽ thấy đó nhưng nhưng nếu tảng lờ mà đi thì cũng xem như không thấy gì. Có thể xem đó là những không gian chưa đăng ký trên trần gian này vậy.

Tôi cũng không cố tình muốn nán lại những chỗ như thế đâu. Tôi lướt qua chúng như thể chúng chỉ lướt qua góc mắt tôi trong một khoảnh khắc mà thôi. Không hiểu sao tôi cứ ngại ngùng bất an không thể nào nhìn thẳng vào chúng được. Thế rồi ngay khi vừa bước qua tôi nghe tiếng gọi gì đó. Ngay lập tức, tôi cảm thấy tội lỗi hổ thẹn như thể mình đã không có thái độ đúng mực với khoảng không gian kia. Tôi đã có sự phân biệt đối đãi. Tuy nhiên cho dù phân biệt chi li thế nào đi nữa, tôi cũng không có ý muốn dừng lại. Thế là tôi giao nhiệm vụ cho cái máy ảnh hành động thay thế cho tôi. Hành vi ấn nút máy chụp hình ít nhất có lẽ cũng biện minh cho khoảng không gian và những vật thể đang chỉ trích sự xem thường của tôi vậy.

Trong trường hợp của tôi quang cảnh bãi rác luôn gợi lên một khung cảnh trong ký ức. Tôi nghĩ đó là khoảng thời gian mình học phổ thông. Phía nam thành phố Hoten nơi tôi lớn lên có một con đê lớn tên là Konga luôn dâng đầy ắp nước mỗi mùa mưa về. Nơi chỗ giao nhau giữa con đê và đường tàu có một bãi sình lầy lớn. Bãi sình lầy đó đã trở thành bãi rác của thành phố. Hơn nữa vì hơn nửa thời gian trong năm khô ráo nên nếu nhìn sâu hơn vào giữa bãi lầy ta thấy rác nổi lên trên mặt đất, và nếu như không bước chân vào thử thì sẽ không biết được đó là bãi sình lầy.

Vì trường học của tôi nằm gần bên nên tôi nhớ mình đã nhiều lần từng lân la chơi gần chỗ đó. Cũng chẳng phải có sự cấm đoán gì nhưng lý do hiếm khi chúng tôi muốn đến bãi rác có lẽ là vì sợ hãi. Lũ chúng tôi luôn tin rằng bãi sình lầy đã hút hết rác rưởi gần đó vào giữa trung tâm. Sự thực thì chúng tôi cũng có nhìn thấy rác chôn sâu trong sình, gần vị trí trung tâm bãi sình lầy đó. Thêm nữa có lẽ vì ẩn giấu giữa trung tâm bãi sình không chỉ có rác mà còn có cơ man nào là quạ nữa. Có lần tôi đã trông thấy cả mấy ngàn con quạ bay nhảy vào buổi chiều như thể xới tung bề mặt bãi sình lên. Tôi còn nhớ một lần nửa bầu trời vẫn còn xanh trong thế mà đột nhiên trở nên đen kịt lại khiến chúng tôi sợ hãi đến mức ngồi bệt xuống mặt đê nữa. Có thể nói trong ký ức của tôi bãi rác vùng ngoại thành đó luôn gợi một vẻ gì tôn nghiêm khác thói thường.

Hay có lẽ bởi vì xa bãi sình một lầy chút có một cái đài bêu đầu của tù nhân tử hình[3] được xây dựng từ thời Edo nơi vị trí hướng ra đường ray tàu nên ấn tượng đó càng thêm mãnh liệt. Trên tấm bảng hình chữ T được gắn vào một cây cọc lớn là đài bêu đầu cho ba người gồm ba cây đinh sắt nhô ra từ phía sau như ba cái chân cắm nến. Nó nằm vị chính chính diện từ cửa sổ tàu nhìn ra. Tôi không nhớ rõ là đã có ai nhìn thấy thực sự những cái đầu bêu trên đó chưa. Nhiều khi mình có cảm giác như nhìn thoáng thấy những vật như mớ chỉ đen rối bòng vô dụng nhưng có lẽ đó chỉ là do tưởng tượng của ký ức tạo nên thôi. Những ai vì tội gì mà bị bêu đầu tôi cũng chẳng rõ nữa nhưng người ta nói rằng nó được làm trước hết để răn đe. Cho dù là ai đi chăng nữa thì từ cái nhân vật mà đột nhiên trong bóng tối chỉ xuất hiện cái đầu lâu trở thành mồi cho quạ rồi mất đi không tăm tích đó cũng gieo vào lòng chúng tôi một nỗi sợ hãi và ngưỡng mộ. Tôi nghĩ vì những nhân vật vô danh không được kể ra trong truyền thuyết mả cái bãi sình đổ rác có một quang cảnh dị thường thế kia.

Quá khứ đã hàm chứa sẵn tương lai. Chiếc miệng lớn của đại địa nhai vụn con người. Cả lưỡi cả răng cả môi tất cả đều một màu đất.

Ngoài ra tôi cũng chụp nhiều vật phế thải khác nữa. Tôi cũng chụp những người gần như là phế vật.

Tám tấm ảnh được chèn vào trong tiểu thuyết “người hộp” cũng đều gợi lên hình ảnh của phế nhân hay là phế vật trong một ý nghĩa nào đó.

Một tên du đãng trẻ đang nhìn chăm chú vào số hiệu của tờ vé số quá hạn.

Tờ giấy dán phòng bệnh dành cho những bệnh nhân nặng thổ huyết và hô hấp khó khăn.

Cảnh những người khuyết tật chụp hình kỷ niệm trước hội trường của hội chợ quốc tế.

Nhà vệ sinh công cộng nơi sân ga.

Câu lạc bộ của trường hải quân cũ phản chiếu trong gương.

Kẻ ăn mày chất hết tài sản của mình lên chiếc xe đạp không lốp rồi đẩy đi.

Núi phế liệu.

Rồi thì không hiểu sao có cả toa tàu chở hàng. Theo cách phân loại của tôi thì nó cũng gần với những loại phế vật.

Không phải tôi có mục đích tiết lộ ra để giải thích điều gì đâu. Vì những tấm hình tôi chụp không phải là ghi chép sự thực nên có giải thích nội dung cũng vô dụng mà thôi. Chỉ là tôi thử viết ra hết để giải thích những tình huống mà tôi đưa máy lên chụp hình.

Tuy nhiên, không phải tôi chụp là bởi vì bị thu hút bởi sự thú vị của những tình huống như thế đâu. Mà do tôi đã nghe ra được tiếng kêu gào đáng sợ của những bãi rác, những phế vật và phế nhân kia. Tôi không thể giải thích thêm nữa. Cũng giống như cái âm thoa vậy, có cái gì đó trong tâm tư tôi bắt đầu cộng hưởng khiến lông tóc dựng đứng lên rồi cứ thế mà bị kéo mạnh lại gần.

Tôi có cảm giác như mình vừa sợ tiếng kêu đó nhưng đồng thời cũng sợ là không còn nghe ra được những tiếng kêu đó nữa. Dường như bởi vì nếu không còn nghe ra được những thanh âm kia thì  xung động khiến tôi muốn chụp hình cũng sẽ biến mất vậy. Kinh thật. Đây không chỉ là vấn đề chụp hình thuần túy mà thôi đâu.

Tôi có một dự cảm rằng ngay khi hình ảnh về những bãi rác biến mất đi thì tôi sẽ mất trọn vẹn hứng khởi sáng tạo. Tôi nghĩ rằng cả tiểu thuyết và sân khấu cuối cùng cũng chỉ là tiếng kêu gào đại diện cho tiếng kêu gào từ những bãi rác kia thôi.

 Nói chung là tôi luôn bị rác thu hút. Những cuộc gặp gỡ với những phế vật và phế nhân gây cho tôi niềm xúc động hơn tất cả. Nó giống như những miền sâu kín ẩn mật của con người, không muốn ai hay biết. Chỉ bằng sự tồn tại trống rỗng và tráng lệ như thế thôi nó đã áp đảo mọi ý nghĩa. Đó là điều đương nhiên thôi. Cho dù “tính hữu dụng” có thể chịu thua “phế vật” đi nữa  thì chắc hẳn “phế vật” cũng không thể nào khuất phục được “tính hữu dụng” đâu. Như động vật vốn là một thứ ngẫu nhiên ngoại lệ của thực vật, còn thực vật lại chỉ là một thứ sản phẩm ngẫu nhiên ngoại lệ của khoáng vật mà thôi. Điều đáng tiếc là nguyên lý chi phối lại nằm ở bên khoáng vật hơn là bên động vật. Chẳng hạn ta có thể lấy ví dụ trên chiến trường con người phải phó mặc cho phép tắc của khoáng vật vậy. Chẳng phải bây giờ chúng ta cũng vẫn đang đau đầu nhức óc về vấn đề ô nhiễm môi trường do phế liệu sản xuất thải ra sao? Cái niềm tự hào rằng chúng ta đang khiêu chiến với rác đó chẳng phải nhấn mạnh thêm sự tái vũ trang của rác thải hay sao? Nếu chúng ta hiểu và thừa nhận điều đó là được. Tôi không phải là người lạc quan đến mức ra vẻ ta đây với người theo chủ nghĩa hư vô nhưng nếu nói đến niềm hy vọng thì tâm tính bẩm sinh của tôi cũng có quá nhiều điểm tương đồng với rác. Chỉ có điều là tôi có thêm cái tâm ích kỉ muốn cự tuyệt cái chết bình thường để ít nhất có thể chết được theo kiểu riêng chính mình mà thôi.

 Những tiếng kêu than tôi nghe được từ bãi rác dường như là tiếng kêu than của “tính hữu dụng” đã bắt đầu bị bãi lầy nuốt rác ngậm lấy và nhai nghiền nát ra. Ít nhất thì tôi nghe ra như vậy. Đó là lớp màng bong bóng xà phòng mà tôi đã tạo nên và duy trì hàng ngày bằng cảm giác (có thể là huyễn ảnh) rằng mình không phải là rác. Trên lớp màng xà phòng đó, có lẽ ngày mai thế nào tôi cũng tìm cách để tiếp tục vẽ bản phác thảo về đầm lầy nuốt rác. Bởi có lẽ rác chính là truyền thuyết của con người bị nghiền nát ra.

CÁCH DỖ GIẤC NGỦ[4]

Đầu tiên bạn hãy nghĩ về một quang cảnh thường thấy trong các bộ phim cao bồi miền Viễn Tây đi. Thích hợp nhất là cảnh một dải bình nguyên có những dãy núi hẹp hiểm trở với tình huống đang bị tập kích đoàn xe ngựa chở khách. Tại sao phải chọn cảnh trong phim cao bồi Viễn Tây thì tôi không rõ lắm. Hình dung một cảnh trong những vở kịch hay phim cổ trang gì đó chắc cũng được nhưng theo kinh nghiệm của tôi phim cao bồi vẫn là tuyệt nhất. Có lẽ là vì cả tình tiết, hoàn cảnh phim đều mang tình chất chung thường thức, hầu như không cần đến một nỗ lực tưởng tượng nào.Hãy để tôi truyền thụ cho các bạn cách thức tuyệt vời để dỗ giấc ngủ vào những đêm trằn trọc nhé.

Rồi bây giờ hãy hình dung một con đường màu trắng cắt ngang dải bình nguyên. Con đường được ngăn bởi những vách đá cao sừng sững, bị hút vào những vết nứt sâu thăm thẳm. Đó là một chỗ phải đảm bảo yêu cầu là nguy hiểm tuyệt cùng nhưng không có đường lui. Bây giờ bạn sẽ là thổ dân da đỏ, tìm một chỗ nào đó thích hợp âm u trên vách đá cao náu mình thật kỹ. Trên cao là mặt trời màu trắng đang không ngừng run rẩy như thể con sứa dạt bờ. Gió phần phật thổi qua một túp lều lớn trong suốt. Những bụi cây xám cằn cỗi. Những đám cỏ nhuộm đầy bụi cát. Nếu thích bạn có thể hình dung thêm một bản nhạc Viễn Tây nữa cũng được.

Rồi phía trên trời cao có một con kền kền đang bay lượn như đã đánh hơi thấy mùi nguy hiểm cận kề. Rồi phía xa con đường kia bỗng dậy lên một lớp bụi mù. Đó là một toán kỵ sĩ trang phục chỉnh tề đang tiến đến. Tuyệt đối không được manh động. Tất cả chiến hữu của bạn đang lẩn trong vách hẹp và chờ đợi. Nơi vách hẹp này, người ta chỉ có thể đi hàng một, không thể triệt thoát cũng không thể triển khai trận thế. Chỉ cần canh đúng thời điểm mà bắn hạ từng người một là xong. Bạn vốn là tay cung thủ thiện xạ, không cần phải lo bắn trật mục tiêu làm gì.

Rồi giờ thì hãy buông tay. Tiếng tên lao đi như xé gió. Tuy không trông thấy mũi tên nhưng bạn biết là trúng đích. Tên kỵ sĩ da trắng ôm lấy ngực, tháo khăn quàng cổ ra và ngã xuống y như cảnh phim. Rồi mũi tên tiếp theo. Một gã bị bay mũ. Hắn ngã chúi người về phía trước, ôm chặt lấy cổ ngựa. Sau khi quan sát kỹ, bạn lại tiếp tục buông tên lần thứ ba. Kẻ địch thì vô số và bạn lúc nào cũng thừa tên.

Dĩ nhiên tùy theo điều kiện hình dung mà có khác nhau chút đỉnh nhưng nếu đúng tình hình thì chỉ bắn đến người thứ tư, thứ năm là đã có hiệu quả rồi. Bắn đến người thứ hai mươi thì quả là hiếm. Rất nhanh thôi, cơn buồn ngủ bắt đầu ập đến. Cánh tay buông cung tự nhiên mất lực, quang cảnh xung quanh như ngưng đọng lại, màu sắc nhạt nhòa dần đi. Và cứ thế bạn chìm vào giấc ngủ ngon lành. Hoàn toàn không có cảm giác khổ sở bất an khi đấu tranh lại với chứng mất ngủ như các biện pháp phác thảo một con đường quen thuộc đến mức vô lý, hay cố gắng đếm ngược lại từ số một ngàn trở đi. Có lẽ bạn sẽ nghĩ rằng việc nhìn thấy cảnh sát phạt hay bắn tỉa từ vách đá cao như thế thật sự mang một tác dụng trấn tĩnh tinh thần đến thế sao thì đúng sự thật là vậy chứ còn gì nữa. Có lẽ việc giết người với việc giả vờ giết người là hai chuyện hoàn toàn tương phản nhau. Ví dụ như việc gần đây chính phủ đưa ra phương châm quản lý súng mô hình đã ngược lại với ý đồ của nhà quản lý và càng thúc đẩy đám đông trở nên cuồng loạn hơn chẳng phải sao?

Tuy thế bạn nói rằng phương pháp hữu hiệu này chẳng giúp ích gì cho tôi bây giờ cả. Vì mũi tên sau khi bay đi lại lượn vòng quay lại. Tôi trúng phải vết thương chí mạng. Thật ra thì tôi mắc chứng sợ các đồ vật nhọn. Thấy bên cạnh tôi có người đan len là tôi lại sợ mũi kim đan đâm vào mắt mình không thể nào chịu nổi, còn trên xe điện thì ngay lập tức đứng phắt dậy khi bên cạnh có người đọc sách, góc sách nhọn nhọn thật ghê người. Chỉ cần lỡ để ý đến đầu mũi tên một lần thôi là không sao dứt khỏi tâm trí nữa. Cho dù thử lắp bao nhiêu mũi tên vào cung đi nữa thì mũi tên đó cũng quay ngược lại đâm vào tôi mà thôi. Đừng nói đến việc trấn tĩnh tinh thần, tôi còn hoảng loạn hơn khiến giấc ngủ càng xa khỏi tầm với.

Nếu vậy bạn hãy thử thay cung bằng súng trường thử xem sao. Nòng súng rõ ràng chắc chắn hơn tên mà. Bạn gắng gượng thay đổi một lúc thôi. Tuy nhiên dù cho tình huống tương tự nhưng súng phát sinh lực giật khi bóp cò thì làm sao mà an định được chứ. Hiệu quả an thần để ngủ với nỗ lực cố gắng không cho nòng súng cong lại tranh đấu liên tục với nhau khiến cho số người trúng đạn ngã xuống càng lúc càng tăng dần. Rồi sẽ đến một ngày, nòng súng quay ngoắt lại chĩa thẳng vào tôi luôn.

Trước hết, điều tiên quyết là phải chữa lành chứng sợ vật nhọn đã. Tuy nhiên theo như lời khuyên của những bác sĩ thần kinh thì không gì có tác dụng hơn một giấc ngủ ngon cả. Chẳng phải đúng như vậy sao? Để có một giấc ngủ ngon thì chắc chắn việc tìm cách ngủ ngon là được rồi còn gì. Thử kiếm vũ khí nào hình tròn không có đầu nhọn thử xem sao?

Tuy nhiên cái điều phiền phức thực sự có lẽ không phải nằm ở chứng mất ngủ mà là lúc ta không tài nào thoát khỏi giấc mơ được. Sự khó chịu của việc thức giấc làm ta cảm nhận rõ ràng hơn là sự khó chịu của việc thiếp ngủ. Ví dụ như khi ta ngủ mơ thấy mình bị một gì đó đáng sợ đuổi theo sau. Ngay khoảnh khắc khủng khiếp kia chuẩn bị tựu thành tự nhiên ta tỉnh giấc thế nhưng cứ mãi day dứt hoảng sợ, không sao quên đi hoàn toàn được. Thậm chí ngay chính bản thân tôi đã từng có kinh nghiệm như thế.

Khi đó trên đường du lịch, tôi đứng chờ ai đó nơi tiền sảnh khách sạn. Điện thoại gọi đến báo người khách đó có việc đột xuất nên sẽ đến trễ khoảng một tiếng đồng hồ. Tôi trở về phòng mình, cứ mặc nguyên đồ như vậy nằm vật xuống giường, quyết định sử dụng cách dỗ giấc ngủ trên để chợp mắt một lát. Và rồi tôi đã mơ.

Trong mơ tôi thấy mình bị một con quái vật đáng sợ đuổi theo sau. Đó là con quái vật đều đặn xuất hiện một năm khoảng một hai lần gây đau khổ cho tôi không ít. Từ đầu đến chân nó đều đóng vảy. Các vảy như vảy cá khô, trên đầu mút còn có lớp lông nhạt nữa. Mặc dù không biết rõ điều đó có gia tăng nguy hại đến thế nào nhưng trước hết tôi phải chạy đã. Con quái vật đó cười nhạt mà đuổi theo sau. Tôi chạy trối chết. Trong khi chạy vòng vòng tôi lao vào một con phố nhỏ. Đường hẹp dần, tôi gặp ngõ cụt. Tôi leo tường, vượt rào chạy trốn xuyên qua nhà người ta. Vừa chạy vừa bị chó sủa. Lúc đó, tôi chợt nghĩ đây là giấc mơ. Vừa chạy tôi vừa cấu mu bàn tay mình xem sao. Quả thật là mơ rồi, hoàn toàn không cảm thấy đau đớn gì cả. Tuy nhiên vẫn chưa thể yên tâm được nên tôi thử cấu vào tay thêm lần nữa. Tôi còn dùng tay kéo thử da chỗ mu bàn tay xem sao. Lớp da như miếng cao su, giãn ra đến hai mươi centimét mà tôi không hề cảm thấy đau đớn hay ngứa ngáy gì cả. Mặc dù đã chắc chắn đây chỉ là giấc mơ thôi nhưng cơn hoảng sợ đối với còn quái vật không hề phai nhạt đi chút nào. Dù vậy, thường thì cơn căng thẳng đó cũng sẽ tự nhiên dịu bớt rồi tôi thức dậy mà thôi. Tuy nhiên, ngày hôm đó thì hoàn toàn khác. Tuy biết rằng đó chỉ là mơ nhưng tôi hoàn toàn không có cảm giác gì là mình đã tình dậy cả. Tôi cố gắng thử đủ mọi cách, tìm đủ mọi chiêu trò, cố gắng như thể cởi cái quần bơi sũng nước mà vẫn vô hiệu. Thế là tôi quyết định nghĩ đến việc mình cứ để cho quái vật bắt mất đi. Tuy nhiên nếu chuyện đó xảy ra mà tôi vẫn không thức dậy được thì quả thật là rùng mình, thế là không sao lên quyết tâm làm được. Thôi thì cứ xem như đó là phương sách cuối cùng vậy.

Tôi liên tưởng đến việc tỉnh giấc trong khi mơ thấy mình rơi từ trên cao xuống. Vì chỉ là mơ thôi nên không lo là mình phải chết. Từ một chỗ cao nào đó cứ thế mà nhảy xuống thôi. Tuy cần chút dũng khí nhưng chỉ là một khoảnh khắc, đỡ hơn việc bị con quái vật bị bắt đi nhiều. Có một cái cầu. Bờ sông đầy sỏi đá. Đám trẻ đang chơi đùa, ngâm chân nơi dòng nước nhỏ. Quay lại nhìn, con quái vật đã đuổi đến sát ngay bên cầu. Sau khi thử cấu vào tay mình, tôi nhắm mắt lại, liều mình nhảy xuống.

Không biết làm sao mà dù như thế tôi vẫn không tài nào tỉnh giấc. Tôi rơi xuống bờ sông cạn, nảy lên nảy xuống mấy lần như trái bóng cao su. Đám trẻ ngừng chơi đùa, trố mắt nhìn tôi. Con quái vật trên cầu cất tiếng cười hô hố. Thả lỏng người, người không nảy lên nữa, tôi ngồi bệt xuống bờ sông vô vọng. Bây giờ điều làm tôi đau khổ không phải là sự sợ hãi mà là nỗi nhục nhã. Ai mà tin được chuyện ngu ngốc như thế này lại xảy ra chứ? Ngay cả như giả vờ như không bị ai nhìn thấy thì chắc mọi người cũng sẽ xem như không nhìn thấy gì thôi.

Bước lên khỏi bờ sông, tôi vào một con đường lớn ngựa xe nườm nượp. Ngay phía trước may mắn thay lại chính là khách sạn nơi tôi đang trú ngụ. Tôi nhìn đồng hồ, thấy vừa đúng một tiếng trôi qua. Tôi vội vàng chạy vào tiền sảnh khách sạn, giả vờ lấy tờ báo đọc như chẳng có chuyện gì xảy ra. Khoảng bốn năm phút sau thì người khách đã hẹn bước vào. Thật khó xử. Cuối cùng tôi cứ thế mà ngủ trên giường đến tối nhưng không hiểu sao tôi không tin đó là giấc mơ. Vừa nói chuyện với vị khách đó, tôi vừa cấu vào mu bàn tay cảm thấy thật sự đau. Chắc chắn giữa giấc mơ và hiện thực có một sự nứt gãy khiến tôi không thể nhận ra đâu là đâu nữa.

CHIẾC MÁY HÁT

Từ cách đây rất lâu rồi, khi còn là học sinh tiểu học, tôi đã sống ở nhà ông trên Hokkaido khoảng một năm rưỡi. Ông tôi bị đột quỵ nên nằm liệt giường. Vốn là chủ đất nên vào mùa thu hoạch tất cả mọi người đều ra đồng cả chỉ mình tôi phải ở lại trông nom ông và canh nhà. Tuy nhiêm việc chăm sóc ông rất nhẹ nhàng. Tôi hoàn toàn không nhớ ra ông đã từng nhờ vả hay làm phiền gì tôi cả. Chỉ có hình ảnh cánh cửa giấy màu đen luôn đóng kín mít là hiện lên rõ ràng. Tôi nghĩ rằng cánh cửa đó là sào huyệt của những con vật màu trắng to dùng đầy gai như con ma bánh đậu vậy.  Có lẽ tôi đã không ý thức nghiêm chỉnh gì về điều đó nên phía trong căn phòng đó trong ký ức của tôi đã trôi tuột đi như một cái hang động trống rỗng.

Tôi nhớ lâu lâu có người anh họ đến chơi. Anh hơn tôi chừng bốn năm tuổi, là người có sức ảnh hưởng mạnh kiểu thôi miên. Tất cả những điều anh làm đều toát lên vẻ mạnh mẽ, đáng sợ và mới mẻ. Chẳng hạn như dùng kéo cắt mào gà, ngắt ngọn bí trên ruộng bí, thả chuột vào thùng gạo, toàn là những việc xấu gây thiệt hại không thể xem thường. Chơi với anh vừa vui vừa sợ. Đến giờ tôi vẫn không hiểu là tại sao lúc đó tôi không bị trừng phạt một lần nào.

Khi hết trò quậy quá, anh họ tôi bắt đầu chuyển hướng sang trêu chọc ông tôi. Có lần anh bắn tên xuyên qua cửa giấy, làm bên ám trái của ông bị thương. Có lần anh dùng cần câu cá thò qua khe cửa giấy mà câu lấy mấy bình thuốc của ông tôi. Anh còn cưỡi ngựa con trong phòng nữa. Ngay khi ông vừa la hét lên thì chúng tôi liền chạy trốn mất nên không nhớ về sau ra sao. Nhưng tôi nhớ chắc chắc là đếm đó hay sáng hôm sau bác sĩ phải đến tận nhà thăm khám.

Tuy nhiên việc mang tính quyết định nhất là vụ việc chiếc máy hát. Có lần anh họ tôi đã nghe được một thông tin rất thú vị. Đó là dường như ông rất ghét cái thứ nhạc đệm làm nền trong phim võ hiệp. Thế là ngay lập tức anh kiếm ngay một cái dĩa ghi âm đó. Cái máy hát vốn là di vật của người bác đã mất để lại, được chúng tôi từ chỗ bàn thờ Phật ra mang đến đặt nơi góc tường xa nhất với căn phòng mười chiếu ông đang nằm. Chúng tôi đặt dĩa ghi lên và nhấn kim xuống với tâm trạng như những người lính đang đặt mìn vậy.

Hiệu quả đến tức thời. Chúng tôi nghe tiếng hét từ phòng của ông lớn đến mức không ngờ. Tuy không hiểu ý nghĩa, nhưng tôi có thể tưởng tưởng dáng vẻ ông co quắp vì giận dữ. Và chuyện không thể tin được đã xảy ra. Khi tiếng nhạc cất lên một lúc, cánh cửa bật mở ra và người ông tôi nghĩ chỉ có thể nằm liệt giường lại trườn ra ngoài. Chúng tôi vội vàng chạy ra khỏi nhà nấp trong vườn để nghe ngóng động tĩnh.

Đầu tiên chúng tôi thấy ông cử động. Ông ngã chúi người về phía trước nhưng lại gượng dậy được bằng hai đầu gối và quỳ với vẻ rất khó khăn. Sau đó ông co người về trước và ngã xuống. Nằm thở một lúc rồi ông lại từ từ gượng dậy. Cứ lặp lại như thế cuối cùng ông cũng vẫn có thể tiếp tục tiến về phía trước. Ông giống như một con côn trùng khổng lồ. Tuy vậy một động tác của ông chưa được nửa bước bước chân. Đến được chỗ chiếc máy hát chắc phải mất khá nhiều thời gian đây.

Anh tôi bật cười. Dĩ nhiên tôi cũng cười theo. Bởi đây là một quang cảnh đáng cười. Tôi tin chắc nếu ông chết chắc chắn ông sẽ biến thành ma thôi.

Dĩa hát ngưng. Ông tôi vẫn còn khoảng năm, sáu lần ngã dậy như vậy mới đến nơi. Anh tôi đột nhiên chạy đến, nhanh chóng tắt cái máy hát, tháo dĩa ra và và chạy lại chỗ tôi. Ông tôi rú lên. Nước dãi nhễu nhão nhỏ thành một đường dài xuống chiếu. Tuy nhiên ông không có vẻ gì nhìn về phía chúng tôi. Ông hoàn toàn coi thường chúng tôi, cứ một mực tiến lại gần chiếc máy hát. Có lẽ ông định đập nát nó chăng? Tôi cảm thấy trong tâm tư ông muốn làm điều đó. Cuối cùng khi tiến đến nơi, ông gần như đổ rầm xuống chiếc máy hát. Nhưng không đến mức phá hư. Nếu như sử dụng sức nặng cơ thể thì chắc cũng làm được điều đó dễ dàng thôi mà.

Nhưng mà ông tôi không làm gì cả. Sau khi nhìn chăm chú một lúc lâu, ông tôi lại ngã quỳ ngã quỳ lần theo con đường cũ lúc nãy về phòng mình. Đối với một người đã từng là nông dân khai thác như ông tôi chắc không thể nào mong chờ hành vi phá nát chiếc máy hát được cả nhỉ? Ông vốn là người khai khẩn rừng nguyên sinh nơi thũng lũng Kawakami để xây dựng cơ đồ như ngày hôm nay. Cho nên việc ông cảm thấy giá phải đánh đổi để có một đồ vật bao giờ cũng cao hơn giá trị thực tế cũng không phải là chuyện vô lý gì.

Khi nhìn thấy ông đã lần về được đến phòng ngủ của mình một cách đầy khổ sở thì người anh họ lại bắt đầu cho quay đĩa hát. Ông tôi cũng không chịu thua. Khi bản nhạc nền của phim võ hiệp cất lên, ông không la hét nữa mà lại bắt đầu lần đi đến chỗ chiếc máy hát. Lần này mất thời gian hơn trước nhiều. Người anh tôi không cười nữa. Dĩ nhiên tôi cũng không cười. Trước khi tắt được chiếc máy hát, ông tôi đã kiệt lực ngã vật ra nằm bất tỉnh. Hai đứa tôi chờ đợi thấy khổ sở quá liền đi chỗ khác bày trò chơi mới. Tôi không nhớ chuyện đó có liên quan gì đến cái chết của người ông hay không. Tôi cũng không nhớ là bị có bị trách mắng hay không nữa.

Bất ngờ đêm qua tôi mơ thấy mình bị biến thành chiếc máy hát. Đó là chiếc máy hát cơ kiểu cũ có nút xoay bằng tay từ thời tôi còn bày trò đùa nghịch với ông tôi. Có ai đó thỉnh thoảng đến phá hư tôi. Dĩ nhiên không phải là ông tôi rồi. Người nào đó gần gũi thân thiết hơn cơ. Tôi cảm giác được cái bàn tay đóng chiếc vít gỗ vào thân mình tôi từ từ nhè nhẹ. Tôi không thể nào im lặng chịu trận như thế. Tôi phải tự mình lên tiếng, thể hiện ra cho người ta biết là mình còn có ích lợi chứ? Thế là tôi bắt đầu thử cất tiếng hát. Mặc dù chưa gắn dĩa hát và cũng chưa được lên dây thế mà không hiểu sao tôi lại cất tiếng được. Thật tuyệt vời. Dàn âm thanh nổi tân tiến nhất còn không thể bắt chước được tài nghệ của tôi nữa. Ai ai cũng phải tán dương.

Chỉ có điều tôi lo lắng là về âm sắc. Với giọng khàn khàn hiu hắt, tôi sợ nó sẽ gợi ra nỗi thương cảm thấp hèn. Nhưng do dự một chút là mình ra bãi phế liệu ngay. Không thể nào ngưng nghỉ được. Ít nhất trong khi vẫn còn nhớ được ca từ thì cứ tiếp tục hát thôi. Đâu chắc sẽ có ai nhớ giùm tôi rằng có con người bị nhốt kín trong chiếc máy hát chứ?

Những con rắn độc trong lọ mực
Bò ra thành tấm bản đồ
Khi lần tìm tấm bản đồ
Những ngón tay đã mơ
Bị giam trong tù ngục mang tên chiếc máy hát
Đó là giấc mơ những ngón tay đã thấy

Đó là nguyên văn ca từ khi tôi bị biến thành chiếc máy hát. Tôi không thêm bớt chỉnh sửa một lời nào. Tôi cảm thấy mình mơ hồ ý thức về ông tôi nhưng dường như là không có mối liên hệ trực tiếp nào cả. Tuy nhiên ngay khoảnh khắc tôi phát âm từ “chiếc-máy-hát”, tôi cảm thấy mình được nối kết về một quá khứ xa xăm nào đó. Nếu nói như thế thì tôi thấy mình lúc nào cũng như đứa trẻ giống như máy ghi âm bị hư.

_______________________________________________

[1] “Người hộp” (Hako Otoko 箱男) tên một tiểu thuyết của Abe Kobo, nói về một người đàn ông đội một chiếc hộp giấy bìa các tông từ đầu đến thắt lưng, đi lang thang trong thành phố ngắm nhìn thế giới bên ngoài từ khe hở chiếc hộp. Ngoài những mẩu phóng sự, đoạn thơ, Abe Kobo có chèn thêm 8 tấm hình do mình tự chụp vào tác phẩm.

[2] Tên truyện bản tiếng Nhật là “不思議の国のアリス”

[3] Nguyên văn là “晒し首用の台”, đài bêu đầu tù nhân tử hình được xây dựng vào thời Edo (1600-1867)

[4] Nguyên tác “Thụy miên dụ đạo thuật” (睡眠誘導術)

Advertisements


Chuyên mục:Lotus Media, Tác giả - Tác phẩm, Tác giả, tác phẩm, Trên kệ sách

Thẻ:

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: