Không muốn bạo động? Trước hết bạn phải nhập cuộc

Việc đất nước chúng ta đã trải qua biết bao tang tóc đau thương là chuyện lịch sử. Nhưng hậu quả của những năm nội chiến, ngoại xâm, nội chiến là một xã hội cực kỳ phân hóa. Mọi giá trị cổ truyền đã bị phá hủy, mọi trật tự cổ truyền đã chìm trong quên lãng, mà thay thế vào đó thì chưa có gì cả. Chẳng vậy mà mấy năm gần đây Hà Nội lớn tiếng kêu gọi “lập lại kỷ cương”. Nhưng “kỷ cương” một khi đã mất có dễ lập lại! – trích PHAN LÂM HƯƠNG, Tương Lai Chính Trị Việt Nam, Xin Ðừng Quá Lạc Quan – mục Xã Hội Phân Hóa. Nguyệt san Thế Kỷ 21, số 35, 1992.

1.
Tôi không nghĩ ra, cách gì có thể ngăn cản được sự bứt bối của người dân Bình Dương lúc này. Bởi ở đó tầng lớp công nhân nói riêng có thể uất ức quá nhiều và quá lâu. Ðiều có thể làm thay đổi được hình ảnh bạo động là toàn dân cùng xuống đường giải quyết tận gốc rễ mọi vấn nạn của đất nước, không chỉ ở tuốt bên Trung Hoa hay người Trung Hoa. Cũng chẳng liên can quyền lợi của Tây hay của Mỹ, ngoài lòng thương xót.

Tôi thật sự không an lòng khi đọc bố cáo khướt từ du khách Trung Hoa tại một khách sạn ở Nha Trang được tung lên mạng facebook hôm qua, không phải vì mình không chia sẻ tâm tư của người dân xứ mình. Ức chứ! Cảm giác lúc này hệt trong bài của tác giả Nguyễn Hưng Quốc, thấy mình có tội!

Suốt cả buổi sáng và trưa hôm nay, tôi không làm gì khác hơn là ngồi thừ trố mắt nhìn lên màn ảnh computer để theo dõi từng diễn biến của các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam. Tôi mới thấy rõ hơn cái điều tôi từng thoáng nghĩ, nhưng hầu như chưa bao giờ tự giác: Chúng ta có thể từ bỏ một chế độ, nhưng không ai có thể từ bỏ được Tổ Quốc, ngay cả khi, để từ bỏ chế độ, chúng ta đành phải ra đi và sống rất xa Tổ Quốc; nhưng ngay cả trong trường hợp đó, Tổ Quốc vẫn đi theo, vẫn vây bọc chúng ta, như một tổ kén vây bọc thân tằm, hay đúng hơn, như một tử cung ôm lấy em bé: Chúng ta thở, buồn, vui, nghĩ ngợi cùng nhịp với Tổ Quốc. Khi Tổ Quốc đau, chúng ta thấy quặn trong lòng; khi Tổ Quốc đối diện với nguy hiểm, chúng ta cũng thấy phập phồng lo lắng và nôn nao muốn làm được một cái gì đó cho Tổ Quốc. Không làm được gì, có cảm giác như mang tội. – Nguyễn Hưng QuốcTổ Quốc

Nhưng khi nghĩ đến hàng ngàn người Việt đang định cư hoặc tạm cư, làm việc chính thức hay “lậu” hiện nay ở Trung Hoa, bỗng dưng thấy bất an. Trong số những người dân tại Bình Dương, biết đâu cũng có bà con đang dung thân ở bên đó.

Suy cho cùng, đấu tranh bất bạo động ở một xã hội mà bạo lực cách mạng, “máu của người mang lại tình thương,” cắm rễ quá sâu thî không phải là điều dễ dàng. Và hình như trong lịch sử nhân loại, rất hiếm, có những cuộc đấu tranh dù mệnh danh bất bạo động mà chẳng có thiệt mạng. Vấn đề nó kéo dài bao lâu với sự thiệt hại ở mức độ nào, dẫu chính nghĩa thì quá rõ ràng rồi.

Cách gì thì qua những sự kiện nóng đang xảy ra. Biên ngoài giặc áp sát, nội tình dân đã loạn. Ai không tin thì cũng phải bắt đầu tin Việt Nam thực sự bước vào giai kỳ thay đổi khó cưỡng lại, như 40 năm trước không phải ai cũng tin 100% ra biển, là tới bờ tự do. Nhưng người ta vẫn phải một lần lên đường tìm sự sống trong sự chết.

Song bất kỳ sự thay đổi nào bằng bạo lực, là tự nó mở màn cho những cuộc chống trả bằng bạo lực kịch liệt hơn.

Trong một thư riêng hồi âm cho anh em nhóm Hoa Ðàm, giáo sư Nguyễn Văn Thái chia sẻ:

Nhiều người nghĩ Ðấu Tranh Bất Bạo Ðộng chỉ là yêu cầu, xin xỏ, trong ôn hoà. Quá lắm thì biểu tình, xuống đường. Thực sự thì Ðấu Tranh Bất Bạo Ðộng đòi hỏi một kiến thức bao quát và rộng lớn còn hơn cả kiến thức về kỷ thuật chiến tranh quy ước nữa. Ðấu Tranh Bất Bạo Ðộng đòi hỏi kiến thức và kỹ năng phỏng định tình hình (xã hội, văn hoá, quân sự, địa hình, thời tiết,v.v…) để có thể vạch ra một đại chiến lược bao gồm những nhược điểm cũng như những ưu điểm của địch và của mình, các chiến lược và chiến thuật, lề lối tổ chức cùng với những mục đích dài hạn và các mục tiêu ngắn hạn để lần hồi đi đến việc đốn ngã các cột trụ chống đỡ chính thể độc tài.

Giáo sư Nguyễn Văn Thái, người tận tụy dịch trọn tác phẩm “Tự Giải Phóng” của Tiến sĩ Gene Sharp sang tiếng Việt, vì mong mỏi nó được nhiều người Việt Nam biết tới và dùng tới.

Suốt mấy thế kỷ, nội chiến, ngoại xâm, rồi lại nội chiến, đất nước chia hai, chia ba rồi lại chia hai, ngay cả đến quan niệm con người Việt Nam cũng nhiều khi bị lu mờ. Con người Việt Nam nhiều khi bị chèn ép dưới người Bắc, người Trung, và người Nam, hay xa hơn nữa, Ðàng Trong, Ðàng Ngoài. Ngay cả đến bây giờ, Bắc Nam vẫn còn là một nguồn chia rẽ.

Suốt từ thời Lê Mạt, Mạc Ðăng Dung tiếm quyền, kéo đến tận khi Gia Long thống nhất sơn hà, đất nước trải biết bao phen ly tán. Giai đoạn ngắn ngủi của cuộc thống nhất Quang Trung trôi qua quá mau trong khi thời gian ly tán chính trị kéo dài hàng hai, ba trăm năm để lại những ấn tượng sâu xa trong tâm hồn người Việt. Ngay cả giai đoạn thống nhất của nhà Nguyễn cũng còn quá ngắn. Ðất nước chưa tìm được sự thống nhất thực sự thì Tây sang xâm chiếm và chia rẽ lại được bồi đắp thêm. Ảnh hưởng của những chia rẽ này ngấm ngầm nhưng thật khó gột tẩy.(…) Giờ đây dân tộc Việt còn thêm một ranh giới nữa, ranh giới giữa quốc nội và quốc ngoại… – trích PHAN LÂM HƯƠNG, Tương Lai Chính Trị Việt Nam, Xin Ðừng Quá Lạc Quan – mục Dân Tộc Chia Rẽ. Nguyệt san Thế Kỷ 21, số 35, 1992.

Ðã đành, có thật một “Dân tộc chia rẽ”, một “xã hội phân hóa” và thực trạng một bản sao của chế độ Satalin luôn tạo cho dân chúng “mặc cảm tội lỗi” tập thể, cho đến một lúc bất cần luật pháp, thì nó cũng chính là tiền đề cho sự sụp đổ toàn diện của chế độ pháp trị ấy.

Dù sao tôi vẫn mong như tâm tình của tác giả Phan Lâm Hương, nhắc lại lịch sử cốt để đừng “lạc đường vào lịch sử.” Ðấu tranh bất bạo động tự nó là cuộc đấu tranh trực diện với bạo động. Theo đó toàn bộ ý nghĩa của nó chính là chấp nhận mọi rủi may bạo động, rồi hóa giải.

2.
Ngay trong lúc này, không biết cách nào để ngăn chặn làn sóng bạo động rồi hướng hành động của quần chúng vào quá trình và mục tiêu giải quyết tận gốc rễ các vấn nạn của đất nước, ngoại trừ khi nào tinh thần bất bạo động đủ sức chan hòa tinh thần bạo động, đang có nguy cơ leo thang và  lan rộng. Và như vậy, nó đòi hỏi những người am hiểu và ý thức tinh thần tranh đấu bất bạo động hòa mình vào công cuộc tranh đấu đông hơn và nhiệt tình hơn. Một khi còn có người đứng bên lề những cuộc bạo động, mọi phê phán chỉ khoét sâu thêm vết thương lịch sử một “dân tộc chia rẽ” và cũng chẳng thay đổi được gì cho một “xã hội phân hóa” trầm trọng lâu nay.

Bạn không muốn bạo động và làm sao có thể giải quyết toàn bộ gốc rễ của sự bạo động? Trước hết bạn phải là người nhập cuộc.

Ngày 13 tháng Năm, 2014
UYÊN NGUYÊN

 

Photo: International Centre of Nonviolence

 

Sơ lược về nguồn gốc của những tài liệu về ĐTBBĐ

Tài liệu về ĐTBBĐ không có nhiều. GSTS Gene Sharp, một học giả nổi tiếng thế giới, là người duy nhất đã sản xuất một số tài liệu khổng lồ dựa trên hơn 30 năm nghiên cứu lịch sử ĐTBBĐ trên thế giới và kinh nghiệm huấn luyện về kĩ thuật ĐTBBĐ của ông tại những quốc gia tranh đấu chống độc tài, áp bức và giành độc lập cho quốc gia của họ. Ông đã từng giúp huấn luyện những nhà đấu tranh tại các quốc gia thuộc vùng Balkan và Baltic như là Lithuania, Latvia, Estonia, và Serbia. Serbia đã lật đổ chế độ độc tài Slobodan Milošević. Lithuania, Latvia, Estonia đã giành lại độc lập từ nước Nga. Ông cũng đã giúp Thái Lan và Miến Điện trong những cuộc đấu tranh chống độc tài của họ.

Sau bao nhiêu công trình nghiên cứu tài liệu và kinh nghiệm huấn luyện về ĐTBBĐ, GSTS Gene Sharp đã chắt lọc nhiều sách mà ông đã trước tác, rồi viết lại thành một tập nhỏ chỉ khoảng 60 trang vạch ra những đường nét chính hướng dẫn việc soạn thảo một đại chiến lược và những chiến thuật ĐTBBĐ mà mục đích tối hậu là xoá bỏ những chế độ độc tài hay bất cứ hình thức áp bức nào khác. Trong mục đích này, để các nhà đấu tranh có đủ kiến thức và kĩ năng cần thiết trong việc soạn thảo đại chiến lược, các chiến thuật, cũng như những phương thức tổ chức ĐTBBĐ, GSTS Gene Sharp — dựa trên những thiếu sót cũng như những thành quả của những chương trình huấn luyện mà ông đã thực hiện — khuyến khích các nhà đấu tranh nên đọc thêm những trích đoạn từ những cuốn sách của ông theo một trình tự nhất định. Tất cả những trích đoạn này gộp lại thành khoảng 900 trang từ 8 cuốn sách của ông. – trích Tự do ngôn luận

Advertisements


Chuyên mục:Nhân vật, Sự kiện, Xã hội

Thẻ:

8 replies

  1. “Nonviolence, to be a potent force, must begin with the mind. Nonviolence of the mere body without the cooperation of the mind is nonviolence of the weak or the cowardly, and has, therefore, no potency. If we bear malice and hatred in our bosoms and pretend not to retaliate, it must recoil upon us and lead to our destruction. For abstention from mere body violence not to be injurious, it is at least necessary not to entertain hatred if we cannot generate active love.”

    -Mahatma Gandhi

    Số lượt thích

  2. Nước yếu , chính quyền độc tài đảng trị , nhu nhược lệ thuộc Tàu Cọng, thì mất đất mất biển là chuyện đuơng nhiên . Một nước dân đông, không theo luật lệ khi đi du lịch , thì chính quyền họ cũng mất dạy không kém ,dân họ có thể cắp vật của người khác khi họ sơ ý, chính quyền họ cũng không ngần ngại xài đở đất biển do đàn em hèn hạ cung cấp . Nhưng Tàu Cọng lại rất sợ sức đề kháng của dân tộc Việt đã thể hiện rỏ ràng trong các biến cố trong ngàn năm quá khứ , khi nhân dân Việt đã tức giân nổi dậy , tài sản tính mạng người Tàu Cọng chắc không còn an toàn như trong quá khứ đội lốp chủ nhân ông .
    Người Tàu họ chỉ biết Tàu , tôi thấy họ sống bên Mỹ , ăn tiền già của Mỹ mà lòng khi nào cũng hướng về Mao Trạch Đông, lập bàn thờ cho tên đồ tể này . Không biết khi Tàu Cọng chiếm Mỹ như họ mơ ước họ có được hưởng xấp 2 số tiền già mà nhân dân Mỹ đóng góp cho họ .
    Phản ứng mạnh mẻ hơn, nhập cuộc hơn trong việc chống giặc cướp Tàu trong và ngoài nước và nếu lật đổ bọn thống tri đê hèn trong nước thì càng tốt.

    Số lượt thích

  3. Hai lá cờ, hai quốc huy của Trung Quộc và VN tuơng tự giống nhau. Không ưa nhau thì phải dứt khoát . Vất bỏ lá cờ và quốc huy thì nước nhà mới có tương lai. Đây là chuyên làm được và nên làm liền so với những chuyện khác.

    Số lượt thích

  4. Đấu tranh bất bạo động đã thành công ở Ấn Độ, ở Hoa Kỳ, ở Nam Phi, và ở Miến Điện, v.v… Nhưng chắc ở mấy quốc gia Cộng sản thì khó mà thành, như trong trường hợp Đức Đạt Lai Lạt Ma đấu tranh bất bạo động gần 50 năm qua giành lại tự trị cho Tibet.

    Cũng có một thời CSVN và CS Trung Quốc, hai tên này là “môi hở răng lạnh,” “comrades đồng chí” với nhau nhưng khi đụng tới quyền lợi thì cũng đánh chửi nhau, coi luật lệ quốc tế không ra gì.

    Bây giờ CSVN có đánh với CS Trung Quốc, thằng nào ác hơn thì thằng đó thắng. They are both deserve the Darwin Award.

    Ngoài khơi biển Nam Hải như vậy, biết đâu Nguyễn tấn Dũng và mấy tên chóp bu trong Bộ Chính Trị CSVN đang đếm tiền của CS Trung Quốc gửi qua. Đất đai bên Việt Nam từ Nam chí Bắc, rất nhiều nơi đã cho các công ty Trung Cộng ký mướn hợp đồng xử dụng dài hạn, 50 năm là chuyện thường.

    Nhập cuộc hay không thì tùy theo cái nhìn của mỗi người, to each his/her own. Chuyện non sông thế sự, chuyện trên trời dưới đất, chuyện ngắn chuyện dài, chuyện ca sĩ đi về Việt Nam hét (on pun intended) nói ra không bao giờ hết… Thôi, I just want to sit, breath, and experience 🙂

    Tomorrow is another day.

    Số lượt thích

  5. I meant (no pun intended).

    Số lượt thích

  6. Ong noi di noi lai…hue ca lang…Chang thay mot quan diem ro ret nao…Chi dua vao loi le nguoi khac…lap lai…dung la tam xam…mat thoi gio doc gia…Vay ma doi lam blogger???

    Số lượt thích

  7. tamxam: Lịch sử nhân loại, đánh nhau có thắng/thua thì cũng có lúc phải “huề” (nghĩ theo nghĩa rộng) Mà không đánh, cũng phải có giải pháp “huề” trên những quy ước tôn trọng. Thế thì “huề” không tốt à! Mà :”huề” trong ý nghĩa đấu tranh bất bạo động, cần phải thâm nhập một cách đúng đắn tamxam ạ:-) Chúc vui cuối tuần

    Số lượt thích

  8. Mời quý vị đọc để suy gẫm

    Sau hai vòng đàm phán không chính thức với mục đích nếu không đạt được Hiệp ước Liên minh Quân sự với Hoa Kỳ thì ít ra cũng được phép mua vũ khí từ Mỹ, Đại diện CSVN đành về nước tay không với gói quà 18 triệu đô viện trợ cho Cảnh sát Biển.

    Hôm trước khi ra sân bay về nước, Đại diện CSVN có ngõ lời mời người đối tác phía Mỹ một buổi cơm tối thân mật tại một nhà hàng Tàu trong vùng Virginia. Nhà hàng này nổi tiếng với món Vịt Bắc Kinh và có rất nhiều Tổng thống Mỹ ghé qua ăn và chụp hình lưu niệm. Vừa bước vô cửa người đại điện Mỹ nói chào một cách dí dỏm:
    – Ông cũng khéo chọn lựa chứ? Mỹ gặp Việt trong nhà hàng Trung Quốc?

    Đại diện CSVN cười và giải thích:
    – Nhà hàng này có chủ là người Đài Loan. Cứ xem như kẻ thù của kẻ thù là bạn.

    Đại diện Mỹ buột miệng ra một câu tiếng Việt:
    – Thế ra là nhà hàng của “Thế lực THÙ (của) ĐỊCH” à?

    Đại diện CSVN phá lên cười:
    – Gớm. Ông cũng rành tiếng Việt đấy chứ?

    – Tôi học tiếng Việt ở Mỹ, học tiếng lóng tiếng láy ở Sài Gòn khi còn làm tùy viên văn hóa bên đó trước năm 1975. Sau này vẫn theo dõi thời sự và trao đổi trên Facebook. Chúng ta có thể thảo luận bằng tiếng Việt để khỏi mất thì giờ. Ông muốn gặp tôi lần cuối chắc là có câu hỏi gì cho tôi?

    Đại diện CSVN vào thẳng vấn đề:
    – Hai vòng đàm phán qua ông đã kết luận chúng tôi không thể có Liên minh Quân sự với Mỹ vì Trung Quốc sẽ cản trở. Chúng tôi không có đủ ngân sách để mua vũ khí tự túc. Xem ra giải pháp quân sự lúc này với Trung Quốc không khả thi. Thế thì giải pháp pháp lý, ông nghĩ có khả thi hay không? Ý tôi muốn nói rằng đưa Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế để kiện như Philipines đang làm thì có khả thi không?

    – Cơ hội rất ít, thưa ông. Và các ông nên cân nhắc cẩn thận về các bằng chứng trình trước tòa. Vì nếu tòa phán quyết các ông THUA thì con đường tương lại còn gian nan hơn nữa. Phán quyết mới nhất của tòa cấp quốc tế xem ra là bản án tử hình cho các ông tại Biển Đông. Khi ấy các ông bị đẩy ra bên lề mọi tranh chấp sau này của các nước trong vùng đối với Biển Đông.

    – Nhưng nếu chúng tôi liên kết kiện với Phi hay các nước khác?

    – Tôi cũng nhận thấy các ông đang có hướng này. Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ghé thăm Phi hôm qua. Nhưng khả năng Phi liên kết với ông trong vụ kiện rất thấp vì khi Phi kiện các ông không ủng hộ. Bây giờ các ông tham gia với BẰNG CHỨNG BẤT LỢI hơn thì dĩ nhiên Phi khó chấp nhận.

    – Chúng tôi có đầy đủ các bằng chứng THUẬN LỢI từ thời Thực dân Pháp đến Việt Nam Cộng Hòa rằng Việt Nam có đã xác định chủ quyền trên hai quần đảo này liên tục cả trăm năm cơ mà. Sao ông lại nói BẤT LỢI?

    – Các ông đang trưng dẫn bằng chứng của những chế độ đã qua mà không hề có bằng chứng xác nhận chủ quyền cấp quốc tế từ chế độ của các ông. Xem ra khó thuyết phục tòa án. Các ông có thể trưng dẫn hình ảnh thời thơ ấu trong một căn nhà, những câu chuyện tuổi thơ ở đó, trong khi người ta trình ra GIẤY BÁN NHÀ của bố các ông, thì dĩ nhiên tòa án không thể cho các ông vào nhà được.

    – Ý ông muốn nói đến Công Hàm Phạm văn Đồng năm 1958?

    – Đúng. Các ông biết Công Hàm này đã lâu nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy các ông cố NÉ TRÁNH nó. Trong khi ngược lại gần đây Trung Quốc lại trưng công hàm này ra trước quốc tế. Xem ra họ có nắm đàng cán về vụ này!

    Đại diện CSVN cười sặc sụa:
    – Công hàm đó KHÔNG CÓ HIỆU LỰC ông ơi. Phạm văn Đồng dù có nói thẳng là “giao Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Quốc” thì cũng không có hiệu lực. Đó chỉ là ĐÒN NGOẠI GIAO … KHÔN NGOAN của chúng tôi để nhận viện trợ từ Trung Quốc mà đánh Mỹ. Năm 1958 chúng tôi không có chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa.

    Chờ cho người đại diện CSVN cười xong, uống một ngụm nước, thì đại diện Mỹ mới từ tốn lên tiếng:
    – Đối với luật pháp Tây Phương chúng tôi thì chúng tôi phân biệt rất rõ sự tách biệt giữa “khế ươc buôn bán” và “chủ quyền”.

    – Ý ông nói là các ông có thể bán những gì các không có cơ à. Thật là HOANG ĐƯỜNG và TRẺ CON.

    – Chuyện có thật ông à. Khế ước buôn bán là giao kết giữa hai hay nhiều bên về chuyển nhượng một cái gì đó nó có thể trong hiện tại hay trong tương lai để đổi lấy giá trị tiền bạc hay vật chất có thể giao hôm nay hay giao vào một thời điểm trong tương lai. Như vậy vào năm 1958 các ông hứa bán một cái gì đó các ông không có ngay lúc đó, và lời hứa sẽ giao hàng ngay khi các ông có. Vấn đề là phía Trung Quốc tin như vậy và ủng hộ các ông biến điều đó thành hiện thực. Đổi lại họ cung cấp viện trợ cho các ông gần cả tỉ đô la về vật chất và con người để tiến hành chiến tranh chống chúng tôi.

    Năm 1958 các ông không có CHỦ QUYỀN nhưng các ông đã làm KHẾ ƯƠC, thì khi các ông có chủ quyền các ông phải thực hiện khế ước buôn bán đó.

    – Thế các ông có trường hợp buôn bán kiểu đó trong thực tế không?

    – Có chứ ông. Trong sở hữu chứng khoán, thị trường thế giới có cái gọi là “future options”. Ông không dám mua chứng khoán đó vì ông sợ thua lổ, ông có thể trả tiền với LỜI HỨA sẽ mua và công ty đó phải giao “chủ quyền” chứng khoán đó cho ông trước thời điểm nào đó, dù nó lên hay xuống thấp hơn giá trị ông trả. Rồi ông cần tiền ông vẫn có thể bán LỜI HỨA đó cho người khác và cứ thế cho đến khi thời điểm hứa đó đến thì người cuối cùng phải … THỰC HIỆN. Cái đó là buôn bán thứ ông không có chủ quyền …

    Đại diện CSVN nghiêm mặt lại biện hộ:
    – Nhưng ông không đọc thấy trong ngôn từ Thủ Tướng Phạm văn Đồng rất KHÔN NGOAN không hề đề cập để chuyện “giao chủ quyền” như cái ví dụ mà ông nêu. Ông ta chỉ nói …

    “có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển”

    Đại diện Mỹ cười rồi nói:
    – Các ông đã có lịch sử CÔNG NHẬN công hàm này. Đó là vào năm 1974 khi Trung Quốc tấn công Hoàng Sa thuộc chủ quyền VNCH. Các ông đã “tôn trọng hải phận của Trung Quốc trong mọi quan hệ trên mặt biển” nên các ông hoàn toàn để mặc cho Trung Quốc hành động chiếm chủ quyền … TƯƠNG LAI của các ông. Thế thì sao các ông có thể biện minh trước tòa rằng một văn bản không hiệu lực lại được tôn trọng?

    – Chúng tôi cũng như các ông thôi. Hạm đội 7 các ông nằm đó đâu có động tĩnh gì!

    – Hoa Kỳ bị ràng buộc bỡi Thông cáo chung Thượng Hải với Trung Quốc và Hiệp định Paris, phải rút quân và trả lại quyền tự quyết cho VNCH.

    Đại diện Mỹ ngừng một lát rồi nói tiếp:
    – Tôi xem công hàm Phạm văn Đồng nhiều lần và phải công nhận vào thời điểm năm 1958, ông Đồng hay ai đó soạn cho ông Đồng ký công hàm này là “khôn liền” ngay lúc đó mà không có … “khôn lâu”.

    – Ý ông là?

    – Ngôn từ trong công hàm này vào năm 1958 rất là KHÔN NGOAN. Vì các ông BÁN VỊT TRỜI mà thu được gần cả tỉ đô la viện trợ của Trung Quốc cho một món hàng tương lai không biết có chiếm được hay không. Ví như một người muốn đi cướp nhà người khác không có súng, không có tiền, đi hứa với thằng cướp khác “khi nào tao cướp được nhà đó thì tao tôn trọng quyền của mày được trồng rau ở sân sau”. Khi cướp được thì phải thực hiện lời hứa đó.

    Đại diện CSVN mỉa mai:
    – Nếu “khôn lâu” như ông trong trường hợp đã lỡ ký LỜI HỨA đó thì ông phải làm sao?

    – Nếu tôi là các ông mà tôi bắt buộc phải viết công hàm đó để có viện trợ thì tôi vẫn viết như thế …

    – Huề tiền!

    – Tôi vẫn nhận gần cả tỉ đô la để đánh Hoa Kỳ và kéo nó đến bàn Hội Nghị Paris năm 1973 để nó phải rút quân …

    Đại diện CSVN phá liên cười:
    – Ông khôi hài quá, thế mà lại “dạy ngoại luộc trứng”

    Đại diện Mỹ vẫn từ tốn nói tiếp:
    – CSVN ký công hàm Phạm văn Đồng là khôn liền ngay năm 1958 nhưng ai đó quyết định xé hiệp định Paris chiếm Miền Nam năm 1975 là ĐẠI NGU để Trung Quốc nó …. (xin lỗi tôi hay có tật nói láy)
    Chiếm Miền Nam là biến công hàm đó thành hiện thực và đối diện gần 1 tỉ đô la nợ Trung Quốc, là từ bỏ 4 đến 6 tỉ đô la bồi thường chiến tranh của Hoa Kỳ … Việt Nam bỏ cơ hội thành một nước Đức và nước Nhật sau thế chiến thứ hai.

    Đại diện CSVN hết kiên nhẫn ngắt lời:
    – Ông có khiếu kể chuyện cổ tích. Xin phép trở lại trọng tâm. Thế thì có giải pháp nào cho chúng tôi trong bế tắc này không?

    Đại diện Mỹ nhìn quanh rồi pha trò:
    – Có tình báo Hoa Nam Cục ở đây không?

    Rồi ông nói tiếp:
    – Theo tôi thì các ông phải tuân thủ công hàm Phạm văn Đồng vì 1974 các ông đã tuân thủ thì hôm nay phải tuân thủ để yên cho Trung Quốc đặt giàn khoan.

    – Không còn cách nào hết sao?

    – Chỉ còn cách mà tôi đã nói với các ông hôm đầu tiên.

    – Cách gì ông nhắc lại đi.

    – Một cách vô cùng giản dị, không cần viện trợ của Hoa Kỳ, chẳng cần ủng hộ của thế giới, mà lại đoàn kết, hòa hợp hòa giải với mọi thành phần người Việt trong và ngoài nước và quan trọng là vô hiệu hóa công hàm Phạm văn Đồng.

    – Làm cách nào?

    – Ngay ngày mai …
    Đổi lại tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa.
    Lấy lại tên Sài Gòn và dời thủ đô về đó
    Lấy CỜ VÀNG làm quốc kỳ

    Có như thế thì trước diễn đàn thế giới. VNCH chỉ VẮNG MẶT … 39 năm chứ KHÔNG CHẾT. Công hàm Phạm văn Đồng chỉ là tờ “giấy lộn” vì tên cướp có vô nhà nhưng chủ nhà về lại và đã đuổi cổ nó ra … Trời Việt lại … HỪNG ĐÔNG.

    Đại diện CSVN vuốt mồ hôi lạnh trên trán:
    – Chỉ đơn giản thế thôi sao?

    Vịt Bắc Kinh trên bàn đã NGUỘI LẠNH, lớp mỡ trắng đã bắt đầu đóng viền quanh dĩa vì không ai còn đoái hoài đến nó.

    Đại diện Mỹ vỗ vai đại diện CSVN nói một câu tiếng Anh:
    – All road lead to Rome (Đường nào cũng về La Mã)
    Hãy trả cho Ceazar những gì của Ceazar.
    Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH … cầm bài chi lâu cho nó … ƯỚT.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: