Huy Phương và Võ Hương An – Chân Dung H.O. và Những Cuộc Đổi Đời

chan dung HOChân Dung H.O. và Những Cuộc Ðổi Ðời, tác giả Huy Phương và Võ Hương An,
Nam Việt xuất bản, 2014 tại Hoa Kỳ

Thay Lời Tựa

Bây giờ mà nói chuyện H.O. là nói chuyện đã cũ, tuy nhiên trên những trang quảng cáo hôm nay người ta vẫn còn thấy những dòng chữ “giảm giá cho H.O.” thì câu chuyện H.O. vẫn còn là câu chuyện dài dài, ôn lại dăm ba chuyện cũ để hiểu thêm “sự đời” cũng không phải là chuyện vô bổ. 

Tuy phía Mỹ đã ấn định tiêu chuẩn của cựu tù nhân “”cải tạo”được ra đi phải chịu cảnh tù đày tối thiểu là ba năm, nhưng về sau mua một cái giấy chứng nhận thời gian ở tù chỉ tốn vài ba chỉ vàng, nên cũng có những “H.O. non” và “H.O. quốc doanh” lọt vào. Nước Mỹ tuy vậy, không đủ khả năng gạn lọc hay truy tìm cho ra lẽ, bằng chứng là có những cựu tù nhân chính trị “hợp tác với địch đánh chết bạn tù” vẫn lên máy bay vào Mỹ ung dung. Người Mỹ cũng rộng lượng, người ta kể chuyện một “con lai giả” hay “lai Tây” cũng lọt sổ, vì viên chức phỏng vấn người Mỹ đã hóm hỉnh rằng: “Ồ! Chúng ta là người Mỹ cả mà.” Bỏ chế độ Cộng Sản ra đi được người nào hay người đó.

Đi vào văn chương thì đã có “Ông H.O.” của Hà Thúc Sinh nói về sinh hoạt của người tù chính trị trên đất Mỹ, “Hành trình của một H.O.”của Đặng Trần Huân kể lại “đoạn đường chiến binh” qua các “bãi mìn và dưới hỏa lực” của các loại giấy tờ, tổ chức dịch vụ của nhà nước Cộng Sản. Vậy “ông H.O” là ai? Phải chăng là cái ông áo quần tàng tàng, mặt mũi hom hem, buồn bã, thân thể gầy yếu, đi thì lúc nào mặt cũng cúi gầm xuống, hay đứng đợi chuyến xe bus trên tuyến đường Bolsa hay lượm báo Việt trong các khu chợ Việt Nam.

Ngày nay cái hình ảnh H.O. đó đã tan biến, hòa hợp vào trong nhịp sống thường ngày của cộng đồng Việt Nam, có còn chăng là năm ba ông H.O. nay đã đến giai đoạn dưỡng già, ngồi uống cà phê nói chuyên chiến tranh Iraq hay nhẩn nha đứng mua cái vé loto luôn luôn với dòng chữ “cash value” vì chuyến tàu sắp đến ga, làm gì để có thời giờ chia món tiền trúng này ra trong một đoạn đường dài 28 năm. Nhưng với những năm đầu của thập niên 90, H.O. là một phong trào, một hiện tượng, một biến cố, một đợt sóng lớn của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Trước đây là chuyện di tản vào tháng 4, 1975, và sau đó là chương trình ODP, những làn sóng người Việt ngày đó dễ hòa tan nhanh chóng trong số đông, nhưng H.O. là một đợt di dân vĩ đại. Phố xá, chợ búa đông đúc hẳn lên, xe bus nhiều người đi hơn, các cơ sở xã hội làm việc không hết, phòng mạch bác sĩ, nha sĩ có hàng loạt người khách ngồi chờ, kinh tế Bolsa có chiều hướng đi lên thấy rõ.

Nhiều người sốt ruột vì lâu nay đi làm ăn vất vả, bỗng dưng có một số đợt người đến gặp lúc xã hội Mỹ dang tay rộng mở, giúp đỡ tới một năm trời trợ cấp, nhất là trợ cấp y tế, điều mà nhiều người đi làm khác cũng đang gặp khó khăn. Không phải ai cũng có liên hệ với chính quyền hay quân đội cũ và có người trong gia đình đã bị tù đày nên không khỏi có cái nhìn thiếu thiện cảm, thiếu rộng lượng với lớp người chưa hội nhập đời sống Mỹ kịp thời. Trong khi nhiều nhà báo nhắc tới và ca tụng H.O. là những người chịu thiệt thòi đáng được cộng đồng tri ân, thì nhiều người lại cho rằng: “H.O. là gì? Chạy không kịp mới trở thành H.O.” Một bạn H.O. than với tôi: “Mình tàng tàng thì người ta nói “đúng là H.O.,” mình mặc được cái áo đắt tiền, đi cái xe đẹp một tí, thì người ta mỉa mai: “H.O. mà cũng sang nhỉ?”

Gia đình nào có thân nhân bảo lãnh thì đỡ hơn, số còn lại do các nhà thờ hay các hội đoàn bảo trợ, lãnh giúp tiền trợ cấp nhưng chỉ thuê giúp một cái apartment tàng tàng, cho một bộ nệm cũ hay bộ bàn ghế chợ trời.

“Ơn ai một chút chẳng quên,” mình qua đây như vậy là tốt phước rồi. Chúng ta đã được nghe bao nhiêu chuyện than phiền về cách phục vụ thiếu thiện chí hay bắt bẻ, “ma cũ bắt nạt ma mới” của các cán sự xã hội mà gia đình H.O. nào cũng đã phải nhiều lần bước đến bàn giấy của họ. Các ông bà này bắt bẻ tận cùng, còn khó hơn cả cán sự xã hội Mỹ hay Mễ. Tiện đây, cũng phải nhắc đến thiện chí của nhiều chủ nhân, nhiều khi muốn giúp đỡ đồng hương bằng cách bắt đầu thuê một số anh em H.O. làm việc trong các nhà hàng, cắt cỏ hoặc xây dựng nhà cửa, nhưng dần dà phải bỏ cuộc vì số anh em mới sang, sức lực đã bao năm hao mòn trong các nhà tù Cộng Sản, không năng động và dễ bảo như nhân công người Mễ, lại tính người Việt hay để ý đến công việc và thu nhập của nhà chủ nên dần dần bị đào thải. Nhiều ông chủ than phiền: “Anh em mình thích nghỉ trưa, hút thuốc nhẩn nha cả tiếng đồng hồ, lại hay thắc mắc về thu nhập của chủ, đem so bì với số lương của mình.” Bây giờ qua một thời gian gạn lọc, chỉ có một số anh em còn lại, chịu khó đứng làm việc trong chợ, giúp việc nhà hàng ăn, hay làm việc trong ngành xây cất, đã có đời sống ổn định.

Khoảng thời gian 1990-1998 là lúc các gia đình H.O. đến định cư ở Mỹ nhiều nhất, cung cấp nhân lực cho các dịch vụ chăm sóc người già, nuôi người bệnh, giữ trẻ tại các tư gia. Các gia đình H.O. hiện nay đã ổn định khi con cái của họ đã lớn khôn, cho ta thấy hiện nay kiếm người phụ việc nhà như ngày trước rất khó khăn. Một vấn đề xã hội khác, là vào những năm trước 1990, số thanh niên vượt biên nhiều hơn phái nữ, nên có tình trạng trai thừa gái thiếu trong cộng đồng Việt Nam. Những đợt gia đình H.O. đến Mỹ đã tạo được những cuộc hôn nhân tốt đẹp và điều hòa được vấn đề khó nghĩ này của xã hội di dân. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Trời sinh voi, sinh cỏ,” nên trong giai đoạn anh em H.O. mới định cư tại Mỹ, nghề “nails” bắt đầu phát triển và thịnh hành đã đưa đến công ăn việc làm không ít cho nhiều gia đình di dân mới mẻ này, và với các đức tính “chịu khó, khéo tay, cần cù,” nhiều người đã có một đời sống khá sung túc.

Các gia đình H.O. đã cung cấp nhân công cho các shop may, người trẻ thì chạy máy, người già thì cắt chỉ, nhặm lẹ thì xếp hàng, đóng gói, mà cho đến giờ này vẫn còn đứng vững với thời gian. Đúng là “Trời sinh voi, sinh cỏ,” “ở xứ Mỹ này có nghèo chứ không có đói.” Các gia đình có chồng, cha đi “”cải tạo”,” đã biết cái khổ của bữa rau, bữa cháo, nên sang đây, phần lớn các gia đình này đều “chịu thương, chịu khó,” chẳng mấy chốc mà đã có một cuộc sống ổn định.

Tính từ người cựu tù nhân chính trị bước chân đến Mỹ vào năm 1990, đến nay đã được 25 năm. Hai mươi lăm năm, là thời gian dư để cho một em bé sinh ra trên đất Mỹ tốt nghiệp đại học. Riêng thành phần cựu tù nhân chính trị sang đây, mặc dù tuổi đã cao, tinh thần đã mệt mỏi, vẫn có người tốt nghiệp đại học với các học vị như Ph.D, Master, Bác Sĩ, Nha Sĩ… như một nha sĩ đã hãnh diện quảng cáo cho phòng mạch của mình là “Nha Sĩ H.O.11” (đúng ra là H.11). Còn về sự thành đạt của con các “Ông H.O.” thì chúng ta phải có một cuốn sách dày loại “Vẻ Vang Dân Tộc” mới ghi hết. Có những gia đình H.O.ra đi chậm, mãi đến những năm 1994-95 mới đặt chân tới Mỹ, vậy mà có đến ba bốn người con đều đã tốt nghiệp nha sĩ, y sĩ hay dược sĩ, tiến sĩ. Lẽ cố nhiên, khoa bảng chưa đủ để nói tới điều gì ích quốc, lợi dân, nhưng ít ra những gia đình này cũng theo kịp những người đi trước để khỏi mang mặc cảm thua thiệt.

Mong rằng các em đã là những người thân có cha, anh là nạn nhân của chế độ Cộng Sản, là những người đã có thời gian sống dưới chế độ này, đã biết nỗi khổ đau riêng của dân tộc mình, và chung của con người, sẽ có một lối sống và suy nghĩ cho xứng đáng với những sự hy sinh của cha anh và nỗi nhọc nhằn của cả dân tộc.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cộng Sản Bắc Việt, tức nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, núp dưới ngụy danh Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, đã cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa và cai trị đến nay vừa đúng 40 năm (1975-2015). Trong 40 năm độc tài toàn trị, Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã lập nên nhiều “thành tích” đáng xấu hổ trong lịch sử dân tộc cũng như trước mắt quốc tế, trong đó có hai “thành tích” lớn tới mức đánh động lương tâm dân tộc các nước dân chủ văn minh, khiến họ phải ra tay can thiệp. Đó là việc bỏ tù hàng trăm ngàn người thua cuộc trong các nhà tù khổ sai, ngụy danh là trại “cải tạo”, mà không xét xử; và tạo nên một xã hội áp bức trong đói kém, bần cùng, khiến cả triệu người phải bỏ nước ra đi để tìm tự do, bất kể hiểm nguy đến tính mạng.

Chưa có một nước nào trên thế giới mà sau một biến động quân sự và chính trị lại đưa tới những làn sóng di cư tị nạn ào ạt lên đến hàng triệu người như Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, khiến thế giới phải đẻ ra những từ ngữ mới để nói lên thực trạng bi thảm đó. Họ gọi những người liều chết ra biển lớn tìm tự do trên những con thuyền mỏng manh bất chấp sóng gió, hải tặc, là những boat people (thuyền nhân) và thời đại này của Việt Nam là the age of uprooting[1] (thời đại trốc gốc). Họ học được những từ ngữ mới, như trại tù khổ sai thì CS gọi là trại học tập “cải tạo”, re-education camps, và tù nhân được gọi là học viên! Thật là mỉa mai chữ nghĩa!

Lịch sử tị nạn Việt Nam hoặc lịch sử cộng đồng người Việt hải ngoại vào hậu bán thế kỷ XX là một đề tài lớn, đòi hỏi sự nghiên cứu lâu dài và rộng rãi; ở đây, với tập sách này, chúng tôi chỉ cung cấp một cái nhìn tương đối đơn giản về một phần trong toàn cảnh cộng đồng tị nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ. Đó là cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị (ex-political prisoners) hay cựu tù “cải tạo” (ex-reeducation camp detainees) và gia đình, thường được gọi một cách dung dị là “đi H.O” (đọc: hát-ô) mà trong đó, chúng tôi, những người chấp bút viết tập sách này là những H.O., là những nạn nhân, là những nhân chứng, là người trong cuộc.

Bằng những kinh nghiệm cay đắng của bản thân và gia đình cộng thêm với kinh nghiệm của bạn bè đồng cảnh ngộ, chúng tôi muốn vẽ lại một bức tranh sống động và trung thực với nhiều vũng tối để các thế hệ mai sau hiểu thêm về một thời điên khùng của lịch sử dân tộc do việc du nhập một chủ thuyết ngoại lai và không tưởng, là chủ nghĩa Cộng Sản. Chúng tôi cũng mong muốn rằng tập sách nhỏ này là câu trả lời cho con cháu chúng ta về câu hỏi: “Tại sao và từ bao giờ chúng ta có mặt trên nước Mỹ?” Tại Hoa Kỳ, sau tháng 4 năm 1975, mới chỉ có khoảng 125,000 – 130,000 người Việt, là số tị nạn đầu tiên do Hoa Kỳ giúp di tản hoặc tự tìm đường thoát thân khi Sài Gòn hấp hối; đến năm 1980, con số này lên 231,000 người; và đến năm 2012, cộng đồng Việt Nam tại Mỹ lên đến gần 1.3 triệu, trở thành di dân châu Á đông vào hàng thứ 4 của nước Mỹ, chỉ sau Ấn Độ, Philippines và Trung Quốc. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ chiếm hơn một nửa tổng số người Việt có mặt trên thế giới và 72% trong số này đã mang quốc tịch Hoa Kỳ. [2]

Thành phần tạo nên cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ gồm có:
– Thuyền nhân (vượt biên, vượt biển);
– Đoàn tụ gia đình;
– Con lai;
– Cựu nhân viên chính phủ Mỹ, cựu nhân viên sở Mỹ;
– Cựu tù nhân chính trị (cựu tù “cải tạo”), thường được gọi là thành phần H.O.

Có thể nói rằng nước Mỹ là xứ sở của di dân và tị nạn. Đầu thập thập niên 1990, sự nhập cư của lớp cựu tù chính trị và gia đình đã đẩy số người Việt di dân lên cao rõ rệt, và sau vài năm bỡ ngỡ, lúng túng ban đầu trong việc điều chỉnh cuộc sống mới trên đất mới, những gia đình H.O. dần dần đi vào ổn định nơi ăn chốn ở, học hành và công ăn việc làm. Lần hồi, bước vào thế kỷ 21, di dân tị nạn HO bắt đầu vươn vai đứng dậy, có những đóng góp cho quê hương mới cả về vật chất cũng như trí tuệ, khi lớp con cái H.O. được trang bị kiến thức đầy đủ ngang tầm cỡ bản xứ, đã hội nhập một cách tự tin và bình đẳng.

Mỗi một tù “cải tạo” là một số phận. Đến khi được trở thành một H.O và cùng gia đình đi tái định cư tại Hoa Kỳ cũng là mỗi H.O. một số phận. Độc giả khi đọc Phần II của tập sách này sẽ nhận ra sự thực sống động này trong mênh mang phận người. Có thể nói cuộc đời của mỗi H.O. mang dấu ấn hai lần “”cải tạo”với ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau.

Lần đầu, CSVN “cải tạo” trong ý đồ tiêu diệt bằng cách đầy đọa tù nhân cho chết dần chết mòn trong tù để khỏi mang tiếng tàn bạo, dã man, đối với thế giới. Nếu người tù may mắn sống sót trở về với gia đình thì ý chí tự do, quật cường cũng đã bị thui chột để chỉ còn là một kiếp sống thừa. Thêm vào đó, chính sách “cải tạo” cũng gián tiếp bần cùng hóa gia đình tù “cải tạo” bằng sự phân biệt đối xử ngoài xã hội.

Lần “”cải tạo”thứ hai, do Hoa Kỳ chủ trương, nhằm giúp tái tạo người cựu tù chính trị và gia đình, giúp tái lập một cuộc đời mới, đầy đủ nhân cách và phẩm giá, với mọi điều kiện thuận lợi trong xã hội mới để khả dĩ vươn lên.

Bởi vậy, tuy mới chỉ là những nét chấm phá (vì chưa có khảo sát, thống kê) chúng tôi cũng cố gắng tái hiện từ đầu để góp phần cho mai sau có cơ hội tìm hiểu tường tận hơn khi ai đó có ý hướng đi tìm cội rễ. Mặc dầu bằng vào kinh nghiệm bản thân, chúng tôi cũng có thể tự mình vẽ lại bức tranh “”cải tạo” – H.O.” của quá khứ nhưng làm thế thì không khỏi mang tính phiến diện, do đó, khi có cơ hội, chúng tôi không quên trích dẫn kinh nghiệm của các bạn đồng tù ớ các nơi khác, xuyên qua các hồi ký, để làm sống động, phong phú và cụ thể hơn, những điều được nói đến.

Nhân đây, chúng tôi xin lỗi tất cả quí vị có tác phẩm trích dẫn trong sách này mà vì thiếu điều kiện liên lạc nên đã không xin phép trước.

Xin quí vị nhận ở đây lời cảm ơn chân thành của chúng tôi về sự rộng lượng này và sự hiện diện của quí vị trong Chân Dung H.O. là một vinh dự cho người chấp bút khi có thêm bạn đồng hành và đồng cảm để làm mạnh thêm những luận cứ nêu ra.

Ở đây chúng tôi cũng cần nói thêm một điều: hai chữ H.O. đúng ra phải viết liền, HO, như nó đã xuất hiện trong thẻ IOM (xin xem bài Tiến Trình Tù Chính Trị Định Cư Tại Hoa Kỳ trong Phần I của sách này) nhưng viết như thế, người không biết chuyện H.O. sẽ đọc là “ho” nên chúng tôi buộc lòng phải thêm dấu chấm, như một lưu ý đặc biệt.

Ở đời, không bao giờ có người hoàn hảo và việc làm hoàn hảo. Với Chân Dung H.O. này cũng thế. Chúng tôi biết điều đó và mong được thông cảm.

California, tháng 3 năm 2015
HUY PHƯƠNG & VÕ HƯƠNG-AN

[1]  Hataipreuk Rkasnuam and Jeanne Batalova, Vietnamese Immigrants in the United States, http://www.migrationpolicy.org/article/vietnamese-immigrants-united-states
[2] http://www.vietnam.ttu.edu/resources/vietnamese-american.php

  • tác giả Võ Hương An (trái) và Huy Phương (phải) – Ảnh do nhà văn Huy Phương cung cấp
Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:, , ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: