Lôi Am: Ôn Trí Thủ – ‘Thân này đã hứa cùng non nước, vinh nhục khen chê chỉ mỉm cười…

Trên bao mùa sử lịch sóng dậy, khi tiếng nói bị nghiền nát bởi bạp quyền và sự thật lắm phen phải trú ngụ trong thinh lặng, đức Nhẫn Nhục Ba-la-mật hiển bày không còn như một khái niệm kinh viện mà như nội lực âm thầm của những bậc Sa Môn gánh lấy khổ đau cho người khác được tồn tại. Trong hàng tôn túc Phật giáo Việt Nam cận đại, hành trạng của cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ[1] (1909-1984) như một bóng núi trầm mặc mà càng đi xa thời cuộc, chúng ta càng thấy cao ngất; càng lắng sâu năm tháng, càng nghe dư vang của một đời phụng hiến. Thầy không chọn ánh sáng của huyền thoại nhưng  chấp nhận đi vào vùng u minh của thời cuộc để giữ lấy ngọn đèn Pháp bảo cho mai hậu.

Người đời thường dễ nhớ những ai chiến thắng giữa đấu trường. Lịch sử tâm linh chỉ khắc đậm những ai lặng lẽ đứng giữa phong ba mà không để đoàn người phía sau bị cuốn trôi. Nếu chỉ nhìn vào tiểu sử, chúng ta thấy một vị cao tăng, một nhà giáo dục Phật giáo, một nhân vật lãnh đạo từng góp phần quan trọng trong công cuộc chấn hưng đạo pháp và kiến tạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Nhưng nếu đi sâu vào những năm tháng sau 1975, chúng ta mới thấy hết tầm vóc của một bậc trưởng lão đã dùng chính thân mình làm chiếc cầu mong manh bắc qua vực thẳm của thời đại.

Sinh năm 1909, xuất gia từ thuở thiếu thời, trưởng thành trong thiền môn nghiêm cẩn mà không xa lìa nỗi đau dân tộc, cố Hòa thượng đã mang nơi mình hai phẩm chất tưởng như khó gặp cùng lúc đó chính là tâm hồn thanh tịnh của người tu và bản lĩnh dấn thân của người gánh việc lớn. Trong nhiều thập niên, Hòa thượng là người vun bồi tăng tài, xây dựng giáo dục Phật giáo, góp phần nối kết các hệ phái trong tinh thần hòa hợp để hình thành một định chế mang tầm vóc lịch sử là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Công trình ấy không phải chỉ là một cơ cấu hành chính, mà là khát vọng gìn giữ Phật giáo Việt Nam trong tinh thần độc lập, dân tộc và nhập thế.

Thế rồi lịch sử đổi chiều. Sau 1975, toàn bộ đời sống tôn giáo bước vào một thời kỳ mà mỗi hành động đều có thể bị diễn giải, mỗi lời nói đều có thể trở thành tai họa. Chùa viện bị kiểm soát, hàng ngũ tôn túc bị giám sát, nhiều tăng sĩ trẻ đứng trước hiểm nguy và các tổ chức tôn giáo truyền thống đối diện nguy cơ bị giải tỏa. Trong hoàn cảnh ấy, người đứng đầu không còn quyền chọn giữa tốt và xấu; nhiều khi chỉ còn quyền chọn giữa đổ vỡ lớn hay tổn thất ít hơn. Chính tại đây, phẩm chất sâu nhất của Thầy mới hiển lộ.

“Tôi sẽ chịu nhục cho mấy thầy làm việc”[2].  – Thích Trí Thủ

Nhẫn nhục nơi Hòa thượng không phải là sự cúi đầu của sợ hãi. Đó là sức chịu đựng có trí tuệ. Là khả năng im lặng đúng lúc để tránh thêm cảnh ám hại và bắt bớ tù đầy[3]. Là chấp nhận bị hiểu lầm để hàng hậu học còn có cơ hội sống còn và tiếp tục trưởng thành. Là biết lui một bước nơi hình thức để giữ lại phần cốt lõi của truyền thừa. Người thiếu trải nghiệm thường đòi hỏi anh hùng phải luôn hùng hồn. Nhưng ở nhiều giai đoạn đen tối, chỉ một lời hùng hồn sai thời điểm cũng đủ đẩy thêm bao người vào ngục thất, đủ làm tắt thêm bao ngọn đèn còn sót lại.

Năm 1981, biến cố thường được gọi là “thống nhất Phật giáo”[4] mở ra một chương mới đầy phức tạp. Đối với ngôn ngữ chính thức đó là tiến trình thống nhất. Nhưng đối với nhiều người từng gắn bó với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, chữ “thống nhất” mang nội hàm khác hẳn một khẩu hiệu. Bởi trước đó, chính Giáo Hội này đã là thành quả hợp nhất rộng lớn của nhiều hệ phái trong tinh thần tự nguyện từ thập niên 1960. Vấn đề khi ấy không những là hợp nhất hay phân ly, mà là quyền tự trị của tôn giáo, là phẩm giá của truyền thống, là việc ai được quyền định nghĩa tương lai Phật giáo Việt Nam.

Giữa khúc quanh ấy, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ trở thành nhân vật của một bi kịch lịch sử. Người đứng bên ngoài và nhìn từ xa dễ phán xét bằng hai màu trắng đen, hoặc tôn xưng tuyệt đối, hoặc kết án tuyệt đối. Nhưng người hiểu bối cảnh sẽ biết chung quanh Thầy là sinh mạng của hàng ngàn Tăng Ni, chùa viện, đệ tử, Phật tử đang vô cùng mong manh trước sức ép của quyền lực. Mỗi quyết định của Hòa thượng không còn là quyết định riêng của một cá nhân, mà là quyết định mang theo số phận của biết bao người khác.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Lễ Huý Nhật lần thứ 42 (1909-1984) của
Đại Lão HT. Thích Trí Thủ được tổ chức vào ngày 02/03/ năm Bính Ngọ( 2026)
tại Quảng Hương Già Lam Q. Gò Vấp-Sài Gòn
15g Chiều ngày 29/2/ Bính Ngọ
Đại diện Hội Đồng Giáo Phẩm TW. VTT.GHPGVNTN
đến làm lễ Tưởng Niệm bậc tiền bối danh tăng của GHPGVNTN
Ảnh – Uyen Loc

Trong những hồi tưởng của cố Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) về giai đoạn này, người đọc hẳn sẽ cảm được nhiều hơn nỗi đau lịch sử của Dân Tộc mà ở đó Phật giáo Việt Nam cũng âm thầm chung chịu gánh vác để không còn như người ngoại cuộc buông lời kết án. Thầy không nhìn quá khứ bằng tâm thế của người đứng xa hời hợt dễ dàng kết luận. Thầy nhìn bằng con mắt của người trong cuộc để nhận thức rằng có những thời khắc người lãnh đạo không còn quyền chọn điều lý tưởng, chỉ còn quyền chọn điều ít đổ vỡ nhất. Sự kín đáo trong văn phong của Thầy lại càng làm nổi bật chiều sâu của nhận thức ấy.

“Hồi đó Mai Chí Thọ làm chủ tịch UBND TP. HCM – họ căng thẳng với các thầy bên Viện Hoá đạo quá. Ông Mai Chí Thọ nói thế này: ‘các thầy chỉ có hai con đường: một là theo hai là chống. Các thầy theo, chúng tôi dành nhiều thứ yểm trợ các thầy; còn các thầy chống, chúng tôi có đủ xe tăng thiết giáp, các thầy muốn chống thì chống đi!’ Cả hai cái đối với mình đều sai cả. Đó là thái độ hăm dọa, mà Hòa thượng cũng nói rõ: ‘theo chúng tôi không theo, mà chống chúng tôi cũng không chống’. Nhưng họ nói không có con đường thứ ba.”[5] Thích Tuệ Sỹ (1045-2023)

Đặc biệt qua hồi ức tưởng niệm, Một thời truyền luật[6], khi cố Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ kể lại những năm tháng giáo giới, truyền thừa và gìn giữ giới pháp, chúng ta thấy thấp thoáng cả một thời đại mà việc duy trì giới đàn đã trở thành hành động bảo tồn văn hóa tâm linh. Khi định chế bị xáo trộn, khi danh xưng có thể bị đổi thay, thì những bậc thầy lớn hiểu rằng điều cuối cùng phải giữ cho được là con người và mạng mạch truyền thừa. Chính nơi đó, hình bóng Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ hiển hiện như người biết chuyển trọng tâm từ giữ danh hiệu sang dưỡng bộc hạt giống.

Không riêng Hòa thượng, nhiều bậc tiền nhân trong giai đoạn ấy đã chấp nhận để tên tuổi mình bị tranh cãi, miễn sao đàn hậu học còn cơ hội trưởng thành. Đây là hình thái hy sinh ít được ca tụng nhất vì nó không rực rỡ. Nó đi qua đời người bằng những lời dị nghị, những ngộ nhận và cả những im lặng kéo dài. Nhưng chính nhờ những con người chịu ở lại trong vùng xám của lịch sử, mà giới đàn còn tiếp nối, kinh sách còn được truyền trao, cửa chùa còn giữ được khói hương và những tiếng nói từ bi đầy trí tuệ của bao bậc cao đồ Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Nguyên Chứng Thích Tuệ Sỹ v.v… mới có ngày tiếp tục cất lên.

Bấy giờ, nhận thức rằng Ôn vẫn luôn là bậc Cao Tăng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không phải để dựng thêm một bờ tường phe phái, mà để trả lại công bằng cho lịch sử. Một con người không thể bị tách khỏi cả đời dâng hiến của mình chỉ vì hoàn cảnh cuối đời bị đặt vào những cấu trúc ngoài ý muốn. Một vị trưởng lão có thể bị buộc hiện diện trong một hội nghị nhưng không ai có thể xóa đi hàng thập niên Thầy góp phần dựng xây lý tưởng và cơ đồ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Bấy giờ, hậu thế nếu tưởng niệm Hoà thượng một cách xứng đáng, xin đừng chỉ hỏi Thầy đã nói gì trước quyền lực. Hãy hỏi Thầy đã cứu được bao nhiêu người khỏi cơn bão lửa thời cuộc. Xin đừng chỉ hỏi Thầy đã đối kháng hay thỏa hiệp, mà hãy hỏi nhờ sự nhẫn nhục của Thầy, mà những gì còn lại vốn đã tan tác của Phật Giáo Việt Nam dưới bàn tay bạo quyền đã được gìn giữ đến hôm nay. Xin cũng đừng lẫn lộn nhẫn nhục với thỏa hiệp; bởi đôi khi, nhẫn nhục chính là hình thức cao nhất của dũng lực khi người chúng ta dám nhận lấy phần oan khuất để, người khác được sinh tồn.

Tro khói thời cuộc rồi sẽ tan. Những lời khen chê một thuở rồi cũng sẽ rơi xuống như bụi mỏng cuối ngày. Điều còn ở lại không phải là tiếng ồn của tranh biện mà là dấu chân lặng lẽ của một vị Sa Môn đã đi qua thời loạn ly thất tán bằng đôi vai gánh nặng, bằng trái tim chịu đựng, bằng trí tuệ biết nhường phần sáng cho kẻ khác mà nhận phần tối về mình. Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, trong ý nghĩa này, không những là nhân vật của một giai đoạn mà là lời nhắc nhở cho muôn đời rằng, khi cơ đồ nghiêng ngửa, người giữ đạo chưa hẳn là người lên tiếng mạnh mẽ nhất, mà thường là người âm thầm giữ cho ngọn đèn khỏi tắt trong trận gió dữ.

Sáu bảy xuân thu giữa cuộc đời
Buồn vui mừng giận khéo trêu người
Thân này đã hứa cùng non nước
Vinh nhục khen chê chỉ mỉm cười.
Thích Trí Thủ

Năng nhẫn tự an, hậu đức tải đạo – Người biết nhẫn thì tự an, đức dày mới chở nổi đạo lớn. Sẽ đến lúc hậu thế đủ tĩnh tâm nhìn lại, mới hiểu có những đời người mang tiếng để thiên hạ còn danh, nhận khổ để hậu lai còn đường, chịu oan để mạng mạch còn nối tiếp. Công đức ấy không cần bia đá, bởi đã khắc vào lòng người biết nhớ, còn thương!

Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát, nguyện giác linh Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ cao đăng Phật quốc, thùy từ gia hộ cho Phật Giáo Việt Nam nói chung được hưng long chánh pháp, cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nói riêng được xiển dương tông phong, quang tuyên đạo mạch, hàng hậu học biết lấy nhẫn lực làm căn bản, lấy trí nguyện làm hành trang mà tiếp nối con đường phụng sự quần sanh.

Phật lịch 2569 – Huệ Tàng am, 18.04.2026

LÔI AM

______________________

[1] Tiểu sử và Công hạnh Cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ (1909 – 1984)https://hoangphap.org/tieu-su-va-cong-hanh-co-dai-lao-hoa-thuong-thich-tri-thu-1909-1984/
[2] Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ kể lại một vài chi tiết về giai đoạn thành lập GHPGVN và HT. Thích Trí Thủhttps://thuvienhoasen.org/a8191/thuong-toa-thich-tue-sy-ke-lai-mot-vai-chi-tiet-ve-giai-doan-thanh-lap-ghpgvn-va-ht-thich-tri-thu
[3] ‘Từ đau thương thắp lửa mặt trời’https://www.youtube.com/watch?v=0T3PVHrWMm4
[4] Thống Nhất Phật Giáohttps://thuvienhoasen.org/a8190/tien-trinh-thong-nhat-phat-giao-do-trung-hieu
[5] Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ kể lại một vài chi tiết về giai đoạn thành lập GHPGVN và HT. Thích Trí Thủhttps://thuvienhoasen.org/a8191/thuong-toa-thich-tue-sy-ke-lai-mot-vai-chi-tiet-ve-giai-doan-thanh-lap-ghpgvn-va-ht-thich-tri-thu
[6] Một thời truyền luậthttps://hoangphap.org/mot-thoi-truyen-luat/

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.