Charles Keith/Phạm Nguyên Trường dịch: Công Giáo Việt Nam, từ Ðế Chế Ðế n Quốc Gia

cong-giao-viet-nam-cover

Công Giáo Việt Nam, từ Ðế Chế Ðế n Quốc Gia,
tác giả Charles Keith, Phạm Nguyên Trường dịch.
Người Việt Books xuất bản, 2016. Bìa và trình bày: Uyên Nguyên

Tri ân

Phải mất một thời gian dài tôi mới viết xong cuốn sách này, tôi đội ơn nhiều người và nhiều tổ chức vì họ đã giúp tôi trong suốt thời gian đó. Tôi bắt đầu dự án này trong thời gian học tại Đại học Yale (Yale University), nơi John Merriman và Ben Kiernan đã giúp tôi học cách tư duy về những tương tác giữa lịch sử châu Âu và lịch sử Nam Á mà cuốn sách này khảo sát. Không có sự hướng dẫn và tình bạn của họ thì tôi không được như ngày hôm nay. Jay Winter không chỉ là người có ảnh hưởng nhiều với tôi về mặt trí tuệ trong thời gian này, tôi phải cám ơn ông vì nhan đề của cuốn sách. Quang Phu Van là người đã có công dạy tiếng Việt cho tôi hơn bất kì ai khác, những cố gắng của ông trong việc xây dựng cộng đồng nghiên cứu Việt Nam ở Yale đã mang lại cho tôi, cũng như nhiều người khác, rất nhiều lợi ích. Những người bạn nghiên cứu sinh tuyệt vời của tôi – nhiều quá, không thể cám ơn từng người ở đây được – luôn luôn là nguồn động viên và cổ vũ đối với tôi. Xin được đặc biệt cám ơn George R. Trumbull IV vì sự giúp đỡ và tình bằng hữu ngay từ thuở ban đầu và Haydon Cherry vì những buổi thảo luận và những thời giancực kỳ thú vị trên cả ba châu lục.

Kiến thức, lời khuyên và sự cổ vũ của các học giả về Việt Nam và chủ nghĩa thực dân Pháp đã có đóng góp rất lớn vào cuốn sách này. Xin chân thành cám ơn Mitch Aso, Jennifer Boittin, Pascal Bourdeaux, Trang Cao, Joshua Cole, J. P. Daughton, Naomi Davidson, George Dutton, Christina Firpo, Elizabeth Foster, Henri Francq, Gilles de Gantès, Christoph Giebel, Chi Ha, Alec Holcombe, Eric Jennings, Mark Lawrence, Christian Lentz, Jim Le Seuer, Pamela McElwee, Ed Miller, Michael Montesano, Cindy Nguyen, Lien – Hang Nguyen, Martina Nguyen, Nguyen Nguyet Cam, Lorraine Paterson, Jason Picard, Helen Pho, Paul Sager, Gerard Sasges, Hue – Tam Ho Tai, Keith Taylor, Michele Thompson, Nhung Tuyet Tran, Tuong Vu, Chris Wheeler, Owen White, John Whitmore and Peter Zinoman vì sự giúp đỡ của họ trong suốt mấy năm trời. Xin được đặc biệt cám ơn một ít người khác. Tôi đặc biệt mang ơn Claire Trần Thị Liên và Peter Hansen vì công trình có tính đột phá của họ về lịch sử Công giáo Việt Nam trong thế kỷ XX và sự chia sẻ kiến thức và ý tưởng của họ về những điều thú vị trong lĩnh vực nghiên cứu mà chúng tôi cùng quan tâm. Xin cám ơn Shawn McHale vì đã đọc bản luận án làm cơ sở cho tác phẩm này. Xin cám ơn Christopher Goscha vì ông đã đọc toàn bộ bản thảo và đã cho tôi những nhận xét và cổ vũ cực kỳ quan trọng, như ông đã từng làm với nhiều người trong lĩnh vực Việt Nam học. Cuối cùng, xin được cám ơn Bradley Davis vì những buổi nói chuyện về lịch sử Việt Nam, tuy vòng vo và vô lễ nhưng vẫn làm tôi nhớ mãi, rất nhiều buổi như thế đã diễn ra ở bàn bia hơi mà chúng tôi ưa thích trên phố Dã Tượng ở Hà Nội, nhưng nay đã trở thành nạn nhân của bước đi hùng dũng của lịch sử (hiện là chi nhánh của Vietcom Bank).

Sẽ không có cuốn sách này nếu không có sự tài trợ hào phóng về mặt tài chính của nhiều tổ chức. Tôi đặc biệt mang ơn quĩ Blakemore – Freeman Foundation vì đã tạo điều kiện cho tôi học tiếng Việt ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong những năm 2004 – 2005, và cám ơn chương trình Fulbright – Hays Program và Social Science Research Council vì khoản tài trợ tạo điều kiện cho tôi tiến hành công việc chủ yếu của công trình nghiên cứu này. Ở Yale, tôi xin cám ơn Khoa Sử (Department of History), Hội đồng nghiên cứu Đông Nam Á (Council on Southeast Asia), Trung tâm MacMillan (MacMillan Center), Trung tâm Nghiên cứu An ninh Quốc tế (International Security Studies) về khoản tài trợ tạo điều kiện cho tôi học tiếng Việt tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á vào mùa hè (Southeast Asian Summer Studies Institute) và thực hiện công việc nghiên cứu ban đầu và xin cám ơn quĩ Mrs. Giles Whiting Foundation vì sự ủng hộ của họ trong năm tôi viết luận án. Tại đại học Michigan State (Michigan State University) xin cám ơn Khoa Sử (Department of History) và Khoa học Xã hội học (College of Social Science) vì những hỗ trợ cần thiết trong giai đoạn sau của quá trình nghiên cứu và viết luận án.

Quá trình nghiên cứu để viết tác phẩm này đã đưa tôi tới nhiều văn khố và thư viện tuyệt vời. Ở Việt Nam, tôi rất muốn được cám ơn Viện Việt Nam Học và Khoa Học Phát Triển vì đã bảo trợ cho chiếu khán của tôi để tôi học tiếng Việt và đã giới thiệu tôi với những cơ quan mà tôi làm việc. Tôi xin cám ơn các vị giám đốc và nhân viên Trung Tâm Lưu Trữ I ở Hà Nội, Trung Tâm Lưu Trữ II ở thành phố Hồ Chí Minh, Thư Viện Quốc Gia ở Hà Nội và Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp ở thành phố Hồ Chí Minh vì đã cho tôi tiếp cận với những bộ sưu tập của họ. Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo và Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp ở Hà Nội là những nơi tuyệt vời để làm việc và gặp gỡ các nhà khoa học và tôi xin cám ơn các ông giám đốc Đỗ Quang Hưng và Andrew Hardy vì lòng nhiệt tình của họ đối với tôi. Tôi cũng xin cám ơn cựu Tổng giám mục Hà Nội, Joseph Ngô Quang Kiệt, và Tổng giám mục thành phố Hồ Chí Minh, Hồng y Jean – Baptiste Phạm Minh Mẫn, vì sự đón tiếp nồng hậu trong những lần tôi tới thăm hai tổng giáo phận này. Ở Pháp, tôi mang ơn Cha Gérard Moussay, nay đã quá cố, của Hội Thừa Sai Paris (Société des Missions Etrangères de Paris) vì đã cho tôi tiếp cận với văn khố và thư viện của Hội và xin cám ơn Brigitte Appavou vì đã giúp đỡ tôi tìm kiếm trong bộ sưu tập của họ. Tôi cũng xin cám ơn các vị giám đốc và nhân viên Cục Lưu Trữ Hải Ngoại (Archives Nationales d’Outre – Mer), Văn khố của Hội Saint – Sulpice (Société de Saint – Sulpice), Văn khố của Bộ ngoại giao (Ministère des Affaires Étrangères), văn khố của Lịch sử Bộ Binh (Service Historique de l’Armée de la Terre), Thư viện của Viện nghiên cứu Công giáo Paris (Bibliothèque de l’Institut Catholique de Paris), Thư viện tài liệu quốc tế đương đại (Bibliothèque de Documentation Internationale Contemporaine), Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque Nationale de France), và (ở Italy) Văn khố lịch sử của Bộ Truyền giáo của Vatican (Archivio Storico della Congregazione per l’ Evengelizzazione dei Popoli).

Các đồng nghiệp của tôi ở Đại học Michigan State (Michigan State University) có thái độ ân cần đối với tôi ngay từ khi tôi mới tới East Lansing và họ đã giúp tác phẩm này lớn lên cho đến tận phút chót. Xin đặc biệt cám ơn David Bailey, Liam Brockey, Pero Dagbovie, Walter Hawthorne, Leslie Moch, Ed Murphy, Ethan Segal, Lewis Siegelbaum, Aminda Smith, Ben Smith, Michael Stamm và John Waller. Tôi gặp may vì tác phẩm này đã tìm được nơi trú chân là Nhà xuất bản của Đại học California (University of California Press), là nơi đã ủng hộ những công trình nghiên cứu Việt Nam học từ khá lâu rồi, tôi lại còn may nữa khi được làm việc với Niels Hooper và đội ngũ biên tập viên của ông. Xin gửi lời cám ơn tới hai người phản biện giấu tên về những lời nhận xét tuyệt vời của họ. Tôi cũng xin đặc biệt cám ơn Christopher Goscha và Fredrik Logevall, hai đồng biên tập một loạt tác phẩm bao gồm cuốn sách này với sự ủng hộ nhiệt tình của họ. Cuối cùng, cuốn sách này sẽ không thể thực hiện nếu không có sự tham gia của ba dịch giả tài năng. Xin cám ơn Phạm Nguyên Trương, dịch giả chính của tác phẩm; Nguyễn Khoan và Lê Kim Loan dành nhiều thời gian xem xét, bổ túc và sửa chữa những chỗ cần thiết.

Nhìn lại quá khứ, tôi nghĩ ban đầu tôi định trở thành nhà sử học, đấy là khi tôi học với thầy Matthew Ostoyich năm lớp mười một và mười hai, ông là tấm gương mà tôi luôn luôn nhớ. Khoa sử tại Đại học Cornell (Cornell University) là địa điểm tuyệt vời để học môn này khi còn là sinh viên: xin cám ơn những người thày tuyệt vời, Daniel Baugh, Stuart Blumin và John Weiss. Bạn bè trong tất cả các lĩnh vực của đời sống đã giúp tôi tập trung vào tác phẩm này, hay có lúc quên đi, khi nào viết xong là việc dường như quá sức tôi. Xin cám ơn Bob Berstein, Mat Backman, Matt Bruntel, Ken Cunningham, Cyrus Dhalla, Jake Kramer, Peter Lallas, Jake Lundberg, Naresh Manjanath, Tom Pepinsky, Johanna Ransmeier, Aaron Rester, Noah Smith, Joe Spinelli, Jeremy Taylor, và đặc biệt là Matthew Mozian vì tình bạn chân thành kéo dài gần ba thập kỷ, Landon Carter Schmitt, lúc nào chúng tôi cũng nhớ tới anh.

Thậm chí sau khi đã viết nhiều như thế rồi, tôi vẫn chưa tìm được lời để cám ơn gia đình tôi và gia đình bên vợ tôi. Tôi đã và sẽ vẫn luôn luôn đứng trên vai các vị. Tôi đã cực kỳ hạnh phúc khi biết ông bà nội ngoại của mình lúc đã lớn. Việc biết họ tạo điều kiện cho tôi trải nghiệm lịch sử của mình theo cách mà nhiều người khác không bao giờ có cơ hội làm như thế và tôi mãi mãi cảm thấy hạnh phúc vì món quà này. Và quan trọng hơn hết, tôi dành trọn tình yêu cho Helen và hai con gái Clara và Gretchen của chúng tôi, họ là khởi đầu cho mọi công việc của tôi.


Tựa

Công việc nghiên cứu Giáo hội Công giáo Việt Nam đã được phục hồi sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt và những thay đổi về kinh tế và xã hội của thời cải cách thị trường ở Việt Nam. Trong hai mươi năm qua, nhiều nhà nghiên cứu đã và đang cung cấp cho chúng ta những bản tường trình đầy màu sắc về Giáo hội Công giáo Việt Nam từ khi tôn giáo này xâm nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVII cho đến ngày nay. Tuy nhiên, có một giai đoạn cực kỳ quan trọng trong sử liệu học đã bị bỏ qua, giai đoạn mà một số người cho là quan trọng nhất, mà cụ thể là giai đoạn chuyển hóa trong thời thuộc địa, từ công việc truyền giáo do người nước ngoài lãnh đạo thành Giáo hội địa phương độc lập. Bằng tác phẩm Công giáo Việt Nam, Charles Keith đã lấp được chỗ trống đó và bằng cách làm như thế, ông còn cung cấp cho chúng ta một công trình phân tích cực kỳ đặc sắc về bản chất văn hóa – xã hội và chính trị của quá trình chuyển hóa này và những hậu quả phức tạp của nó. Ông cũng cung cấp cho chúng ta một sự hiểu biết sâu sắc, đầy sức mạnh về lịch sử Việt Nam đương đại.

Dựa vào những nguồn tài liệu cực kỳ phong phú của chế độ thuộc địa, của truyền giáo, của Vatican và nhất là những nguồn tài liệu của Việt Nam, Keith đã chứng minh cho chúng ta thấy quan hệ ngày càng dễ đổ vỡ giữa các tín đồ Công giáo Việt Nam với các nhà truyền giáo châu Âu và quan chức Pháp mà chính quyền thuộc địa đã tạo. Đồng thời, ông còn phân tích những thay đổi về xã hội, kinh tế và văn hóa diễn ra ở Việt Nam đã ảnh hưởng tới quan hệ giữa các tín đồ Công giáo Việt Nam và những người không theo đạo Công giáo. Nếu các nhà sử học tập trung chú ý vào những cuộc khởi nghĩa nổi tiếng, đã bị người Pháp đập tan, ở Yên Bái và Nghệ An trong những năm 1930 – 1931 thì Keith là người đầu tiên quan tâm tới ý nghĩa của việc tấn phong Nguyễn Bá Tòng – vị giám mục đầu tiên của Việt Nam – vào năm 1933. Khi chiến tranh kết thúc, việc tấn phong một vị linh mục nổi tiếng khác là Lê Hữu Từ và việc ban đầu ông này ủng hộ Hồ Chí Minh làm cho người ta không thể nghi ngờ rằng từ thế kỷ XIX trong cộng đồng giáo dân Việt Nam đã diễn ra nhiều sự thay đổi. Trước khi cuộc Chiến tranh Đông Dương kết thúc, người Việt Nam – chứ không phải người châu Âu – đã cai quản các giáo phận Hà Nội, Bắc Ninh, Vinh, Hải Phòng và Sài Gòn. Sự năng động của giai đoạn thuộc địa, trong đó có sự cáo chung đầy bạo lực của nó, đã tạo ra quá trình phi thực dân hóa về mặt tôn giáo.

Nhưng Keith còn đi xa hơn thế. Ví dụ, ông chỉ ra cách thức mà chế độ thuộc địa đã tạo ra những mối liên kết vươn ra bên ngoài biên giới quốc gia để rồi các tín đồ Công giáo Việt Nam có thể biến thành lợi thế cho mình. Qua mối liên kết đầy hấp dẫn, ông còn phân tích cách thức mà những cố gắng của Vatican trong giai đoạn sau Thế chiến I nhằm xây dựng các Giáo hội Công giáo trong thế giới bên ngoài phương Tây đã tạo điều kiện cho giới tinh hoa tôn giáo bản xứ suy nghĩ lại về quan hệ của họ với các nhà truyền giáo châu Âu và chính quyền thuộc địa. Tính chất đang thay đổi của Giáo hội Công giáo quốc tế còn cung cấp cho các tín đồ Công giáo Việt Nam những cuộc tiếp xúc cũng như những phương tiện mang tính thiết chế, phù hợp với giáo luật và hiện đại, cho việc mường tượng và xây dựng Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Trong công trình nghiên cứu quan trọng này, Charles Keith đã cung cấp cho chúng ta một bản tường trình dài hơi đầu tiên về Công giáo Việt Nam trong giai đoạn thuộc địa. Chúng tôi xin đưa cuốn sách này vào loạt tác phẩm của chúng tôi với sự vui mừng và lòng biết ơn vô hạn. Các chuyên gia cũng như các độc giả bình thường sẽ tìm thấy rất nhiều điều thú vị trong tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu, đa ngành và rất dễ thương này. Họ có thể thậm chí suy nghĩ hơi khác không chỉ về Giáo hội Công giáo Việt Nam mà còn về cả nước Việt Nam nữa.

Christopher Goscha
Fredrik Logevall

Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: