Robert A. Dahl/ Phạm Nguyên Trường dịch: Tại Sao Lại Cần Chế Ðộ Dân Chủ?

ban ve dan chu cover.jpg(Trích trọn chương 5, – BÀN VỀ DÂN CHỦ – với lời giới thiệu và 2 chương mới của Ian Shapiro. Phạm Nguyên Trường dịch – Phạm Hồng Sơn hiệu đính – Nhà xuất Giấy Vụn, 2016)

 

Tại sao chúng ta phải ủng hộ chế độ dân chủ? Cụ thể hơn, tại sao chúng ta phải ủng hộ chế độ dân chủ trong việc quản trị nhà nước? Xin nhớ rằng nhà nước là một loại hiệp hội độc nhất vô nhị, chính phủ của nó có khả năng cực kì đặc biệt là dùng sức mạnh, cưỡng ép và bạo lực (cùng với những phương tiện khác) buộc người ta phải tuân thủ luật lệ của nó. Không có biện pháp quản trị tốt hơn hay sao? Hệ thống quản trị phi dân chủ có tốt hơn không?

Vài lời về từ ngữ
Trong chương này tôi sẽ sử dụng từ ngữ chế độ dân chủ một cách lỏng lẻo để nói về những chính phủ trên thực tế, chứ không phải chính phủ lí tưởng, tức là những chính phủ đáp ứng ở mức độ đáng kể những tiêu chí được liệt kê trong chương trước, nhưng dĩ nhiên là không đáp ứng một cách trọn vẹn. Đôi khi tôi còn sử dụng chính quyền nhân dân như thuật ngữ bao quát không chỉ những hệ thống dân chủ trong thế kỉ XX mà cả những hệ thống có tính chất dân chủ khác, trong đó một phần đáng kể người trưởng thành không được tham gia bỏ phiếu hay tham gia các hoạt động chính trị khác.

Trước thế kỉ XX, phần lớn các nước trên thế giới, cả trong lí thuyết lẫn thực hành, đều công nhận tính ưu việt của những hệ thống phi dân chủ. Cho đến mãi thời gian gần đây, tuyệt đại đa số nhân loại – có những lúc là tất cả – đã phải khuất phục trước những kẻ cai trị phi dân chủ. Và những người đứng đầu các chế độ phi dân chủ thường tìm cách biện minh cho sự cai trị của họ bằng cách viện dẫn lời tuyên bố có từ thời thượng cổ và vẫn tồn tại dai dẳng rằng phần đông dân chúng không đủ năng lực tham gia vào việc quản lí nhà nước. Luận cứ này cho rằng đa số sẽ được lợi nếu dành việc quản trị phức tạp cho những người khôn ngoan hơn mình – nhiều nhất cũng chỉ là mấy người, mà có thể chỉ là một người. Trên thực thế, luận cứ này không thể thuyết phục được tất cả mọi người, vì vậy mà ở đâu lí lẽ rút lui thì ở đó cưỡng bức sẽ lên ngôi. Đa phần dân chúng chẳng bao giờ công khai chấp nhận để cho những kẻ tự phong là cấp trên cai trị hay quản trị mình, họ bị buộc phải làm như thế. Thậm chí hiện nay, quan điểm và thực hành cũ rích đó cũng chưa chết hẳn. Cuộc tranh luận về việc “một người, một ít người, hay nhiều người” được quản lí, quản trị nhà nước, dưới dạng này hay dạng khác, vẫn đang đồng hành cùng chúng ta.

Chế độ dân chủ tạo ra những hệ quả đáng mong muốn:
1. Thoát được nạn bạo quyền
2. Có được những quyền căn bản cho con người
3. Đạt được quyền tự do nói chung
4. Có được quyền tự quyết
5. Con người được tự chủ về mặt đạo đức
6. Con người được khuyến khích phát triển
7. Có sự bảo vệ những quyền cá nhân căn bản
8. Có quyền bình đẳng về chính trị
Ngoài ra, chế độ dân chủ hiện đại còn tạo ra:
9. Cổ xúy, xây dựng và củng cố hoà bình
10. Thịnh vượng

Trước một câu chuyện lịch sử dài dằng dặc như vậy, tại sao chúng ta lại tin rằng dân chủ là phương pháp quản trị, quản lí quốc gia tốt hơn là bất cứ biện pháp thay thế phi dân chủ nào khác? Xin được liệt kê các lí do.

So với bất kì biện pháp quản trị thay thế nào khác, dân chủ có ít nhất mười lợi điểm

1. Dân chủ giúp ta ngăn chặn sự cai trị của những người chuyên chế ác độc và xấu xa.

Có lẽ vấn đề cơ bản và dai dẳng nhất trong chính trị là tránh chế độ chuyên chế (bạo quyền). Suốt chiều dài lịch sử thành văn, trong đó có cả thời của chính chúng ta, các lãnh tụ thường bị chứng vĩ cuồng, chứng hoang tưởng, quyền lợi cá nhân, ý thức hệ, chủ nghĩa dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, niềm tin vào ưu thế bẩm sinh, hoặc thuần tuý là cảm xúc và xung động dẫn dắt, họ đã lợi dụng những khả năng đặc biệt của nhà nước để cưỡng ép và trấn áp người khác bằng bạo lực nhằm phục vụ cho những mục đích riêng của họ. Số người chết do chế độ độc tài gây ra có thể sánh ngang với số người chết do dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh.

Xin xem xét vài thí dụ từ thế kỉ XX. Dưới trào Joseph Stalin ở Liên Xô (1929 – 1953), nhiều triệu người bị bỏ tù vì lí do chính trị, mà lại thường là do chứng hoang tưởng của Stalin về những âm mưu chống lại ông ta. Ước tính có khoảng hai mươi triệu người đã chết trong những trại cải tạo lao động, bị hành hình vì những lí do chính trị, chết vì nạn đói (1932 – 1933), trong thời gian Stalin buộc nông dân phải vào những nông trại do nhà nước quản lí. Mặc dù khoảng hai mươi triệu nạn nhân khác của chế độ Stalin có thể đã thoát chết, nhưng họ đã phải chịu nhiều khổ đau cùng cực[1]. Hay Adolf Hitler, nhà độc tài của nước Đức Quốc xã (1933 – 1945). Không kể hàng chục triệu người, cả quân sự lẫn dân sự, bị chết và bị thương trong Thế chiến II; Hitler phải chịu trách nhiệm trực tiếp về cái chết của sáu triệu người Do Thái trong các trại tập trung cũng như cái chết của vô số những người có quan điểm đối lập với Hitler, người Ba Lan, người Gypsy, người đồng tính, và những nhóm sắc tộc khác mà ông ta muốn xóa sổ. Dưới chính quyền chuyên chế của Pol Pot ở Cambodia (1975 – 1979), Khmer Đỏ đã giết một phần tư dân số Cambodia: có thể nói đây là vụ diệt chủng do những người cùng sắc tộc gây ra với chính đồng bào của mình. Nỗi sợ của Pol Pot trước những tầng lớp có học lớn đến nỗi họ gần như bị xóa sổ hoàn toàn: đeo kính hay bàn tay không có chai đồng nghĩa với án tử hình.

Chắc chắn là lịch sử của chính quyền nhân dân không phải không có những vết nhơ của nó. Tương tự như tất cả các chính quyền khác, đôi khi chính quyền nhân dân cũng có những hành động bất công hoặc độc ác đối với những người sống bên ngoài biên giới của họ, những người sống trong các nước khác – người nước ngoài, dân thuộc địa v.v. Về mặt này, chính quyền nhân dân đối xử với người bên ngoài không tệ hơn chính quyền phi dân chủ, và thường thì họ khá hơn. Trong một số trường hợp, thí dụ như ở Ấn Độ, chính quyền thực dân đã có đóng góp một cách tình cờ hoặc có chủ ý vào việc tạo ra niềm tin vào chế độ dân chủ và cả sự hình thành các thiết chế dân chủ. Nhưng chúng ta không được bỏ qua những bất công mà những nước dân chủ thường làm với những người bên ngoài, bởi vì hành động như vậy là họ đi ngược lại nguyên lí đạo đức cơ bản, tức là nguyên lí biện minh cho quyền bình đẳng về mặt chính trị giữa các công dân trong chế độ dân chủ, như chúng ta sẽ thấy trong chương sau. Một Đạo luật phổ quát về nhân quyền, được thực thi một cách hiệu quả trên toàn thế giới, có thể là giải pháp duy nhất đối với mâu thuẫn này. Vấn đề này cũng như giải pháp cho nó đều là những đề tài quan trọng, nhưng chúng không nằm trong phạm vi thảo luận của cuốn sách mỏng này.

Thách thức trực tiếp hơn đối với những ý tưởng và thực hành dân chủ là những tổn hại do chính quyền nhân dân gây ra cho những người sống dưới quyền tài phán của nó và buộc phải tuân thủ luật pháp của nhà nước nhưng không được quyền tham gia vào quá trình quản lí quốc gia. Đấy là những người bị trị chứ không phải là những người cai trị. May thay, giải pháp cho vấn đề này đã trở nên khá rõ ràng, nhưng không phải lúc nào cũng dễ thực hiện: mở rộng quyền dân chủ đến thành viên của những nhóm bị đẩy ra bên lề. Trên thực tế, giải pháp này đã được áp dụng một cách rộng rãi trong thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, đấy là khi những hạn chế trước đây về quyền phổ thông đầu phiếu bị bãi bỏ và quyền phổ thông đầu phiếu cho người trưởng thành đã trở thành một tiêu chuẩn của chính quyền dân chủ[2].

Từ từ đã! Bạn có thể nói như thế. Chẳng lẽ các chính phủ dân chủ lại không thể gây thiệt hại cho thiểu số công dân có quyền bỏ phiếu nhưng bị những đa số đánh bại trong cuộc bỏ phiếu ư? Đây chẳng phải là cái mà chúng ta gọi là “sự độc tài của đa số” hay sao?

Tôi ước ao có được một câu trả lời thật đơn giản, nhưng đáng tiếc la nó phức tạp hơn là bạn có thể tưởng. Phức tạp bởi vì hầu như tất cả các điều luật và chính sách công, dù là do đa số dân chủ hay một thiểu số đầu sỏ hoặc một nhà độc tài tốt bụng thông qua, thì bao giờ nó cũng làm cho một số người nào đó bị thiệt hại. Nói một cách đơn giản, vấn đề không phải là liệu chính phủ có thể thiết kế tất cả các đạo luật mà không cái nào, không bao giờ, gây tổn thất cho quyền lợi của bất cứ công dân nào. Không, không một chính phủ nào, thậm chí ngay cả một chính phủ dân chủ, dám đồng ý với một lời tuyên bố như thế. Vấn đề là liệu trong dài hạn, tiến trình dân chủ có gây ra ít thiệt hại đối với những quyền cơ bản và lợi ích của các công dân hơn những lựa chọn thay thế phi dân chủ khác hay không mà thôi. Chỉ cần các chính phủ dân chủ ngăn chặn không để các chế độ chuyên chế, chuyên ngược đãi người dân, không để họ lên nắm được quyền cai trị, thì họ đã đáp ứng được đòi hỏi này tốt hơn là các chính phủ phi dân chủ rồi.

Nhưng chính vì các chế độ dân chủ chỉ không bạo ngược bằng các chế độ phi dân chủ thôi nên công dân của các nước dân chủ cũng khó mà chủ quan được. Chúng ta không thể biện hộ cho những tội ác nhỏ bởi vì có những kẻ phạm những tội ác lớn hơn. Ngay cả khi đã tuân thủ những thủ tục mang tính dân chủ nhưng đất nước dân chủ vẫn gây ra bất công thì kết quả vẫn là… bất công. Sức mạnh của đa số không thể khiến đa số thành có lí được[3].

Mặc dù vậy, còn có những lí do khác nữa để ta có thể tin rằng các chế độ dân chủ dường như dễ trở thành công chính hơn và có thái độ tôn trọng những quyền lợi căn bản của con người hơn là những chế độ phi dân chủ.

2. Chế độ dân chủ bảo đảm cho công dân của nó một số quyền căn bản mà các hệ thống phi dân chủ không và không thể nào bảo đảm được.

Chế độ dân chủ không chỉ là phương pháp quản trị. Bởi vì các quyền là những thành tố thiết yếu trong các thiết chế chính trị dân chủ, cho nên chế độ dân chủ vốn tự nó đã là hệ thống các quyền rồi. Các quyền đã nằm ngay trong những vật liệu xây dựng chủ yếu của phương pháp cai trị một cách dân chủ rồi.

Xin dừng lại để xem xét những tiêu chuẩn dân chủ được mô tả trong chương trước. Chẳng phải đương nhiên là muốn thoả mãn những tiêu chuẩn này thì hệ thống chính trị nhất định phải bảo đảm cho các công dân của nó một số quyền nhất định hay sao? Lấy thí dụ về việc tham gia một cách hiệu quả: muốn đáp ứng tiêu chuẩn này thì các công dân của nó nhất định phải có quyền tham gia và quyền thể hiện quan điểm của mình về những vấn đề chính trị, nghe các công dân khác nói, thảo luận những vấn đề chính trị với những công dân khác hay sao? Hay xem xét điều mà tiêu chí về sự bình đẳng trong việc bỏ phiếu đòi hỏi: tất cả các công dân đều phải có quyền bỏ phiếu và lá phiếu của họ phải được được kiểm đếm một cách trung thực. Tương tự như thế với những tiêu chuẩn dân chủ khác: rõ ràng là công dân phải có quyền nghiên cứu, tìm kiếm những phương cách lựa chọn khác nhau, quyền tham gia trong việc quyết định những vấn đề và cách đưa những vấn đề đó vào chương trình nghị sự v.v.

Theo định nghĩa, không một hệ thống phi dân chủ nào lại cho phép các công dân (hoặc các thần dân) của nó có nhiều quyền chính trị đến như thế. Bất cứ hệ thống chính trị nào chịu làm như thế, thì theo định nghĩa, nó sẽ trở thành chế độ dân chủ!

Nhưng sự khác biệt không chỉ là vấn đề định nghĩa. Muốn đáp ứng được những yêu cầu của chế độ dân chủ thì công dân phải thực sự được hưởng những quyền thuộc về bản chất của nó. Hứa hẹn những quyền dân chủ trên giấy, trong luật pháp, thậm chí ngay cả trong hiến pháp chưa phải là đủ. Các quyền này phải được đem ra thi hành một cách hữu hiệu và công dân phải được hưởng những quyền đó trên thực tế. Và nếu không làm được như thế, thì hệ thống chính trị đó đã đương nhiên là không dân chủ rồi, bất kể những kẻ cai trị có tuyên bố thế nào thì cũng vậy mà thôi, và tất cả những biểu hiện bề ngoài có tính dân chủ chỉ là vỏ bọc để che đậy bản chất phi dân chủ của chế độ đó.

Vì các tư tưởng dân chủ có sức hấp dẫn như thế cho nên trong thế kỉ XX những nhà cầm quyền chuyên chế thường khoác cho chính quyền của họ chiếc áo “dân chủ” và những cuộc trình diễn “bầu cử”. Nhưng xin hãy tưởng tượng rằng các công dân trong một đất nước như thế lại được hưởng tất cả những quyền không thể thiếu đối với chế độ dân chủ thì khi ấy có thể nói đất nước đó đã thực hiện xong quá trình chuyển tiếp sang chế độ dân chủ – như thường xảy ra trong suốt nửa sau của thế kỉ XX.

Ở đây, bạn có thể phản đối bằng cách nói rằng, thí dụ, sẽ không có tự do ngôn luận chỉ vì nó là một phần của chính định nghĩa về chế độ dân chủ. Ai quan tâm tới các định nghĩa? Mối liên kết phải là cái gì đó nhiều hơn là định nghĩa, chắc chắn bạn sẽ nói như thế. Và dĩ nhiên là bạn có lí. Chế độ dân chủ cần phải có các thiết chế bảo đảm cho và bảo vệ được các quyền cơ bản và các hoạt động quan trọng của dân chủ: để cho chế độ dân chủ tồn tại được thì đấy không chỉ là điều kiện cần thiết về mặt lí luận mà còn là điều kiện cần thiết về mặt thực tiễn nữa.

Mặc dù vậy, bạn có thể hỏi, cái này phải chăng chỉ là lí thuyết suông, những khái niệm, những trò chơi của các lí thuyết gia, triết gia và các nhà trí thức khác? Chắc chắn là bạn có thể nói thêm rằng chỉ có người khờ mới nghĩ rằng chỉ cần một vài triết gia ủng hộ là có thể tạo ra và giữ vững được chế độ dân chủ. Và tất nhiên là bạn có lí. Trong phần IV, chúng ta sẽ khảo sát một số điều kiện làm gia tăng những cơ hội thuận lợi cho việc duy trì chế độ dân chủ. Trong đó có việc nhiều công dân và các nhà lãnh đạo tin tưởng vào chế độ dân chủ, bao gồm cả niềm tin vào các quyền và cơ hội cần thiết cho chế độ dân chủ.

May mắn là, nhu cầu về những quyền con người và cơ hội dân chủ không mơ hồ đến mức vượt xa sự hiểu biết của những người công dân bình thường và những nhà lãnh đạo chính trị của họ. Thí dụ, cuối thế kỉ XVIII, đối với những người Mỹ bình thường thì hiển nhiên là họ hiểu rằng không thể có chế độ cộng hoà dân chủ nếu không có quyền tự do thể hiện. Một trong những hành động đầu tiên của Thomas Jefferson sau khi ông đắc cử tổng thống vào năm 1800 là hủy bỏ những Đạo luật Ngoại kiều và Phản loạn (Alien and Sedition Acts) đầy tai tiếng, được ban hành dưới thời vị tiền nhiệm là John Adams, tức là những đạo luật có thể đã dập tắt mọi biểu hiện về mặt chính trị. Làm như thế, Jefferson không chỉ hành động theo niềm tin của chính ông mà dường như còn phù hợp với những quan điểm thịnh hành trong những người Mỹ bình thường lúc đó nữa. Nếu và khi nhiều công dân không hiểu rằng chế độ dân chủ đòi hỏi phải có một số quyền cơ bản nhất định cho công dân, hoặc không ủng hộ những thiết chế chính trị, hành chính, và tư pháp làm nhiệm vụ bảo vệ những quyền này, thì lúc ấy chế độ dân chủ của họ sẽ bị đe dọa.

May là, mối đe dọa này đã bị lợi ích thứ ba của hệ thống dân chủ hạn chế được một phần.

3. Chế độ dân chủ bảo đảm cho các công dân của nó nhiều quyền tự do cá nhân hơn bất cứ sự lựa chọn khả dĩ nào khác.

Bên cạnh tất cả những quyền, quyền tự do và những cơ hội cực kì cần thiết để chính quyền trở thành dân chủ, chắc chắn là công dân trong chế độ dân chủ còn được hưởng sự mở rộng ngày càng nhiều thêm của các quyền tự do nữa. Niềm tin vào sự cần thiết của chế độ dân chủ không tồn tại tách rời với những niềm tin khác. Đa phần mọi người đều cho rằng niềm tin đó là một phần của một loạt những niềm tin khác nhau. Trong đó có, thí dụ, niềm tin rằng quyền tự do thể hiện tự thân nó đã là đáng mong muốn rồi. Như vậy, trong không gian bao la của muôn vàn giá trị và sự vật khác nhau, dân chủ có một vị trí then chốt. Nhưng nó không phải là điều đáng mong muốn duy nhất. Tương tự như các quyền cần thiết khác đối với tiến trình dân chủ, quyền tự do thể hiện có giá trị của riêng nó bởi vì nó là một phương tiện cần thiết để có sự tự chủ về mặt đạo đức, có những phán xét ngay thẳng về mặt đạo đức và giúp cho có được một đời sống tốt lành.

Hơn nữa, chế độ dân chủ không thể tồn tại được lâu nếu các công dân của nó không biết cách tạo ra và giữ vững một nền văn hoá chính trị ủng hộ dân chủ; nói rõ hơn là, phải tạo ra và giữ được một nền văn hoá đại chúng có tính chất ủng hộ cho những lí tưởng và thực hành dân chủ. Giữa hệ thống chính quyền dân chủ và nền văn hoá dân chủ ủng hộ nó có một mối quan hệ phức hợp và chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong Chương 12. Ở đây chúng ta chỉ cần nói thêm rằng một nền văn hoá dân chủ sẽ gần như chắc chắn phải coi trọng giá trị tự do cá nhân và vì thế sẽ phải tạo ra những điều kiện thuận lợi, ủng hộ cho việc gia tăng các quyền và tự do của công dân. Điều mà ông Pericles, một chính khách Hi Lạp, nói về chế độ dân chủ Athens vào năm 431 trước Công nguyên, cũng vẫn còn áp dụng được cho chế độ dân chủ hiện đại: “Sự tự do mà chúng ta được hưởng ở trong chính phủ cũng đang lan ra đời sống thường nhật rồi đấy.”[4]

Để chắc chắn thì việc chúng ta khẳng định nhà nước dân chủ sẽ mang lại cho người ta nhiều quyền tự do hơn bất cứ sự lựa chọn thay thế khả dĩ nào cũng nên được thử thách với quan điểm cho rằng chúng ta sẽ được tự do hơn nhiều nếu không còn nhà nước nữa: đây chính là tuyên bố táo bạo của những người theo chủ nghĩa vô chính phủ[5]. Nhưng nếu bạn thử tưởng tượng một thế giới hoàn toàn không còn nhà nước; một thế giới, nơi mà mọi người tôn trọng những quyền căn bản của tất cả những người khác và mọi vấn đề đòi hỏi phải có quyết định tập thể đều được giải quyết một cách hoà bình bằng nhất trí thoả thuận, thì chắc chắn là bạn, cũng như đa số người khác, đều kết luận rằng đấy là điều bất khả thi. Lúc đó hoàn toàn có khả năng là một số người sẽ bị một số người khác hoặc bị các nhóm người hay các tổ chức khác cưỡng bức: thí dụ, đấy là những người, những nhóm, hoặc những tổ chức có ý định cướp đoạt thành quả lao động của người khác, buộc những người yếu hơn phải làm nô lệ hay tìm cách thống trị họ, áp đặt luật lệ của mình cho người khác, hoặc họ sẽ tái lập nhà nước bạo ngược nhằm bảo đảm sự thống trị của mình. Nhưng nếu việc thủ tiêu nhà nước sẽ sinh ra những vụ bạo động và rối loạn không thể chịu nổi – tức là sinh ra hiện tượng “vô chính phủ” theo nghĩa mà mọi người vẫn hiểu – thì một nhà nước tốt sẽ ưu việt hơn so với một nhà nước tồi – điều thường xuất hiện sau tình trạng vô chính phủ như vừa đề cập.

Vậy, nếu như chúng ta bác bỏ chủ nghĩa vô chính phủ và thừa nhận nhu cầu phải có nhà nước, thì một nhà nước với một chính quyền dân chủ sẽ mang lại cho chúng ta nhiều quyền tự do hơn bất kì nhà nước nào khác.

4. Chế độ dân chủ giúp người dân bảo vệ những quyền lợi căn bản của chính mình.

Mọi người, hoặc gần như tất cả mọi người, đều muốn một số điều nhất định: được sống, có thức ăn, nơi ở, có sức khoẻ, tình thương, được tôn trọng, bảo đảm an ninh, có gia đình, bạn bè, công việc dễ chịu, được nghỉ ngơi và nhiều thứ khác nữa. Đương nhiên, các nhu cầu đặc thù và cụ thể của bạn có lẽ sẽ khác với nhu cầu của người khác. Nhưng, giống như hầu hết mọi người khác, chắc chắn là bạn cũng muốn kiểm soát ở mức độ nào đó những tác nhân quyết định tới việc bạn có thể thỏa mãn được nhu cầu của mình hay không và có thể thỏa mãn đến mức nào – đó chính là quyền tự do lựa chọn, quyền có cơ hội tự định hướng, tự quyết định cuộc sống sao cho phù hợp với những mục tiêu, sở thích, thị hiếu, giá trị, cam kết và niềm tin của bạn. Chế độ dân chủ là chế độ sẽ bảo vệ những quyền và cơ hội đó cho bạn tốt hơn so với tất cả các hệ thống chính trị đã từng được con người phát minh ra. Về điều này, không ai lập luận vững chắc hơn là John Stuart Mill.

Ông viết: Một nguyên lý “bao hàm trong nó tính chân lí phổ quát và tính có thể áp dụng được ở mọi nơi, mọi người như các đề xuất tôn trọng con người thường thấy là các quyền và lợi ích của mọi người hoặc của bất kì cá nhân nào chỉ không bị coi thường khi bản thân cá nhân ấy có khả năng và thường xuyên có ý định đứng lên bảo vệ chúng… Con người chỉ an toàn khỏi bàn tay gây ác của kẻ khác một cách tương xứng khi họ có sức mạnh để tồn tại và họ tự bảo vệ được mình”. Ông nói tiếp, “bạn có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình khỏi sự lạm dụng của chính quyền, và những kẻ có thế lực hoặc những kẻ kiểm soát chính quyền, chỉ khi bạn có thể tham gia một cách trọn vẹn vào quá trình quyết định tới cách hành xử của chính quyền.” Ông kết luận: Vì vậy “không có gì đáng mong muốn hơn là để mọi người cùng chia sẻ chủ quyền của nhà nước.” Đấy chính là chính quyền dân chủ[6].

Mill nói hoàn toàn đúng. Chắc chắn là dù bạn đã nằm trong danh sách cử tri đoàn của một nhà nước dân chủ, bạn cũng không thể tin chắc rằng tất cả quyền lợi của bạn đều sẽ được bảo vệ một cách đầy đủ; nhưng nếu bạn bị gạt ra khỏi danh sách cử tri đoàn thì bạn có thể tin chắc rằng quyền lợi của mình sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng vì người ta bỏ qua hoặc cố tình làm hại. Rõ ràng là được tham gia vẫn hơn là đứng ngoài!

Dân chủ còn có mối quan hệ độc đáo đối với tự do theo cách khác nữa.

5. Chỉ có chính quyền dân chủ mới có thể cung cấp cho người ta cơ hội tối đa nhằm thực hiện quyền tự quyết – tức là sống theo những đạo luật do chính họ lựa chọn.

Không một người bình thường nào có thể có một cuộc sống thoả mãn nếu không hợp quần với những người khác. Nhưng hợp quần với người khác cũng có giá của nó: không phải lúc nào bạn cũng được làm những gì bạn thích. Bỏ thời thơ ấu lại phía sau là lúc bạn đã có một bài học căn bản của cuộc sống: cái bạn thích làm đôi khi mâu thuẫn với cái mà người khác thích. Bạn cũng đã học được rằng nhóm hoặc những nhóm mà bạn muốn trở thành thành viên có một số những quy tắc hoặc thói quen nhất định mà, như một thành viên, bạn cũng sẽ phải tuân thủ. Hậu quả là, nếu bạn không thể áp đặt ước muốn của bạn bằng sức mạnh thì phải tìm cách giải quyết những khác biệt của các bạn một cách hoà bình, có lẽ phải bằng cách thoả thuận.

Nhưng một câu hỏi khác đã gây bao rắc rối cả trong lí thuyết lẫn thực hành. Làm sao bạn có thể lựa chọn được những luật lệ mà nhóm của bạn buộc bạn phải theo? Vì chỉ nhà nước mới có khả năng đặc biệt là dùng áp lực để buộc người ta phải thi hành luật lệ của nó, vì vậy, câu hỏi này động chạm mạnh tới địa vị công dân (hay thần dân) của bạn. Làm sao bạn vừa được tự do lựa chọn luật lệ mà nhà nước sẽ buộc phải tuân thủ và sau khi đã chọn rồi thì bạn lại không còn được tự do để không tuân thủ chúng nữa?

Nếu bạn và đồng bào của bạn luôn luôn thỏa thuận được với nhau thì giải pháp sẽ là dễ dàng: tất cả mọi người chỉ cần đồng thuận với nhau về mọi luật lệ là xong. Đúng ra, trong những trường hợp như thế, các bạn có thể cũng chẳng cần đến luật nữa, trừ phi còn muốn dùng chúng như một sự gợi nhớ. Và khi bạn chấp hành luật lệ là bạn đang tuân thủ chính mình đấy. Và như vậy, trên thực tế sẽ chả còn vấn đề gì nữa và sự hài hoà hoàn hảo giữa bạn và đồng bào của mình sẽ làm cho giấc mơ của chủ nghĩa vô chính phủ trở thành hiện thực. Nhưng than ôi! Kinh nghiệm chỉ ra rằng sự cùng nhất trí thực sự, không cần áp lực và lại lâu bền là chuyện xưa nay; một sự đồng thuận tuyệt hảo và lâu bền là một mục tiêu không thể nào đạt được. Cho nên câu hỏi hóc búa của chúng ta vẫn còn nguyên đó.

Nhưng nếu chúng ta biết rằng chúng ta không thể hi vọng được sống hoàn toàn hài hoà với tất cả đồng bào của mình thì chúng ta vẫn có thể cố gắng tạo một qui trình quyết định về các qui tắc và luật lệ có thể thoả mãn một số tiêu chí nhất định.

  • Qui trình này bảo đảm rằng trước khi đạo luật có hiệu lực, bạn và tất cả các công dân khác đều có cơ hội trình bày quan điểm của mình.
  • Bạn được bảo đảm cơ hội thảo luận, cân nhắc, thương lượng, thoả hiệp và tới mức để trong trường hợp tốt đẹp nhất có thể tìm được luật lệ mà mọi người đều thấy là thoả đáng.
  • Còn trong những hoàn cảnh thường thấy là khi không thể đạt được đồng thuận một trăm phần trăm, thì dự luật nào được nhiều người ủng hộ nhất sẽ trở thành có hiệu lực.

Những tiêu chí này là thành phần của tiến trình dân chủ lí tưởng được mô tả trong chương trước. Mặc dù tiến trình này không thể bảo đảm rằng tất cả mọi thành viên đều thực sự sống trong những luật lệ do chính họ lựa chọn, nhưng nó khiến cho quyền tự quyết có thể được mở rộng ở mức cao nhất có thể. Ngay cả khi bạn ở trong nhóm người bị thua phiếu và sự chọn lựa mà bạn ưa thích bị đa số đồng bào của bạn bác bỏ thì bạn vẫn có thể tin rằng đây là tiến trình công bằng hơn bất cứ tiến trình nào khác mà bạn có thể hi vọng. Như thế là, bạn đang thực hiện quyền tự do tự quyết của mình qua việc tự do lựa chọn sống dưới một hiến pháp dân chủ hơn là một hiến pháp phi dân chủ.

6. Chỉ có chính quyền dân chủ mới có thể cung cấp cho người ta cơ hội tối đa trong việc thực thi trách nhiệm đạo đức.

Thực thi trách nhiệm đạo đức nghĩa là gì? Theo tôi nó có nghĩa là bạn có những nguyên tắc đạo đức của mình và bạn đưa ra những quyết định dựa trên những nguyên tắc đó, sau khi bạn đã suy nghĩ kĩ, đã cân nhắc, đã kiểm tra kĩ lưỡng và xem xét những lựa chọn thay thế và hậu quả của chúng. Muốn có trách nhiệm về mặt đạo đức thì bạn phải có quyền tự chủ trong những lựa chọn có liên quan đến lĩnh vực đạo đức.

Điều này đòi hỏi cao hơn những gì mà đa số chúng ta có thể hi vọng làm được trong phần lớn đời mình. Nhưng cơ hội để bạn sống trong những bộ luật do chính bạn lựa chọn mở rộng đến mức nào thì trách nhiệm đạo đức của bạn cũng chỉ mở rộng tới mức đó mà thôi. Làm sao bạn có thể chịu trách nhiệm về những quyết định mà bạn không thể kiểm soát? Nếu bạn không thể ảnh hưởng đến hành vi của các viên chức chính quyền thì làm sao bạn có thể chịu trách nhiệm về hành vi của họ? Nếu bạn là đối tượng điều chỉnh của những quyết định tập thể – chắc chắn là bạn đang ở trong tình trạng như thế – và nếu tiến trình dân chủ giúp tối đa hoá các cơ hội để bạn sống trong những đạo luật do chính bạn lựa chọn – ở mức độ mà không chế độ phi dân chủ nào có thể đạt được – thì chính là nó đang tạo điều kiện để bạn hành động như một người có trách nhiệm về mặt đạo đức.

7. Chế độ dân chủ thúc đẩy sự phát triển con người một cách đầy đủ hơn là bất cứ lựa chọn khả dĩ nào khác.

Đây là tuyên bố táo bạo và gây tranh cãi nhiều hơn là bất cứ tuyên bố nào khác. Bạn sẽ thấy đây là một lời khẳng định manh tính kinh nghiệm chủ nghĩa, một lời tuyên bố dựa trên các sự kiện. Về nguyên tắc, chúng ta có thể kiểm nghiệm lời tuyên bố này bằng cách đo lường và so sánh – với một phương pháp hợp lý – «sự phát triển của con người» trong các chế độ dân chủ và các chế độ phi dân chủ. Nhưng đây là nhiệm vụ cực kì khó. Do vậy, mặc dù có những bằng chứng ủng hộ tuyên bố này, có lẽ chúng ta phải coi đấy là một lời khẳng định đáng tin nhưng không thể chứng minh được.

Dường như bất cứ ai cũng có quan niệm về những phẩm chất đáng hay không đáng ao ước của con người và những phẩm chất đáng ao ước cần được phát triển còn những phẩm chất không đáng ao ước thì nên bị ngăn chặn. Trong số những phẩm chất đáng ao ước mà phần lớn chúng ta muốn khuyến khích là tính lương thiện, công bằng, lòng dũng cảm và tình yêu thương. Nhiều người trong chúng ta còn tin rằng người được gọi là trưởng thành phát triển trọn vẹn phải có khả năng tự chăm lo lấy mình, phải có khả năng hành động để bảo vệ những lợi ích của mình chứ không chỉ dựa dẫm, trông cậy vào người khác. Người trưởng thành phải hành động một cách có trách nhiệm, phải cân nhắc những đường lối hành động khác nhau một cách tốt nhất trong khả năng của mình, phải xem xét hậu quả, và phải quan tâm tới quyền lợi và nghĩa vụ của người khác cũng như của chính mình; đấy đều là những phẩm chất mà nhiều người trong chúng ta coi là đáng mong ước. Và họ phải có khả năng, năng lực tham gia vào những cuộc thảo luận tự do và cởi mở với những người khác về những vấn đề mà họ cùng đối mặt.

Ngay từ khi mới ra đời, hầu như tất cả mọi người đều có tiềm năng phát triển những phẩm tính này. Nhưng họ có thực sự phát triển được chúng hay không và phát triển tới mức nào thì lại tùy thuộc vào nhiều hoàn cảnh, trong đó có bản chất của hệ thống chính trị mà người đó sống. Chỉ có những hệ thống dân chủ mới mang lại những điều kiện để những phẩm chất mà tôi vừa nhắc tới có thể phát triển một cách trọn vẹn mà thôi. Tất cả những chế độ khác đều làm giảm, và thường làm giảm một cách khắc nghiệt các cơ hội, khả năng, phạm vi hành động của người trưởng thành trong việc bảo vệ quyền lợi của chính mình, xem xét quyền lợi của người khác hay trong việc chịu trách nhiệm về những quyết định quan trọng, và cùng với những người khác tham gia một cách tự do vào việc tìm kiếm quyết định tốt nhất. Dĩ nhiên, một chính quyền dân chủ chưa đủ để đảm bảo chắc chắn rằng con người sẽ có được những phẩm chất vừa kể, nhưng đó là một điều kiện tối thiểu phải có.

8. Chỉ có chính quyền dân chủ mới có thể khuyến khích quyền bình đẳng chính trị ở mức độ tương đối cao.

Một trong những lí do quan trọng nhất làm người ta thích chính quyền dân chủ hơn là nó có thể đạt được một mức độ bình đẳng chính trị giữa các công dân cao hơn bất kì lựa chọn chính quyền khả thi nào khác. Nhưng tại sao chúng ta lại đánh giá cao quyền bình đẳng chính trị? Vì câu trả lời không phải là hiển nhiên cho nên trong hai chương sau tôi sẽ giải thích tại sao quyền bình đẳng chính trị là đáng mong ước, và tại sao chúng ta nhất định sẽ chấp nhận nó nếu chúng ta chấp nhận vài giả thiết hữu lí mà có lẽ là đa số chúng ta tin tưởng. Tôi cũng sẽ chứng minh rằng nếu chúng ta chấp nhận quyền bình đẳng chính trị thì chúng ta phải đưa thêm vào tiêu chí dân chủ thứ năm trong.

Những lợi ích của chế độ dân chủ mà tôi vừa đề cập đều có thể đến từ các nền dân chủ cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Nhưng, như chúng ta đã thấy trong Chương 2, một số những thiết chế chính trị của các hệ thống dân chủ vốn quen thuộc với chúng ta hôm nay lại là sản phẩm của những thế kỉ gần đây; thực vậy, một trong các thiết chế đó, quyền phổ thông đầu phiếu của người trưởng thành gần như là sản phẩm của thế kỉ XX. Còn những hệ thống đại diện hiện đại với quyền phổ thông đầu phiếu cho toàn bộ những người trưởng thành dường như còn có hai lợi thế nữa mà tất cả các chế độ dân chủ và nhà nước cộng hoà trước đây không nhất thiết là đã có.

9. Các chế độ dân chủ đại diện hiện đại không gây chiến với nhau.

Rất ít người đã có thể dự đoán được hay dám mong chờ tính ưu việt đặc biệt này của các chính quyền dân chủ. Nhưng vào thập niên cuối cùng của thế kỉ XX, chứng cứ đã trở thành khó mà bác bỏ được. Từ năm 1945 đến năm 1989 đã xảy ra 34 cuộc chiến tranh quốc tế, nhưng giữa các nước dân chủ không xảy ra bất kì cuộc chiến tranh nào. Hơn thế nữa, “ít người dám nghĩ rằng giữa những nước này sẽ xảy ra chiến tranh hay đang chuẩn bị chiến tranh với nhau”[7]. Nhận xét này thậm chí còn đúng cho cả giai đoạn trước năm 1945 nữa. Lùi về thế kỉ thứ XIX, những nước đã có các chính phủ đại diện và các thiết chế dân chủ khác, nơi phần lớn đàn ông có quyền bầu cử, cũng không gây chiến với nhau.

Tất nhiên là các chính phủ dân chủ hiện đại đã chiến đấu với các nước phi dân chủ, như họ đã làm trong các Thế chiến I và Thế chiến II. Họ cũng đã dùng sức mạnh quân sự để áp đặt chế độ thực dân lên nhân dân các nước bị chinh phục. Đôi khi họ còn can thiệp vào đời sống chính trị của các nước khác, thậm chí họ còn làm suy yếu hoặc giúp đỡ trong việc lật đổ chính phủ yếu kém. Thí dụ, cho đến những năm 1980, Mỹ đã có thành tích rất xấu trong việc hỗ trợ các chế độ độc tài quân phiệt ở châu Mỹ Latin; năm 1954 Mỹ từng đóng vai trò công cụ trong cuộc đảo chính quân sự nhằm lật đổ chính quyền Guatemala vừa mới được bầu lên.

Tuy nhiên, một thực tế rất rõ ràng và ngoạn mục là các chế độ dân chủ đại diện hiện đại không gây chiến với nhau. Lí do thì không hoàn toàn rõ ràng. Có khả năng là các quan hệ thương mại ở mức cao giữa các chế độ dân chủ hiện đại đã hướng họ tới quan hệ bạn bè hơn là đánh nhau[8]. Nhưng nói rằng người dân và các nhà lãnh đạo ở các nước dân chủ đã học được nghệ thuật thoả hiệp, tương nhượng lẫn nhau thì cũng đúng. Ngoài ra, họ còn có xu hướng coi nhân dân ở những nước dân chủ khác là những người ít đe dọa hơn, giống họ hơn và đáng tin hơn. Cuối cùng, thực tiễn và lịch sử của những cuộc thương thuyết hoà bình, hiệp ước, liên minh, và công cuộc phòng thủ chung nhằm chống lại những kẻ thù phi dân chủ đã củng cố thêm cho khuynh hướng hướng tới hoà bình hơn là gây chiến.

Như vậy là, một thế giới dân chủ hơn cũng sẽ hứa hẹn là một thế giới hoà bình hơn.

10. Những nước dân chủ có xu hướng thịnh vượng hơn những nước phi dân chủ.

Cho đến cách đây hai thế kỉ, các triết gia chuyên về lĩnh vực chính trị thường cho rằng chế độ dân chủ là chính quyền thích hợp nhất đối với những dân tộc cần kiệm: trước đó người ta vẫn nghĩ rằng sự sung túc là một dấu hiệu của các chế độ quý tộc, quả đầu, và quân chủ, chứ không phải là của chế độ dân chủ. Nhưng kinh nghiệm của các thế kỉ XIX và XX lại chứng tỏ hoàn toàn ngược lại. Chế độ dân chủ là chế độ sung túc, so với họ thì các chế độ phi dân chủ nói chung đều nghèo nàn.

Mối liên quan giữa sự sung túc và chế độ dân chủ đã là một đặc điểm hết sức ấn tượng trong nửa sau thế kỉ XX. Nguyên nhân một phần là do sự gắn kết giữa chế độ dân chủ đại diện và nền kinh tế thị trường, trong đó phần lớn các thị trường đều không bị quản lí một cách khắt khe, công nhân được quyền tự do di chuyển từ nơi này hay công việc này đến nơi khác hoặc công việc khác, các xí nghiệp tư nhân được cạnh tranh với nhau trong việc bán hàng và tìm kiếm nguồn lực, còn người tiêu dùng thì có thể lựa chọn hàng hoá và dịch vụ được cung cấp bởi những người bán hàng đang cạnh tranh với nhau. Vào cuối thế kỉ XX, mặc dù không phải tất cả những nước có nền kinh tế thị trường đều là những nước dân chủ, nhưng tất cả những nước có hệ thống chính trị dân chủ đều là những nước có nền kinh tế thị trường.

Trong hai thế kỉ vừa qua, nói chung, nền kinh tế thị trường đã sản xuất được nhiều của cải hơn bất cứ thể chế kinh tế có khả năng thay thế nào khác. Như vậy là, trí tuệ của cổ nhân đã bị đảo lộn hoàn toàn. Bởi vì tất cả những nước dân chủ hiện đại đều có nền kinh tế thị trường, và những nước có nền kinh tế thị trường thì có khả năng là sẽ thịnh vượng, cho nên những nước dân chủ hiện đại cũng có khả năng trở thành giàu có.

Ngoài ra, các chế độ dân chủ còn thường có nhiều lợi thế kinh tế khác so với hầu hết các chế độ phi dân chủ. Thứ nhất, các nước dân chủ luôn khuyến khích người dân học tập và một lực lượng lao động có tri thức luôn là điều thuận lợi cho cải tiến và tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, nguyên tắc pháp quyền (rule of law[9]) trong các nước dân chủ thường được duy trì tốt hơn, toà án cũng độc lập hơn, quyền sở hữu được bảo đảm hơn, các thoả thuận có tính khế ước (hợp đồng) được thực thi một cách hữu hiệu hơn; nhà nước và các chính khách khó có cơ hội can thiệp một cách tùy tiện vào hoạt động kinh tế hơn. Cuối cùng, các nền kinh tế hiện đại đều phụ thuộc nhiều vào hệ thống truyền thông, liên lạc, và trong khi đó ở các nước dân chủ những rào cản đối với giao thông liên lạc thường thấp hơn nhiều, đấy là nói so với những nước phi dân chủ. Việc tìm kiếm và trao đổi thông tin cũng diễn ra dễ dàng hơn, và ít nguy hiểm hơn rất nhiều so với các chế độ phi dân chủ.

Tóm lại, dù có vài ngoại lệ đáng ghi nhận ở cả hai bên, nói chung các nước dân chủ hiện đại thường tạo ra môi trường thân thiện hơn khiến người dân ở đó có được các lợi thế do nền kinh tế thị trường mang lại và đạt được tăng trưởng kinh tế dễ dàng hơn so với các chính thể phi dân chủ.

Nhưng, mặc dù mối quan hệ gần gũi giữa chế độ dân chủ hiện đại và nền kinh tế thị trường có lợi cho cả hai, chúng ta cũng không được bỏ qua cái giá khá đắt mà kinh tế thị trường tạo ra đối với chế độ dân chủ. Bởi vì kinh tế thị trường tạo ra bất bình đẳng về kinh tế, nên nó cũng có thể làm giảm cơ hội thiết lập quyền bình đẳng chính trị một cách đầy đủ cho người dân ngay trong một nước dân chủ. Chúng ta trở lại vấn đề này trong Chương 14.

LỢI ÍCH CỦA CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ: TÓM LƯỢC

Sẽ là sai lầm lớn nếu chúng ta đòi hỏi, trông chờ quá nhiều ở một chính quyền, kể cả là chính quyền dân chủ. Chế độ dân chủ không thể bảo đảm rằng công dân của họ sẽ là những người hạnh phúc, thịnh vượng, khỏe mạnh, khôn ngoan, thanh thản hoặc công bằng. Đấy là những mục tiêu nằm ngoài tầm tay của bất cứ chính quyền nào, kể cả chính quyền dân chủ. Hơn nữa, trên thực tế, chế độ dân chủ “luôn phải dừng bước khá xa trước những lý tưởng đó”. Giống như tất cả những cố gắng trong quá khứ nhằm tiến tới chính phủ dân chủ hơn, các chế độ dân chủ hiện đại cũng có nhiều khuyết tật.

Mặc dù có những khiếm khuyết như thế, chúng ta cũng đừng bao giờ được quên những lợi ích làm cho chế độ dân chủ là một chế độ đáng mong ước hơn bất kì sự lựa chọn khả dĩ nào khác.
1. Chế độ dân chủ giúp ta tránh được sự cai trị của những kẻ chuyên chế ác độc và xấu xa.
2. Chế độ dân chủ bảo đảm cho các công dân của nó một số quyền căn bản mà các hệ thống phi dân chủ không và không thể nào bảo đảm được.
3. Chế độ dân chủ bảo đảm cho các công dân của nó có những quyền tự do cá nhân rộng rãi hơn so với bất kì chế độ chính trị khả dĩ nào khác.
4. Chế độ dân chủ giúp người ta bảo vệ những quyền lợi căn bản của chính họ.
5. Chỉ có chính phủ dân chủ mới có thể tạo cơ hội tối đa để người ta tự do thực thi quyền tự quyết – tức là sống trong những luật lệ do chính họ lựa chọn.
6. Chỉ có chính phủ dân chủ mới có thể tạo cơ hội tối đa cho việc thực thi trách nhiệm về mặt đạo đức.
7. Chế độ dân chủ khuyến khích sự phát triển con người một cách đầy đủ hơn bất cứ chế độ chính trị khả dĩ nào khác.
8. Chỉ có chính quyền dân chủ mới có thể khuyến khích quyền bình đẳng chính trị ở mức độ tương đối cao.
9. Các chế độ dân chủ đại diện hiện đại không gây chiến với nhau.
10. Những nước dân chủ có xu hướng thịnh vượng hơn những nước phi dân chủ.
Với tất cả những lợi thế như thế, đối với hầu hết mọi người chúng ta, chế độ dân chủ là một cuộc chơi nhiều may, ít rủi hơn rất nhiều so với bất cứ chế độ chính trị khả dĩ nào khác.

 

_________________________

1. Những số liệu này được lấy từ tác phẩm của Robert Conquest: The Great Terror, Stalin’s Purge of the Thirties (New York: Macmilan, 1968), 525ff., và tài liệu do nhà sử học nổi tiếng người Nga, ông Roy Medvedev, sưu tầm (New York Times, February 4, 1989, 1).
2. Mỹ là ngoại lệ quan trọng, người da đen các bang miền nam không được quyền phổ thông đầu phiếu cho đến sau khi thông qua Civil Rights Acts vào năm 1964 – 1965.
3. Muốn tìm hiểu kĩ hơn, xin đọc James S. Fishkin, Tyranny and Legitimacy: A Critique of Political Theories (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1979).
4. Thycydides, The Peloponnesian War (New York: Modern Library, 1951), 105.
5. Từ anarchy có xuất xứ từ từ Hi Lạp anarchos nghĩa là không có người cầm quyền, gồm từ an cộng với từ archos nghĩa là người cầm quyền. Anarchism (chủ nghĩa vô chính phủ) chỉ học thuyết chính trị cho rằng nhà nước là không cần thiết và không đáng mong muốn.
6. John Stuart Mill, Consideration on Representative Government [1961] (New York: Liberal Art Press, 1958, 43, 55 [Đoạn này có hơi khác với bản dịch: John Stuart Mill, Chính thể đại diện, Nguyễn Văn Trọng dịch, Nhà xuất bản trí thức, 2008, trang 109, 128] – ND.
7. Phát hiện quan trọng này đã được Bruce Russet chứng minh trong tác phẩm: Controlling the Sword: The Democratic Governance of National Securiy (Cambridge: Havard University Press, 1990), chap. 5. 119 – 145. Trong phần sau tôi đã trích dẫn thảo luận của Russet. Điều này còn đúng đối với cả các chế độ dân chủ và cộng hoà trước đây. Xem Spencer Weart, Never at War: Why Democracies Will never Fight One Another (New Haven and London: Yale University Press, 1998).
8. Thương mại quốc tế gia tăng hướng các nước tới quan hệ hoà bình dù họ có là nước dân chủ hay phi dân chủ thì cũng thế. John Oneal and Bruce Russett, “The Classical Liberals Were Right: Democracy, Interdependence , and Conflict”, 1950 – 1985”, International Studies Quarterly 41, 2 (June 1997): 267 – 294.
9. Rule of Law được giới luật Việt Nam dịch là Pháp Quyền hay Nguyên Tắc Thượng Tôn Luật Pháp, còn Rule by law là thì được dịch là Pháp Trị.
Đi vào chi tiết, Pháp quyền hay Nguyên Tắc Thượng Tôn Luật Pháp (Rule of Law) có cả ba nghĩa: Rule according to law; rule under law; or rule according to a higher law. Trong nghĩa thứ nhất, “rule according to law” thì kẻ cầm quyền (chính phủ) không thể trừng phạt hình sự hay dân sự một người nào mà không nghiêm chỉnh tuân theo những thủ tục tố tụng và những đạo luật được hình thành một cách cẩn trọng và được định danh một cách rõ ràng. Trong nghĩa thứ hai Rule under law, không một ngành nào của chính phủ được đứng trên luật pháp, và không một viên chức công quyền nào có thể hành xử một cách độc đoán hay đơn phương, đứng ngoài luật pháp. Hay nói một cách ngắn gọn, “Không ai được đứng trên luật pháp”. Trong nghĩa thứ ba, rule according to the higher law, thì chính quyền không thể cưỡng hành một đạo luật thành văn nào nếu đạo luật đó không phù hợp với một số nguyên tắc bất thành văn, phổ quát của sự công bằng, đạo đức, và công lý là những nguyên tắc đứng trên mọi hệ thống luật pháp do con người tạo lập.
Còn nguyên tắc Pháp trị (Rule by law), tức nguyên tắc luật pháp phục vụ nhà cầm quyền. Trong chế độ đó nhà vua hay tập đoàn cai trị đứng trên luật pháp, vua chính là luật pháp (king is law). Chính những học giả phương tây cũng công nhận hai cụm từ Rule of law (Pháp quyền) và Rule by law (Pháp trị) đã tạo ra nhầm lẫn vì bề ngoài có vẻ tương tự về từ vựng. Rule by law (Pháp trị) hoàn toàn khác và đối nghịch với Rule of law Pháp quyền). Kẻ cầm quyền cai trị bằng nguyên tắc Pháp trị không phải vì luật pháp cao hơn họ mà vì làm như thế có lợi cho họ. Với nguyên tắc Pháp trị thì luật pháp ở tầng cao hơn và kẻ cầm quyền phải tuân thủ; còn trong chế độ Pháp trị thì kẻ cầm quyền dùng luật pháp như một phương tiện có lợi nhất cho họ để thống trị.
Cả hai cụm từ Pháp Quyền và Pháp Trị trong tiếng Việt đều có ý nghĩa tích cực về mặt từ vựng, tức đều mang cho người đọc cảm giác một môi trường dân chủ. Trong khi trong tiếng Anh, Rule of law (Pháp quyền) có ý nghĩa tích cực, có tính dân chủ; trái lại Rule by law (Pháp trị) có ý nghĩa tiêu cực, độc tài, hay dân chủ giả hiệu. (Theo tài liệu của luật gia Nguyễn Tường Tâm) – ND.

Advertisements


Chuyên mục:Trên kệ sách

Thẻ:, , ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: