Nhân đọc Thi Vũ*
Nửa sau thế kỷ XX của Việt Nam là một cơn địa chấn tinh thần lớn chưa từng có. Không những chiến tranh làm đổ vỡ xã hội mà sâu xa hơn, toàn bộ nền tảng ý thức của con người Việt Nam bị rung chuyển dữ dội giữa Đông và Tây, giữa truyền thống và hiện đại, giữa đức tin và hư vô. Trong cơn chuyển động ấy, nhiều trí thức chọn đứng về phía học thuật, nhiều người khác nghiêng hẳn về chính trị hay văn nghệ. Nhưng Phạm Công Thiện lại bước vào lịch sử như một tâm thức nổi loạn siêu hình. Ông không đơn thuần đặt câu hỏi về xã hội hay văn chương. Ông đặt câu hỏi về chính nền tảng hiện hữu của con người.
Bấy giờ, nếu đọc Phạm Công Thiện chỉ bằng nhãn quan văn học sẽ không đủ thấm vào đâu. Và đọc chỉ như một hiện tượng “ngông cuồng trí thức” thì lại càng không đủ. Những ai tiếp cận ông mà không có căn bản về Phật học, Thiền học, hiện sinh luận hay truyền thống siêu hình Đông phương thường chỉ nhìn thấy nơi Phạm Công Thiện một cường độ ngôn ngữ mãnh liệt, một bản ngã quá lớn hay một sự phá phách thần tượng không ngừng nghỉ. Nhưng phía dưới lớp dung nham ấy là một bi kịch tâm linh sâu xa hơn nhiều, đó chính là bi kịch của một con người bị ám ảnh bởi tuyệt đối tính.
Có lẽ nhận xét của Henry Miller rằng Phạm Công Thiện là “một người égocentrique” không sai. Nhưng nếu chỉ giới hạn ở đó, ta sẽ bỏ lỡ điều quan trọng nhất. Trong Phật học Đại thừa, đặc biệt nơi truyền thống Bát Nhã và Trung Quán, hành trình phá chấp không luôn diễn ra trong sự quân bình thanh thản. Có những tâm thức phải đi qua bão tố của ngã chấp cực độ rồi mới có cơ hội nhìn thấy tính Không. Không ít hành giả trong lịch sử Thiền tông từng xuất hiện như những kẻ điên, những người đập vỡ mọi định nghĩa quen thuộc về chân lý. Dĩ nhiên, không phải mọi nổi loạn đều dẫn tới giác ngộ. Nhưng cũng không thể dùng tiêu chuẩn đạo đức thông thường để phán xét toàn bộ một hành trình tâm linh phức tạp.
Sai lầm lớn nhất của nhiều người đọc Phạm Công Thiện là đọc ông như đọc một triết gia hệ thống. Thật ra ông chưa bao giờ là nhà hệ thống tư tưởng. Ông gần với một “kinh nghiệm tinh thần” hơn là một “học thuyết”. Văn chương ông không vận hành như luận lý học hàn lâm kiểu Tây phương mà như một dòng ý thức hiện sinh bị nung chảy bởi Phật học, Thiền học, Nietzsche, Rimbaud, Dostoievsky, Heidegger và cả những khủng hoảng nội tâm riêng tư của chính mình. Vì vậy, nơi ông luôn có sự va đập dữ dội giữa dục tính và siêu thoát, giữa bản năng và tính Không, giữa bản ngã và khát vọng hủy diệt bản ngã.
Đó là lý do vì sao cùng nói về thân xác và tình dục, Henry Miller lại có vẻ tự tại hơn Phạm Công Thiện. Trong Miller, dục tính nhiều khi là sự hòa giải với đời sống. Nhưng trong Phạm Công Thiện, dục tính thường mang màu sắc nghiệp thức, tội lỗi, lưu đày và khát vọng cứu chuộc. Điều này không chỉ thuộc phạm vi tâm lý cá nhân mà còn phản ánh cuộc khủng hoảng tinh thần của một lớp trí thức Việt Nam bị xé đôi giữa truyền thống Á Đông và chủ nghĩa hiện sinh phương Tây.
Nhưng chính nơi đó, Phật học trở thành chiếc chìa khóa quan trọng để hiểu Phạm Công Thiện.
Nếu không hiểu khái niệm “tính Không”, người đọc sẽ tưởng Thiện chỉ đang phá phách ngôn ngữ. Nếu không hiểu tinh thần “vô trụ”, người đọc sẽ thấy ông mâu thuẫn liên tục. Nếu không có kinh nghiệm tối thiểu về Thiền học, người đọc sẽ dễ lầm tưởng sự phủ định cực đoan nơi ông chỉ là thái độ chống đối tuổi trẻ. Thật ra, rất nhiều đoạn văn của Phạm Công Thiện là nỗ lực tuyệt vọng nhằm vượt khỏi cấu trúc nhị nguyên của tư duy thông thường. Ông không những chống xã hội hay chống tri thức. Ông chống luôn cái “ngã” đang bám víu vào tri thức ấy.
Tuy nhiên, phải chăng đây cũng chính là giới hạn bi thảm của Phạm Công Thiện. Ông nhìn thấy vực thẳm của bản thể, nhưng không phải lúc nào cũng đi qua được vực thẳm ấy bằng sự an trú nội tâm. Đó là khác biệt giữa một thiên tài hiện sinh và một hành giả giải thoát. Một vị thiền sư có thể bước qua hư vô để trở về với tịch tĩnh. Trong khi đó, nhiều lúc tưởng như Phạm Công Thiện vẫn bị hút ngược vào chính cơn lốc của ý thức mình. Cho nên nơi ông luôn có ánh sáng lớn, nhưng đồng thời cũng có bóng tối lớn.
Và chính điều đó làm ông trở thành hiện tượng đặc biệt của tư tưởng Việt Nam hiện đại.
Trong truyền thống Phật giáo, người ta thường nhắc tới trí tuệ như một trạng thái tĩnh lặng. Nhưng lịch sử cũng cho thấy có những tâm thức đi tới trí tuệ bằng con đường cháy bỏng hơn, nghĩa là họ bị nhận thức thiêu đốt trước khi tìm được bình an. Phạm Công Thiện dường như thuộc về loại người này. Ông không phải một “thánh nhân văn hóa” như nhiều người thần tượng hóa. Nhưng ông cũng không chỉ là một kẻ ngông cuồng trí thức như nhiều người phê phán.
Ông là một biểu hiện của cuộc khủng hoảng siêu hình Việt Nam trong thế kỷ XX.
Bởi thế, muốn hiểu được ông, điều cần thiết không phải trước tiên là đồng ý hay phản đối mà là phải đủ chiều sâu nội tâm để thấy vì sao một con người có thể vừa khao khát giác ngộ, vừa bị bản ngã giày vò đến như thế. Chỉ khi ấy, người đọc mới nhận ra rằng bên dưới những câu chữ cuồng nhiệt kia không chỉ có triết học, mà còn có tiếng kêu cô độc của một linh hồn đi tìm đường thoát khỏi chính mình.
Bấy giờ – chỉ kiến cuồng diệm, bất kiến đăng tâm – chỉ thấy ngọn lửa cuồng loạn mà không thấy tim đèn. Đối với những tâm thức bị tuyệt đối tính thiêu đốt, lời phê bình hời hợt thường chỉ làm lộ chiều sâu giới hạn. Do đó, có những phê bình tưởng sắc bén, nhưng thật ra chỉ là phản ứng tự vệ của một nhận thức không đủ tầm để bước vào chiều sâu của kẻ khác. Khi một người chỉ còn nhìn thấy ngông cuồng, bản ngã và hỗn loạn nơi Phạm Công Thiện, điều đó đôi khi không nói lên giới hạn của ông, mà nói lên giới hạn của chính họ, chưa từng đi đủ xa trong cô độc tinh thần để hiểu vì sao có những linh hồn phải tự thiêu giữa tư tưởng và hư vô.
Phật lịch 2570 – Mai Cốt Thảo Đường
11.05.2026
LÔI AM
_________________________
* Thư tín giữa Thi Vũ & nhà sáng lập gio-o, phổ biến trên trang Nguyễn Trường Trung Huy: “Thiện viết văn rất có lửa, hấp dẫn và lôi cuốn. Song lôi cuốn người ta đi về đâu là chuyện khác. Huệ nhận xét đúng cái Knowledge của Thiện làm ngưới đời sợ và thán phục. Song ngày nay giỏi ngoại ngữ hơn người Việt sẽ bớt say. Thực ra, Thiện là fan, là âm bản (không thanh thản) của Henry Miller, cho nên văn chương Thiện rập khuôn Henry Miller. Tuy nhiên đọc Henry Miller anh thấy ông ta siêu thoát, thong dong, tự tại, dù chỉ viết những cuộc làm tình. Cũng cái sex ấy vào Thiện trở nên bi kịch, tội lỗi và nhầy nhụa.
Thời Thiện ở với anh năm 66, viết thư đều cho Henry Miller tự xem mình là Rimbaud đầu thai. Nghe thế mãi thời gian sau Miller viết cho Thiện: Tại sao Rimbaud mà không là Vivekananda ? Thiện liền lục các sách trong nhà anh tìm đọc Vivekananda và Ramakrihsna, rồi vui mừng =: ‘Ông Ái tôi là hiện thân của Vivekananda đây !’. Chúa, Phật, Khổng Lão… nằm dưới gót chân Thiện, nhưng Henry Miller thì chưa bao giờ bị Thiện truất ngôi. Cho nên dù đòi đập vỡ hết thần tượng nhưng chỉ để dựng lên một thần tượng khác.
Một hai năm sau Henry Miller đến thăm anh ở Paris nhân kỳ triển lãm tranh, anh mới bật ngửa người nhận ra ông này là một thứ thiền sư và ông xem Thiện như học trò, không như Thiện viết ngang ngửa với Henry Miller. Henry Miller nói với anh ‘Thiện là một người égocentrique’. Lúc ấy anh chợt hiểu cái vụ Rimbaud / Vivekananda chỉ là một công án Miller giăng ra để triệt tiêu cố tín trong đầu óc Thiện.”