Nguyên Tường (1995): Hòa Thượng Thích Quảng Độ, con người dẫn đường Lịch Sử

NGUYÊN TƯỜNG: Con người dẫn đường lịch sử không phải là con người nằm trong lịch sử, không phải là con người viết ra lịch sử, cũng không phải những con người làm nên lịch sử. Lịch sử là lịch sử. Con người là con người. Lịch sử không thể là từng bộ phận con người. Lịch sử là toàn bộ dòng sống của con người. Một dòng sống hỗn tạp giữa thiện và ác, giữa giả và chân, giữa u mê và tỉnh mộng… Lịch sử chỉ ghi lại dòng sống một cách rất thiếu sót, rất thiên vị theo từng sở kiến lệch lạc.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ, con người dẫn đường lịch sử.

Con người dẫn đường lịch sử vì thế là con người dẫn đường cho sự sống đích thật của loài người, con người nhập thế toàn diện để cùng loài người phá vỡ mọi gông cùm nô lệ—nô lệ bởi tất cả những gì loài người tạo ra đày đọa loài người, nô lệ bởi tất cả hành hoạt chối bỏ tự thể loài người khiến ngày càng xa rời Phật Bản, nô lệ bởi tất cả những chủ nghĩa hư vô đẩy – loài người vào tuyệt lộ.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ, con người dẫn đường lịch sử.

Quảng Độ là dụng lực của Trí Độ, của Bổ Đề Tâm, của Đại Từ Bi Tâm, của sự vượt thoát phạm trù sống và chết loài người để hoàn toàn trực nhập với khổ đau liên lỉ kiếp người mà độ thoát tất cả bừng tỉnh mộng.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ hiện nay là hóa thân của muôn ngàn Quảng Độ trong hơn hai ngàn năm trăm năm Đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam, trong hơn ba mươi năm “Ý thức về nguồn được khởi đi từ nguồn” của GHPGVNTN.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ hiện nay đích thực là cốt tủy tâm thức VƯỢT thoát của tất cả chúng ta, trong từng niệm lực nguyện cầu an lạc nên chối bỏ tất cả những gì hủy thể đã thôi thúc ý lực trở thành khẩu lực và thân lực mà hợp thành một thứ Vô Biểu Sắc khủng  khiếp từ hố thẳm vọt bắn lên bùng vỡ chế độ Độc Tàn Đảng Trị Cộng Sản Việt Nam.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ, con người dẫn đường lịch sử.

Đất nước Việt Nam hiện tại là một đất nước điêu linh, hoang tàn và xơ xác. Những lộng lẫy xa hoa nếu có phủ đầy cũng chỉ là lớp phục sức diêm dúa bề ngoài không đủ che đậy nổi những hơi thở băng hoại tâm hồn, những đọa lạc tâm linh, những rách nát tâm thức của Đảng Cộng Sản Độc Tàn Hà Nội điên cuồng phá hủy tất cả độc lập và tự do của toàn thể dân chúng Việt Nam.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ là nạn nhân như triệu triệu nạn nhân bi thảm của chế độ, một nạn nhân bi thảm mà không hề bi quan đóng cửa cách thế tuyệt trần hay bi lụy cúi lòn bạo lực ước mong được sống còn… Dầu cánh cửa Thanh Minh Thiền Viện bị khóa chặt, dầu xác thân bao lần bị tù đày trong lao ngục thì hoạt dụng Vô Biểu Sắc của Ngài vẫn đã theo gió tung rãi khắp không gian dội vào vực thẳm thành muôn ngàn tiếng vọng thách thức bạo quyền.

Vọng rằng: “Hãy nắm bắt cho được tâm tôi, hãy tiêu diệt cho được tâm tôi nếu không thì tất cả người Việt Nam đích thật Việt Nam, những con người có tình còn trí và dư thừa ý chí sẽ không bao giờ khuất phục mà lùi bước trên con đường tìm về Phật Bản, tạo phồn vinh thật sự cho đất nước.”

Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã là con người dẫn đường lịch sử và tất cả chúng ta phải là những con người dẫn đường lịch sử!

_________________________________

HT. Quảng Ðộ gửi thư cho ông Ðỗ Mười Tổng Bí thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam, lên án Cộng sản quá tàn ác đã giết sư phụ, sư bá, sư tổ của Hòa Thượng năm 1945, 1946 và 1954, và thân mẫu của HT. vô cớ cũng bị bắt đày ra Vũ Ðoài ở cùng với HT. và chết thảm vì quá thiếu thốn và rét mướt vào ngày 21-01-1985.

Sàigòn, ngày 19 tháng 8 năm 1994

Kính gửi Ông Ðỗ Mười
Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội

Thưa Ông Tổng Bí Thư,

Tôi ký tên dưới đây là Thích Quảng Ðộ, tăng sĩ Phật Giáo, xin trình bày với ông mấy việc sau:

Sư Phụ, Sư Bá Bị Sát Hại

Cũng ngày hôm nay, cách đây 49 năm, sư phụ tôi là Hòa Thượng Thích Ðức Hải, trụ trì chùa Linh Quang, xã Thanh Sam, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Ðông, đã bị cộng sản giết chết vào hồi 10 giờ sáng ngày 19-8-1945 (tức ngày 12 tháng bảy năm Ất Dậu), ngày cách mạng thành công, trên bãi cỏ trước đình làng Bặt, thuộc phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Ðông, cách chùa sư phụ tôi hai cây số, vì bị gáng cho tội “Việt gian bán nước”.

Sư bá tôi (tức anh trong đạo của sư phụ tôi) là Hòa Thượng Thích Ðại Hải, trụ trì chùa Pháp Vân (chùa Dâu) thuộc tỉnh Bắc Ninh, cũng bị cộng sản bắt vào năm 1946 và sau đó chết vì tội là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng.

Sư tổ tôi (tức ông nội trong đạo) pháp húy Thích Thanh Quyết trụ trì chùa Trà Lũ Trung, phủ Xuân Trường tỉnh Nam Ðịnh, năm 1954, cộng sản vào chùa bảo Tổ tôi là dùng thuốc phiện tôn giáo ru ngủ nhân dân, sẽ bị quy định thành phần và đưa ra đấu tố. Tổ tôi sợ quá phải tự thắt cổ chết trước.

Thân mẫu đã chết thảm

Nay đến lượt tôi đã bị cộng sản bỏ tù tại nhà tù Phan Ðăng Lưu từ ngày 6-4-1977 đến ngày 12-12-1978, và bị đưa ra lưu đày tại xã Vũ Ðoài huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình từ ngày 25-2-1982 vì tội “Làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị”. Ðến ngày 10-2-1982 thì mẹ tôi cũng bị co6.ng sản bắt đưa ra xã Vũ Ðoài để đày cùng viới tôi không biết vì tội gì, và mẹ tôi đã chết một cách thê thảm vào ngày 14 tháng mười hai năm Ất Sửu (tháng Giêng 1985) vì quá thiếu thốn và rét mướt. Còn lại một mình tôi, tôi thấy không thể để cho mình cứ tiếp tục bị đày ải một cách vô tội, vô thời hạn, vô lương tâm, nên ngày 22-3-1992 (tức đã bị đày 10 năm 27 ngày), sau khi báo cho Bộ Công An ở hà Nội biết, tôi đã trở về Sàigòn và đến nơi vào ngày 25-3-1992. Ðến ngày 24-4-1992, tôi nhận được lệnh của sở Công An thành phố trục xuất tôi về miền Bắc, nhưng tôi đã không tuân hành mệnh lệnh phi lý ấy, không phải vì tôi ham ở miền Nam mà sợ miền Bắc, người tu hành ở đâu cũng được, không sợ khổ cực nhưng phải làm cho đúng luật pháp. Bởi vì tôi là người vô tội, có đầy đủ mọi quyền công dân, không ai có quyền ưa thì cho ở, ghét thì đuổi đi một cách tùy hứng như năm 1982 được. Nếu tôi có tội thì cứ chiếu theo luật pháp hiện hành, truy tố ra tòa xét xử phân minh, tôi sẽ tuiân hành phán quyết của tòa án. Tôi là một công dân có ý thức, chỉ mong được sống đúng theo luật pháp và cũng được cai trị đúng theo luật pháp, thế thôi, chứ tôi không mong gì hơn cả, vì được như thế cũng là may mắn lắm rồi.

Thưa ông Tổng Bí Thư, sở dĩ tôi kể lại những cái chết đau thương thê thảm của những bậc thân quý nhất trong đời tôi trên đây. Và sự giam cầm đày đọa đối với bản thân tôi suốt mười mấy năm, là để chứng tỏ rằng tôi có đủ tư cách nhân danh những nạn nhân của cộng sản gửi đến ông bản Nhận Ðịnh đính kèm, trong đó, tôi đã minh oan cho Sư phụ tôi và nói lên những sai lầm to lớn của đảng Cộng Sản Việt nam đối với Dân tộc nói chung và đối với Phật giáo nói riêng. Tôi hoàn tàn chịu trách nhiệm về những điều tôi nói và sẵn sàng nhận lãnh mọi hậu quả mà có thể dẫn dến cái chết thê thảm như Sư tổ tôi, Sư bá tôi, như mẹ tôi và như Quan-Kỳ-Thư chết về tay Trịnh Vương là cùng.

Chủ Nghĩa Cộng Sản Sẽ Hết

Nhưng dù có bị giết chăng nữa thì tôi cũng cứ nói lên niềm tin vững chắc của tôi là chủ nghĩa cộng sản sẽ không còn tồn tại lâu dài. Không phải bây giờ tôi mới có niềm tin ấy, mà nó đã nảy sinh trong tôi ngay từ lúc 10 giờ sáng ngày 19-8-1945 (hồi dó tôi 18 tuổi) khi tôi nhìn Sư phụ tôi, hai tay bị trói bằng dây kẽm quặt về phía sau, cổ đeo hai tấm biển viết mấy chữ “Việt gián bán nước”, một tấm trước ngực một tấm sau lưng đứng giữa sân đình làngh Bặt, hai bên một đoàn người tay cầm gậy gộc giáo mác, cu liêm bồ cào đứng canh gác. Một nhóm người mệnh danh là quan tòa của Toà Án Nhân Dân đứng trên thềm đình để xử án. Họ bắt Sư phụ tôi quỳ xuống sân đình và cúi đầu nghe luận tội. Nhưng Sư phụ tôi không chịu làm thế. Một người từ trên thềm bước xuống đứng trước mặt Sư pụ tôi, nói: “Mầy là thằng việt gian bán nước mà còn ngoan cố à?”. Nói xong họ đấm vào quay hàm Thầy tôi mấy cái, một dòng máu từ trong miệng Sư phụ tôi ứa ra, chảy theo cầm nhỏ xuống, thấm đỏ tấm biển “Việt Gian bán nước” ở trước ngực. Lập tức họ tuyên án tử hình rồi đưa Sư phụ tôi ra bãi cỏ trước đình. Khi đến bãi cỏ, họ vật Sư phụ tôi nằm nghiêng xuống rồi một người bắn vào mang tai Sư phụ tôi ba phát súng lục, lại một dòng máu tươi phun lên thẳng tắp và Sư phụ tôi chết liền tại chỗ. Dòng máu ấy với hình ảnh Sư phụ tôi bị trói nằm chết trên bãi cỏ máu me đầy mặt, hai tấm biển “Việt gian bán nước” thấm máu, hai bàn chân thấm máu, máu vương lên bãi cỏ, chỗ nào cũng thấy máu. Tất cả những hình ảnh ấy đến nay 49 năm rồi mà tyôi vẫn còn nhớ như in và tưởng chừng như mới hôm nào đó thôi. Thật là một cơn ác mộng.

Cộng Sản Quá Tàn Ác

Trong cơn đau đớn tột cùng và hai hàng nước mắt tuôn chảy, ngay từ giờ phút ấy, ngồi trên bãi cỏ nhìn xác Sư phụ tôi, tôi đã nghĩ cộng sản sẽ không tồn tại lâu dài, lý do: Cộng sản chủ trương câm thù đấu tranh giai cấp, đánh và giết người như thế là ác quá, mà cái ác thì thường không bền, lịch sử đã chứng minh điều đó. Bởi lẽ tâm lý người ta nói chung, tuyệt đại đa số yêu cái thiện ghét cái ác, mà cái người ta đã ghét thì khó tồn tại lâu được. Bảy mươi tư năm tồn tại (1917-1991) của chế độ cộng sản Liên Xô không phải là một thời gian dài nếu so với 215 năm tồn tại của triều đại nhà Lý tại Việt Nam mà, theo Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, là một triều đại thuần từ nhất trong lịch sử Việt Nam.

Nhân Dân Cần Phật Giáo

Thế rồi năm 1975, tôi lại nhận ra thêm một điều nữa, đó là: Theo luật tự nhiên đài thải, bất cứ cái gì, hể đáp ứng được nhu cầu của con người thì dù có chôn nó đi người ta cũng đào nó lên; trái lại cái gì không đáp ứng được nhu cầu của con người sẽ tự hủy diệt. Sau khi thực sự sống dưới chế độ cộng sản, tôi nhận thấy chủ nghĩa cộng sản không đáp ứng được nhu cầu của con người: Về tinh thần thì bị kìm kẹp, đàn áp, về vật chất thì nghèo khó, đói khổ, đến nỗi bây giờ phải đi học tư bản và theo kinh tế thị trtường, tghì cộng sản còn thực chất là gì, chỉ còn cái tên suông đó thôi. Sở dĩ cộng sản Ðông Âu và Liên Xô cũ tự hủy diệt là vì nó đã không đáp ứng được nhu cầu của con người. Không ai đánh phá tiêu diệt cộng sản, nhất là Phật giáo chẳng bao giờ đánh phá ai, mà trái lại phải luôn luôn chống đỡ sự đánh phá và đàn áp của cộng sản nhằm tiêu diệt Phật giáo.

Nhưng, như tôi đã nói ở trên, theo luật tự nhiên đào thải, về một phương diện nào đó, đạo Phật vẫn còn đáp ứng được nhu cầu của con người, cho nên khó tiêu diệt lắm. Bằng cớ là tại miền Bắc hiện nay, những ngôi chùa trước kia đã bị cộng sản phá hủy, trừ những ngôi đã bị san bằng làm ruộng cấy lúa thì thôi, những ngôi nào còn nền cũ trên đất cao, thì nhân dân đã dựng lên mấy gian nhà tranh, xã nào khá hơn thì làm vài ba gian gạch lợp ngói tây (vì ngói cỗ của tổ tiên đã bị đập phá hết rồi) để có chỗ thờ Phật. Những kinh sách in bằng tiếng Việt trước kia đã bị đốt hết, vì cộng sản cho là “Văn hóa đồi trụy”. Nay nhân dân vào miền Nam mua kinh đưa ra rồi chép tay chuyền cho nhau đọc tụng. Như vậy chứng tỏ nhân dân vẫn còn cần đến Phật giáo, trong khi đó, theo chỗ tôi biết, từ sau năm 1954, tại miền Bắc, nhà nào cũng phải treo chân dung của lãnh tụ cộng sản quốc tế “vĩ đại”, như Karl Marx, Lénine, Stalin, Malenkov, Mao Chủ Tịch, Kim Nhật Thành… Nhưng năm 1982 tôi bị đưa ra ở xã Vũ Ðoài, tôi không thấy nhà nào treo nữa, kể cả các nhà đảng viên !

Ðể Tang Kim Nhật Thành Mà Quên Tổ Quốc

Riêng ông Kim Nhật Thành của Bắc Triều Tiên thì mới chết gần đây là đảng Cộng Sản Việt Nam đã dành trọn ngày 17-7-1994 để “quốc táng” cho ông ấy. Tôi thiết nghĩ nếu ông Kim Nhật Thành đã giúp đỡ gì cho đảng Cộng Sản Việt Nam, hoặc vì tình “Anh em như môi với răng” giữa những nngười cộng sản quốc tế với nhau, thì chỉ Ðảng là một triệu tám trăm nghìn đảng viên để tang ông ấy thôi, chứ ông Kim Nhật Thành đã làm gì cho đất nước Việt Nam mà bảy mươi triệu nhân dân Việt Nam có là đảng viên đảng cộng sản cả đâu mà Ðảng bắt toàn dân phải để tang ấy, dù chỉ là một ngày! Thế sao đảng Cộng Sản Việt Nam không làm một ngôi đền thật lớn ở ngay Hà Nội để thờ Tổ Hùng Vương và tuyên bố lấy ngày 10 tháng ba âm lịch – ngày giỗ tổ – làm ngày Quốc lễ nghỉ trọn ngày để cho toàn dân có dịp tưởng nhớ tới công ơn của Ðức Quốc Tổ và các bậc tiền bối đã có công mở nước và dựng nước, nhờ thế ngày nay mới có đảng Cộng Sản Việt Nam ? Mồ cha mình sao mình không khóc ! Ông Kim Nhật Thành là người ngoại chủng thì đảng Cộng Sản Việt nam đối đãi như thế, còn đối với những người đồng bào đồng chủng với nhau thì Cộng Sản Việt Nam lại bắn giết. Cứ mỗi khi tôi nhớ đến hình ảnh của Sư phụ tôi bị đánh, bị bắn ở trước đìng làng Bặt là lòng quặn đau, xót xa tủi hổ cho nòi giống Lạc Hồng bốn nghìn năm văn hiến.

Hơn nữa, hàng trăm nghìn người Việt Nam đã bị giết trong cuộc đấu tranh giai cấp, cải cách tố khổ năm 1956 tại miền Bắc, mặc dù sau đó đảng cộng sản đã sửa lại, xin lỗi (tức đã giết lầm), nhưng Ðảng đã làm “quốc tang” cho họ chưa? Rồi còn không biết bao nhiêu người Việt nam tỵ nạn đã chết đuối ngoài biển khơi từ 30-4-1975 thì sao ? Ai để tang họ ? Nếu toàn dân Việt nam phải để tang, thì để tang những người ấy, chứ không để tang ông Kim Nhật Thành của Bắc Triều Tiên!

Trân trọng kính chào ông Tổng Bí Thư.

Nay kính,
Thích Quảng Độ
Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

Bản sao kính gửi:

  • HT. Thích Huyền Quang Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN
  • GHPGVN các cấp trong nước và ngoài nước
  • Quý vị lãnh đạo các tôn giáo bạn

“để kính tường”



Chuyên mục:Nhân vật - Sự kiện, Nhân vật, Sự kiện, Tưởng niệm, Tưởng niệm

Thẻ:, ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: