Nghị quyết 427 của Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ và Nghị quyết của Quốc Hội Châu Âu.

 

HRES 427 IH
108th CONGRESS

1st Session

H. RES. 427

Expressing the sense of the House of Representatives regarding the courageous leadership of the Unified Buddhist Church of Vietnam and the urgent need for religious freedom and related human rights in the Socialist Republic of Vietnam.

IN THE HOUSE OF REPRESENTATIVES

October 30, 2003

Ms. LORETTA SANCHEZ of California (for herself, Mr. SMITH of New Jersey, Ms. LOFGREN, Mr. TOM DAVIS of Virginia, and Mr. ROYCE) submitted the following resolution; which was referred to the Committee on International Relations

RESOLUTION

Expressing the sense of the House of Representatives regarding the courageous leadership of the Unified Buddhist Church of Vietnam and the urgent need for religious freedom and related human rights in the Socialist Republic of Vietnam.

Whereas Buddhism has a 2,000-year tradition in Vietnam and the Unified Buddhist Church of Vietnam (UBCV) is an heir to this tradition;

Whereas the Government of Vietnam in 1981 declared the UBCV, the largest religious denomination in the country, illegal, confiscated its temples, and persecuted its clergy for refusing to join the state-sponsored Buddhist organizations;

Whereas the Government of Vietnam has often imprisoned UBCV clergy and subjected them to other forms of persecution; the Patriarch of the UBCV, the 85-year-old Most Venerable Thich Huyen Quang, has been detained for 21 years in a decrepit temple in an isolated area of central Vietnam;

Whereas the Vietnamese Government has held the Most Venerable Thich Quang Do, the Executive President of the UBCV and his deputy, the Venerable Thich Tue Sy, in various forms of detention since 1977;

Whereas the Very Venerable Thich Thien Minh, Supreme Counselor of the UBCV, was tortured to death in a reeducation camp in 1978;

Whereas many other leading UBCV figures, including Thich Thien Hanh, Thich Phuoc An, Thich Dong Tho, Thich Vien Dinh, Thich Thai Hoa, Thich Nguyen Ly, Thich Thanh Huyen, Thich Khong Tanh, Thich Phuoc Vien, Thich Hai Tang, Thich Dong Tho, Thich Nguyen Vuong, Thich Chi Mau, Thich Chi Thang, and Thich Thanh Quang have been detained, harassed, and under tight surveillance;

Whereas several members of the UBCV have fled to Cambodia to escape religious repression and harassment;

Whereas Thich Tri Luc was kidnapped in Cambodia by Vietnamese authorities after being given refugee status by the United Nations High Commissioner for Refugees (UNHCR), forcibly repatriated, and held incommunicado for a year, and now stands charged with the vague crime of
fleeing abroad or defecting overseas with the intent to oppose the people’s administration’ that carries the possible sentence of life imprisonment;

Whereas Vietnam has acceded to international covenants and treaties that prohibit the forced repatriation of UNHCR-recognized refugees;

Whereas Vietnam has acceded to international covenants and treaties that protect the right to faith, belief, and practice;

Whereas Vietnam’s constitution protects the right of religious belief;

Whereas in a show of religious tolerance, the Vietnamese Government in April 2003 allowed the Most Venerable Thich Huyen Quang, the Fourth Supreme Patriarch of the UBCV, to receive urgent medical care in Hanoi;

Whereas at that time, Vietnamese Prime Minister Phan Van Khai met with Venerable Thich Huyen Quang and assured him that his and Venerable Thich Quang Do’s detention were mistakes by local officials and that he hoped they would extend Buddhist forgiveness toward past actions of the government;

Whereas in June 2003, the Vietnamese Government ended the detention order against Venerable Thich Quang Do, the Executive President of the UBCV;

Whereas in September and October 2003, the UBCV held a meeting in Nguyen Thieu Pagoda in Binh Dinh province to discuss church affairs, choose a new leadership which had been vacant for a decade, and verify Vietnamese Prime Minister Phan Van Khai’s promise of a new era of understanding and respect;

Whereas Vietnamese authorities attempted to disrupt these gatherings by restricting the travel of monks from other provinces and then intimidating those attending;

Whereas on October 8, 2003, Vietnamese authorities initiated a tense standoff following the meeting, where police stopped a vehicle carrying the UBCV’s new leadership and subsequently detained the eleven passengers;

Whereas Venerables Thich Huyen Quang and Thich Quang Do were taken to their respective pagodas where they have been effectively isolated and detained; four senior monks, the Venerable Thich Tue Sy, Thich Thanh Huyen, Thich Nguyen Ly, and the UBCV Supreme Patriarch’s personal assistant, Venerable Thich Dong Tho, were immediately sentenced to 24 months of administrative detainment by written orders of the Ho Chi Minh City People’s Committee, and three others, the Venerables Thich Thien Hanh, Thich Thai Hoa, and Thich Nguyen Vuong to 24 months administrative detainment by
oral’ orders from various local authorities, in protest of which the Venerable Thich Thien Hanh initiated a hunger strike on October 19, 2003;

Whereas according to reports by the United States State Department, the United States Commission on International Religious Freedom, and the European Union, the Socialist Republic of Vietnam systematically limits the right of religious organizations to choose their own clergy; prior to the UBCV incidents, authorities tried to restrict the Vatican’s appointment of Archbishop Pham Minh Man to the position of Cardinal, but subsequently changed their position due to external pressure;

Whereas according to these same reports, the Socialist Republic of Vietnam uses house arrest and long prison sentences to punish individuals for practicing their faith, as evidenced also by the jail sentences handed down to Father Nguyen Van Ly, his three relatives, Christian Montagnards, and Hoa Hao Buddhists; and

Whereas because of systematic, egregious, and ongoing abuses of religious freedom, the United States Commission on International Religious Freedom recommended that the President of the United States designate Vietnam as a
country of particular concern’ under the provisions of the International Religious Freedom Act of 1998: Now, therefore, be it

Resolved, That the House of Representatives–

(1) congratulates the new leadership of the Unified Buddhist Church of Vietnam;

(2) urges the Government of Vietnam to respect the right of all independent religious organizations to meet, worship, operate, and practice their faith in accordance with Vietnam’s own constitution and international covenants to which Vietnam is a signatory;

(3) urges the Government of Vietnam to restore freedom to all Vietnamese citizens imprisoned or under house arrest for practicing their faith or for advocating freedom of religion, especially the Most Venerable Thich Huyen Quang and the Very Venerable Thich Quang Do;

(4) is committed to promoting religious freedom in Vietnam, and, in furtherance of this goal, urges the Congress to pass, and the President to sign into law, the Vietnam Human Rights Act, and urges the Congress and the executive branch to implement the recommendations of the United States Commission on International Religious Freedom; and

(5) urges the United States Embassy in Vietnam to closely monitor cases of abuse of religious belief and practice, routinely visit detained clergy members, especially those in need of medical care, and report to the Congress on specific measures taken to protect and promote religious freedom in Vietnam.

_____________________

DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT 427

Bày tỏ nhận thức của Hạ viện Hoa Kỳ đối với sự kiên cường của hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và nhu cầu khẩn thiết cho tự do tôn giáo và những nhân quyền liên đới tại Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

TẠI HẠ VIỆN

Ngày 30.10.2003

Nữ Dân biểu Loretta Sanchez (Quận Cam, bang California), Dân biểu Smith (bang New Jersey), Nữ Dân biểu Lofgren (San Jose, bang California), Dân biểu Tom Davis (bang Virginia), Dân biểu Royce (Quận Cam, bang California) đệ nạp trước Ủy ban Đối ngoại

NGHỊ QUYẾT

Xét rằng Phật giáo có truyền thống 2000 năm tại Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kế thừa truyền thống này;

Xét rằng năm 1981 Chính phủ Việt Nam tuyên bố bất hợp pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, là tôn giáo lớn nhất, tịch thu các chùa viện, khủng bố hàng giáo phẩm không chịu tham gia tổ chức Phật giáo do Nhà nước đỡ đầu;

Xét rằng Chính phủ Việt Nam thường xuyên bắt cầm tù hàng giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hoặc ngược đãi họ dưới nhiều hình thức ; Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, 85 tuổi, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, bị giam giữ 21 năm trong một ngôi chùa tồi tàn nơi đồng không mông quạnh ở miền Trung Việt Nam;

Xét rằng Chính phủ Việt Nam bắt giữ Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, và người phụ tá ngài, Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, qua nhiều cách giam cầm từ năm 197;

Xét rằng Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, Cố vấn Viện Hóa Đạo, đã bị tra tấn đến chết trong trại Cải tạo năm 1978;

Xét rằng nhiều giáo phẩm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, gồm có chư vị Thích Thiện Hạnh, Thích Viên Định, Thích Thanh Huyền, Thích Nguyên Lý, Thích Chí Mậu, Thích Chí Thắng, Thích Không Tánh, Thích Phước An, Thích Thái Hòa, Thích Phước Viên, Thích Hải Tạng, Thích Nguyên Vương, Thích Đồng Thọ và Thích Thanh Quang đã bị giam cầm, sách nhiễu, và bị theo dõi chặt chẽ;

Xét rằng một số thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phải lánh nạn sang Cam Bốt để tránh những cuộc đàn áp và sách nhiễu;

Xét rằng Thích Trí Lực bị nhà cầm quyền Việt Nam bắt cóc tại Cam Bốt sau khi vị này được Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc công nhận quy chế tị nạn, bị dẫn độ về Việt Nam và giam cầm bí mật trong vòng một năm, và nay sắp đưa ra xét xử với tội phạm mơ hồ “trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân” là điều có thể bị án tù chung thân;

Xét rằng Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế và các hiệp ước cấm cưỡng bức hồi hương những người tị nạn được Cao ủy Tị nạn LHQ công nhận;

Xét rằng Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế và các hiệp ước bảo vệ các quyền được có đức tin, tín ngưỡng và thực hành các đức tin ấy;

Xét rằng Hiến pháp Việt Nam bảo vệ quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng;

Xét rằng trong cuộc phô bày bao dung tôn giáo tháng 4 năm 2003, Chính phủ Việt Nam đã để cho Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Đức Tăng thống Đệ tứ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, ra Hà Nội chữa bệnh;

Xét rằng vào thời điểm ấy, Thủ tướng Việt Nam, Phan Văn Khải, đã tiếp Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang và trấn an rằng trường hợp giam cầm Hòa thượng và Hòa thượng Thích Quảng Độ là những sai lầm ở cấp địa phương và hy vọng Hòa thượng sẽ hỷ xả cho chính phủ về những sai lầm trong quá khứ;

Xét rằng tháng 6 năm 2003 Chính phủ chấm dứt lệnh quản chế Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất;

Xét rằng tháng 9 rồi tháng 10 năm 2003, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất họp tại Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định để thảo bàn Phật sự, chọn lựa nhân sự bổ sung sau hàng chục năm thiếu vắng, và cũng để thử xem lời hứa của Thủ tướng Phan Văn Khải mở ra kỷ nguyên mới cho sự thông cảm và tôn trọng lẫn nhau giá trị đến đâu;

Xét rằng Nhà cầm quyền Việt Nam thực hiện việc phá vỡ những cuộc hội họp nói trên bằng cách ngăn chận chư Tăng đến từ các tỉnh khác và hăm dọa những ai muốn phó hội;

Xét rằng ngày 8 tháng 10 năm 2003, Nhà cầm quyền Việt Nam khởi động cuộc tranh chấp đối đầu sau đại hội (nói trên), khi công an ngăn chận xe của hàng giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, sau đó giam giữ 11 hành khách trong xe;

Xét rằng Nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ bị dẫn độ về chùa riêng của họ mà thực tế là để cách ly và giam giữ tại các nơi này ; bốn vị Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Thích Thanh Huyền, Thích Nguyên Lý và thị giả của Đức Tăng thống, Đại đức Thích Đồng Thọ, tức khắc nhận Quyết định của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quản chế hành chính 24 tháng, còn ba vị khác, Hòa thượng Thích Thiện Hạnh, Thượng tọa Thích Thái Hòa, Đại đức Thích Nguyên Vương, thì các nhà cầm quyền địa phương ra lệnh bằng miệng quản chế 24 tháng, để phản đối việc này Hòa thượng Thích Thiện Hạnh bắt đầu tuyệt thực ngày 19.10.2003;

Xét rằng các phúc trình của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, của Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới, của Liên hiệp Âu châu, thì Cộng hòa Xã hộ Chủ nghĩa hạn chế một cách có hệ thống quyền chọn lựa hàng giáo phẩm của các tổ chức tôn giáo ; trước hết là các sự cố đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, rồi Nhà cầm quyền tìm cách giới hạn việc Tòa thánh La Mã phong chức Hồng y cho đức Tổng Giám mục Phạm Minh Mẫn, nhưng đã thay đổi nhờ các áp lực bên ngoài;

Xét rằng theo các phúc trình nói trên, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sử dụng quản chế tại gia và cầm tù dài hạn để trừng phạt những cá nhân thực hành tín ngưỡng của họ, bằng chứng là việc cầm tù Cha Nguyễn Văn Lý, ba người cháu của linh mục, tín hữu Tin Lành miền Núi, và Phật giáo Hòa Hảo; và

Xét rằng vì xúc phạm tự do tôn giáo một cách có hệ thống, quá mức và tiếp diễn, nên Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới đã đề nghị Tổng thống Hoa Kỳ chỉ định Việt Nam như “quốc gia cần đặc biệt quan tâm” theo những dự phòng của Đạo luật Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới năm 1998;

VÌ THẾ, NAY QUYẾT NGHỊ RẰNG:

HẠ VIỆN HOA KỲ

(1) chúc mừng hàng Giáo phẩm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mới được công cử;

(2) khuyến cáo Chính phủ Việt Nam tôn trọng quyền của các tổ chức tôn giáo độc lập được hội họp, thờ cúng, hoạt động, và thực hành niềm tin của họ phù hợp theo bản Hiến pháp của Việt Nam cũng như các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết;

(3) khuyến cáo Chính phủ Việt Nam trả tự do cho tất cả những công dân bị cầm tù hay quản chế vì đã thực hành tín ngưỡng hay vì phát biểu công khai ủng hộ tự do tôn giáo, đặc biệt như trường hợp của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ;

(4) tận lực làm thăng tiến tự do tôn giáo tại Việt Nam, và để đẩy mạnh tới mục tiêu này, khuyến cáo Quốc hội thông qua, và Tổng thống ký ban hành Đạo luật Nhân quyền để phát triển tự do và dân chủ tại Việt Nam, và khuyến cáo Quốc hội cùng cơ quan hành pháp thi hành những kế hoạch hành động của Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới; và

(5) khuyến cáo Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam theo dõi chặt chẽ các trường hợp bị đối xử tồi tệ vì lý do tôn giáo và thực hành các tín ngưỡng, và thường xuyên thăm viếng hàng giáo phẩm bị giam cầm, đặc biệt với những vị cần chăm sóc thuốc men, và phúc trình cho Quốc hội những biện pháp đặc thù để bảo vệ và thăng tiến tự do tôn giáo tại Việt Nam.

 

QUYẾT NGHỊ CỦA QUỐC HỘI ÂU CHÂU
VỀ VẤN ÐỀ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

(thông qua vào lúc 17 giờ ngày 20.11.2003 tại Strasbourg)

QUỐC HỘI ÂU CHÂU

– chiếu theo các Quyết nghị trước đây về Việt Nam, đặc biệt các Quyết nghị ngày 16.11.2000, ngày 5.7.2001 về vấn đề Tự do tôn giáo và ngày 15.5.2003,
– chiếu theo Hiệp ước Hợp tác Kinh tế thỏa thuận năm 1995 giữa Cộng đồng Âu châu và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, hiệp ước mà điều 1 xác lập nền tảng hợp tác căn cứ trên sự tôn trọng nhân quyền và các nguyên tắc dân chủ,
– chiếu các điều 69 và 70 trong Hiến pháp Việt Nam bảo đảm quyền tự do “theo hay không theo một tôn giáo nào”,
– chiếu điều 18 trong Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam tham gia ký kết, bảo đảm quyền tự do tôn giáo,
– chiếu hiệp ước hợp tác ký năm 1985 giữa Liên hiệp Âu châu và Việt Nam,
– chiếu Phúc trình về tình trạng nhân quyền trong thế giới năm 2002,
– chiếu theo văn kiện chiến lược giữa Cộng đồng Âu châu và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2002 – 2006,
– chiếu điều 50, đoạn 5, trong bản điều lệ,

A. Vì rằng, tự do tôn giáo là một trong những tự do cơ bản được tuyên xưng trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và bảo đảm qua nhiều Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia,

B. Nhấn mạnh tới Hiệp ước hợp tác giữa Liên hiệp Âu châu và Việt Nam đặt nền tảng trên sự tôn trọng các quyền cơ bản tuyên xưng trong những Công ước vừa kể,

C. Vì rằng, mặc bao lời tuyên bố không ngớt lập lại của nhà cầm quyền Việt Nam, thế nhưng tình trạng về các tự do cơ bản và, đặc biệt là tự do tôn giáo vẫn là mối lo lắng cực kỳ,

D. Vì rằng, tính chất đa chủng tộc, đa văn hóa và đa tôn giáo tại Việt Nam,

E. Vì rằng, những hy vọng nẩy sinh từ cuộc gặp gỡ hồi tháng tư đầu năm nay, giữa Thủ tướng Phan Văn Khải và Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, 86 tuổi, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, người đã trải qua 21 năm tù đày,

F. Vô cùng tiếc cho cuộc gặp gỡ bất ngờ nhưng gây động dư luận báo chí hôm 2 tháng 4 vừa qua giữa Thủ tướng Phan Văn Khải và Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (một giáo hội bị cấm đoán), lại tiếp diễn theo sau đó cuộc gia tăng đàn áp Giáo hội này, cũng như tiếp diễn cuộc đàn áp đối với các tổ chức tôn giáo không được công nhận khác, như Giáo hội Tin Lành của người miền Núi hay Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo,

G. Không hài lòng về quyết định quản chế Ðức Tăng thống Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, cũng như kết án ngay tức khắc hai năm quản chế các Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Thích Thanh Huyền, Thích Nguyên Lý, và Ðại đức Thích Ðồng Thọ, thị giả của Ðức Tăng thống theo Quyết định của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, và nhà cầm quyền ở Huế và ở thành phố Hồ Chí Minh lên án, bằng khẩu lệnh, hai năm quản chế bốn Tăng sĩ khác : Hòa thượng Thích Thiện Hạnh, các Thượng tọa Thích Viên Ðịnh, Thích Thái Hòa, Thích Nguyên Vương,

H. Vì rằng, tôn trọng nhân quyền là yếu tố chủ yếu của Hiệp ước hợp tác ký kết giữa Liên hiệp Âu châu và Việt Nam,

I. Vì rằng, sẽ có cuộc họp của “ủy ban giám sát” hiệp ước hợp tác giữa Liên hiệp Âu châu và Việt Nam,

J. Nhắc lại rằng việc kết án cha Nguyễn Văn Lý và ba người cháu của ngài, cũng như cuộc đàn áp không ngừng đối với người miền Núi theo Thiên chúa giáo và Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo,

K. Sự kiện cần lưu ý, là nhiều nhóm tôn giáo khác cũng bị chính quyền kiểm soát, dù rằng Hiến pháp Việt Nam bảo đảm mọi công dân có quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo,

QUỐC HỘI ÂU CHÂU

  1. Mạnh mẽ kết án đợt đàn áp mới vô cùng trầm trọng, trái với quyền tự do tôn giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và những người Thiên chúa giáo miền Núi, cũng như kết án chính sách có chủ ý mà chính quyền Việt Nam sử dụng để khai trừ các Gíao hội không được công nhận, đặc biệt làtrường hợp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ;2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam chấm dứt tức khắc những chính sách đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Giáo hội Công giáo, các dân tộc miền Núi theo Thiên chúa giáo và những tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, và chấp nhận tức khắc mọi cải cách cần thiết để bảo đảm cho các Giáo hội này có một quy chế hợp pháp ;

    3. Yêu cầu chính phủ ViệtNam trả tự do tức khắc cho mọi công dân Việt Nam đang bị cầm tù vì lý do tín ngưỡng, thực hành tôn giáo hay chỉ vì thiết tha với tự do tôn giáo, và tiên khởi là trả tự do cho Hòa thượng Thích Huyền Quang, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cùng người phụ tá của ngài là Hòa thượng Thích Quảng Ðộ ;

    4. Kêu gọi Nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng tự do tôn giáo của tất cả các đoàn thể tôn giáo và bảo đảm cho mọi người Việt Nam được quyền thực hành tôn giáo mà họ chọn lựa, kể cả quyền tự do cúng lễ hay hội họp, và yêu cầu thiết lập một hệ thống pháp lý độc lập với quyền lực chính trị ;

    5. Mời gọi Ủy hội Âu châu đưa vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam vào hàng đầu của nghị trình bàn thảo tại Hội đồng Hỗn hợp Liên hiệp Âu châu – Việt Nam vào ngày 21.11 này ở Bruxelles ;

    6. Mời gọi Hội đồng và Ủy hội Âu châu sử dụng mọi phương tiện chính trị và ngoại giao để chăm chú theo dõi sao cho tự do tôn giáo biến thành hiện thực tại Việt Nam ;

    7. Yêu cầu Ủy hội và Hội đồng Âu châu chăm chú theo dõi sao cho các điều khoản về nhân quyền trong các hiệp định và hiệp ước ký kết được tuân thủ ;

    8. Yêu cầu các vị đại diện ngoại giao của Liên hiệp Âu châu và các Quốc gia thành viên có mặt ở Việt Nam theo dõi tình cảnh của hàng giáo phẩm cao cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đang bị tù hay quản chế, chú tâm đặc biệt tới tình trạng tự do tôn giáo ở trong xứ và điều hợp mọi nỗ lực để thăng tiến cụ thể tự do này ;

    9. Khuyến cáo việc gửi một phái đoàn Quốc hội Âu châu đến Việt Nam, nhằm lượng định tình hình tôn giáo, đặc biệt là tình hình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, gặp gỡ hàng giáo phẩm lãnh đạo, trước hết là Ðức Tăng thống Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Ðộ ;

    10. Ủy nhiệm Chủ tịch Quốc hội Âu châu chuyển giao Quyết Nghị này đến Hội đồng Âu châu, Ủy hội Âu châu, đến Chủ tịch, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, đến Ðức Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và vị phụ tá của Ngài (Hòa thượng Thích Quảng Ðộ), đến ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc và Báo cáo viên Liên Hiệp Quốc đặc trách vấn đề tự do tôn giáo.



Chuyên mục:Nhân vật - Sự kiện, Nhân vật, Sự kiện

3 replies

  1. Chuyện đã qua rồi, bạn tìm khách hâm nóng lại hả?

    Số lượt thích

Trackbacks

  1. Thích Nguyên Đạt (1993): Lại Vấn Đề Tổ Chức Trong Đạo Phật – Uyên Nguyên

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: