Ngày giỗ của Ông, tôi không nghĩ đến một nhà thơ, mà nghĩ về một ngọn núi.
Không phải ngọn núi thuộc sơn hà địa vực hay đâu đó trong huyền thoại. Mà là một đỉnh cô phong đứng giữa quang cảnh văn học Việt Nam hiện đại, lặng lẽ hứng chịu nắng mưa thời gian, để rồi một ngày nào ta chợt nhận ra có nhiều cánh rừng ở chung quanh đã đổi thay, nhiều dòng sông đã chuyển dòng và bao thành phố đã từng mọc lên rồi sụm xuống. Nhưng ngọn núi ấy thì vẫn còn đây của một dáng vẻ bất khả thuần hóa.
Nơi ký ức văn học, người ta thường nhớ đến một số thi sĩ nhờ những tác phẩm để đời. Số khác gắn liền với một khuynh hướng thẩm mỹ hay trường phái tư tưởng. Rồi có những tác giả được lưu danh bởi một biến cố lịch sử đã làm thay đổi vận mệnh của cả một thế hệ. Nguyễn Đức Sơn thật hiếm hoi, Ông được nhớ bởi chính cách mình hiện hữu giữa cuộc đời.
Lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX có một thế hệ trí thức đặc biệt xuất hiện như những hiện tượng không thể lặp lại. Họ không xem văn chương là một nghề nghiệp nhưng xem đó như một hình thức tồn tại. Bấy giờ, chữ nghĩa chỉ là phần nổi của một hành trình sâu hơn, nơi chính đời sống trở thành tác phẩm sau cuối.
Nếu Bùi Giáng giống như một đám mây lang thang trên bầu trời chữ nghĩa, biến cuộc đời thành một cuộc rong chơi siêu thực giữa phố xá nhân gian. Phạm Công Thiện như một tia chớp xé ngang bầu trời triết học, biến cuộc đời thành một cuộc phiêu lưu tư tưởng đi từ Nietzsche đến Hoa Nghiêm, từ Heidegger đến tiếng chuông chùa khuya. Và thầy Tuệ Sỹ là tiếng chuông chìm trong sương sớm khiến cuộc đời trở thành một hành trình thiền quán, nơi lịch sử, thân phận và siêu hình gặp nhau trong những vần thơ u tịch.
Thì Nguyễn Đức Sơn khác. Ông lặng lẽ đi về phía núi, và như một tảng đá nằm im hứng gió.
Bởi những thao thức lớn của thời đại dường như chưa bao giờ là điều khiến Ông bận lòng. Ông không xuất hiện như nhà tư tưởng đi tìm lời giải minh cho thế giới, cũng không mang dáng dấp của một người muốn dẫn dắt hay cải tạo nó. Giữa những phong trào, tiếng nói và những xác tín không ngừng va chạm nhau trong một thế kỷ đầy xung động, Ông chọn lui ra một khoảng cách đủ xa để giữ cho mình sự tĩnh lặng. Chính nhờ khoảng cách tưởng như xa lìa ấy, bao điều cốt lõi nhất của thân phận con người lại hiện hình rõ ràng hơn bao giờ hết.
Đọc thơ Nguyễn Đức Sơn, người ta thường bị choáng bởi cái hoang dã. Những câu thơ như vụt lên từ đất đá. Những hình ảnh như vừa bước ra từ rừng sâu. Ngôn ngữ lắm phen chẳng cần vẻ lịch lãm của thi ca đô thị mà mang hơi thở của cỏ dại, của đất bùn và của một thế giới còn nguyên sơ trước khi văn minh phủ lên nó những lớp phấn son loè loẹt.
Nhưng khi bước qua khỏi những gai góc của ngôn từ, chúng ta mới thật sự nhìn thấy phần mềm yếu nhất trong con người ấy, sau nửa đời nhìn lại đã không còn tha thiết tranh biện với nhân gian. Ông đem những câu hỏi của mình gửi cho mây, cho đá, cho những hàng thông đứng lặng bên đồi. Không phải vì nơi đó có thể trả lời Ông được điều gì mà vì giữa đất trời, Ông còn nhìn thấy một thứ chân thật mà con người đang dần đánh mất.
Nguyễn Đức Sơn đã sống phần lớn cuộc đời như vậy. Để rồi từ đây người đọc hiểu rằng sau cái vẻ bất kham vốn không phải là sự khinh bạc cuộc đời. Ngược lại, đó là một mối tình quá thiết tha đối với con người, nên Ông không thể dễ dàng tha thứ cho những gì đang khiến con người ngày càng xa lạ với chính mình. Ông chọn Đồi Phương Bối, nơi ấy cư trú nhưng đồng thời là một tuyên ngôn hiện sinh. Trong khi thế giới ngày càng bị cuốn vào những cuộc chạy đua của danh vọng, quyền lực và tiếng nói, Ông chọn vui với những hàng thông réo rắt bên đồi.
Bởi cho đến một lúc nào đó, chữ nghĩa không còn đủ sức dung chứa những điều sâu thẳm nhất trong lòng người. Một cây thông sẽ trở thành một câu thơ. Một đồi thông trở thành bản trường ca. Một đời sống lặng lẽ trở thành một tác phẩm.
Nhìn lại văn học Việt Nam hiện đại, đôi khi chúng ta dễ nhớ đến những tác phẩm nổi tiếng nhưng quên mất những nhân cách đã tạo ra chúng. Tuy nhiên thời gian vẫn luôn công bằng theo cách riêng của nó. Những gì thuộc về thời thượng thường phai nhạt nhanh nhất. Những gì thuộc về cốt lõi sẽ tồn tại lâu hơn.
Mai sau, thi sĩ Nguyễn Đức Sơn có thể không còn được nhắc đến nhiều như những tên tuổi từng chiếm lĩnh diễn đàn văn học. Nhưng mỗi lần người ta nhắc đến Ông, vẫn có một cảm giác đặc biệt. Không phải tác giả mà là cảm giác về một khả thể tồn sinh khác của con người.
Ông sống mà không cần thuộc về đám đông. Sống mà không cần chiến thắng bất kỳ điều gì. Sống như một thân cây mọc trên sườn núi, lặng lẽ hứng gió và âm thầm đi hết hành trình riêng của chính mình.
Đây chính là bài thơ lớn nhất mà Ông để lại.
“Mai sau tắt lửa mặt trời
Chuyện linh hồn với luân hồi có không?”
Ngày giỗ của Ông đến rồi đi như bao ngày giỗ khác trong đời sống văn học. Nhưng đâu đó trên những ngọn Đồi Phương Bối, trong tiếng thông reo của một mùa gió dĩ vãng, ta vẫn có thể hình dung một bóng người còm cỏi đang ngồi nhìn mây chìm vào khoảng trời xanh vô tận…
Người ấy tuy đã đi xa. Nhưng ngọn núi thì vẫn sừng sững ở đó giữa những ồn ào ngày càng dày đặc của thế kỷ này.
Nhớ Ông, người đã từng sống như thế, viết như thế và từ chối thế gian như thế, cũng đủ khiến chúng ta tin rằng văn học không đơn thuần chỉ là nghệ thuật của ngôn từ. Ở bình diện sâu nhất, nó là nghệ thuật gìn giữ phẩm giá của một tâm hồn.
Nhân khứ sơn do tại – Người đi rồi. Núi vẫn còn đây.
Yuma, AZ 11.06.2026
UYÊN NGUYÊN