Luân Hoán, Giữa Lời Ăn Tiếng Nói và Bóng Chiều Nhân Thế | Đọc Luân Hoán ‘Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi’, từ mạch ca dao đến cảm thức văn học đương đại

Đọc Luân Hoán lâu, rồi đọc đến Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi, có một điều khá lạ là càng về cuối hành trình, thơ ông dường như càng bớt muốn mang dáng vẻ của “thơ”. Câu chữ cởi bỏ dần áo mão văn chương, đi xuống gần lời ăn tiếng nói, gần một câu đùa trong nhà, một tiếng than ngoài hiên, một mẩu chuyện vừa xảy ra, một cái tên đường, một món ăn, một viên thuốc, một cơn đau, một lần nhớ bạn… Chính tác giả cũng dè dặt gọi những trang ấy là “hồi ký vần văn” hơn là một tuyển tập thi ca theo nghĩa phổ thông.[1] Đặt điều này bên cạnh những nhận định đã có từ nhiều thập niên – rằng Luân Hoán làm thơ gần như nói chuyện, chuộng ngôn ngữ bình dị và đặc biệt tự nhiên trong lục bát – chúng ta thấy đây chẳng phải là sự buông tay lúc tuổi già, nó gần như kết quả cuối cùng của một thi pháp đã đi suốt đời ông, tức là đưa thơ trở về gần tiếng người.

Nói Luân Hoán mang “chất ca dao”, bởi nếu chỉ căn cứ vào việc ông làm nhiều lục bát thì chưa hẳn. Lục bát là hình. Ca dao trước hết là khí. Một bài có sáu tám đúng niêm vận vẫn có thể rất xa ca dao. Trái lại, đôi khi một bài năm chữ, bảy chữ hay tự do vẫn phảng phất ca dao nếu trong nó còn giữ được cái thần của ngôn ngữ dân gian. Khi đó nói như không làm văn, nhớ như không cố nhớ, thương thì gọi thương, buồn thì nhận buồn mà sau câu nói tưởng rất thường ấy, lại mở ra một khoảng dư vang không cùng. Nhà thơ Luân Hoán hiểu điều này khá sớm. Vĩnh Điện, khi nhớ lại thời phổ Lục Bát Ca, từng xem lục bát như “một phần gia sản có sẵn của mỗi người Việt”.[2] Còn chính Luân Hoán, trong một suy niệm khác về thể thơ này, lại gọi cấu trúc sáu–tám là “thể xác Ca Dao”.[3] Hai chữ thể xác ở đây thật độc đáo. Bởi với ông, lục bát không nằm trong tủ kính cổ điển. Nó phải có da thịt, phải thở, phải cười, phải lấm láp đời sống.

Bấy giờ, lục bát Luân Hoán nhiều lúc gần như một người Quảng đang ngồi trước mặt chúng ta mà nói. Chữ “chừ”, chữ “chi”, những tiếng “tào lao”, “lè phè”, “ngó”, “chơi”, “gõ”, “lạng quạng”, những cách nói tưởng như chỉ hợp với câu chuyện đầu ngõ cuối sân đều được ông dẫn thẳng vào thơ. Người quá giữ quan niệm “thi ngữ” có thể thấy chúng thô. Nhưng cái khó của Luân Hoán chính nằm ở chỗ này, đưa tục ngữ đi qua cửa thơ mà nó không mất tiếng chân trần của nó. Nhà biên khảo Trần Gia Phụng từng nhận ra thơ ông ít điển tích, ít cầu kỳ Hán Việt, vần điệu tự nhiên đến độ gần lời trò chuyện;[4] Mặc Phương Đình lại nhìn thấy trong đó khả năng đưa “ngôn ngữ bình dân vào văn chương bác học”.[5] Hai nhận xét gặp nhau ở một điểm đó là, cái bình dân trong Luân Hoán không đồng nghĩa với dễ dãi.

Ca dao vốn có một phép nhiệm mầu rất Việt, lời nhỏ mà chứa tình lớn. “Qua đình ngả nón trông đình” không cần diễn giải tâm lý. “Mình về mình có nhớ ta” chẳng cần dựng cả một triết học về biệt ly. Cảnh chỉ một nét, tình tự nhiên dâng lên. Luân Hoán nhiều khi cũng vận hành bằng cảm thức ấy. Một con đường, chiếc ghế, cái giường, mảnh vườn, mái tóc, đứa cháu, tờ lịch, cụm trúc, chén rượu, một cơn tuyết Montréal… — vật nào vào thơ ông cũng có khả năng trở thành chiếc móc nhỏ nhưng treo cả một quãng đời. Ở đây, thi pháp của ông gần với trí nhớ dân gian hơn là trí nhớ sử thi. Ông không nhất thiết dựng đại cảnh. Ông nhặt lấy tiểu vật. Mà kỳ lạ, càng nhỏ càng giữ được lâu. Cố hương trong thơ ông thường không hiện thành một khái niệm lớn. Nó hiện thành tên đường, mái trường, ngõ xóm, giọng nói, bàn chân, bóng người… Hoàng Dục, khi đọc mạch thơ Đà Nẵng của Luân Hoán, cũng nhận ra quê hương trong ông được kiến tạo rất cụ thể qua đường phố, phường xóm và không gian văn hóa thân thuộc.[6]

Ấy chính là một phẩm tính của ca dao, địa phương mà không cục bộ. Một bến nước rất riêng có thể thành bến nước của mọi người; một con đường Đà Nẵng, qua nỗi nhớ đủ sâu, có thể thành con đường ly hương của bất kỳ ai. Luân Hoán không cố “nâng” kỷ niệm thành biểu tượng. Ông để kỷ niệm nằm nguyên trên mặt đất và thời gian tự làm công việc nâng nó lên. Tựa hồ một chiếc lá khô giữa trang sách, người viết chỉ ép vào đó, ba mươi năm sau màu của nó đã thành một thứ cổ sắc. Thơ ông vì thế có nhiều câu mới đọc tưởng nhẹ, thậm chí nghịch. Nhưng đọc qua một đời người rồi trở lại, bỗng nghe phía sau thoảng một cơn gió.

Cái đáng nói hơn nữa là Luân Hoán không phục cổ. Ông mang ca dao đi thẳng vào hiện đại. Đây là điểm khiến thơ ông có một vị trí khá riêng trong cảm nhận văn học đương đại. Ca dao cũ có giếng nước, sân đình, bến đò, cánh cò. Ca dao Luân Hoán có métro, Facebook, YouTube, bàn phím, garage, thuốc men, bệnh viện, tuyết Canada, sân bay Trudeau… Những vật dụng của văn minh kỹ thuật không bị ông xem như kẻ thù của thi ca. Chúng cứ bước vào câu thơ tự nhiên như ngày trước con đò bước vào câu hát. Trong Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi, ngay cả việc thức dậy uống thuốc, đi bộ trong nhà, xem mạng xã hội hay nghe AI phổ nhạc cũng có thể trở thành vật liệu cho điệu vần. Đây không phải thủ thuật “hiện đại hóa” thơ. Nó tự nhiên hơn thế, nghĩa là đời sống đã đổi thì ca dao của đời sống cũng phải thay đồ dùng.

Chính ở đây, có thể nhìn thấy Luân Hoán như một tác giả đương đại theo nghĩa sâu hơn niên đại. Đương đại không nhất thiết là phá vỡ cú pháp, triệt tiêu vần luật hay tạo ra văn bản tối nghĩa. Đương đại trước hết là khả năng để đời sống hôm nay hiện hình trong ngôn ngữ mà không phải cải trang thành quá khứ. Luân Hoán có thể giữ lục bát — một thể thơ rất cũ — mà cảm quan vẫn mới bởi ông cho phép tiếng nói hiện thời xâm nhập vào cái khuôn cổ ấy. Cổ bình mà rượu mới. Cũng có lúc rượu chẳng sang trọng gì ví chỉ là chút vui buồn trong bữa cơm, bệnh tật, tuổi tác, chuyện vợ chồng, bạn bè, thân xác. Nhưng chính sự không e ngại cái tầm thường khiến thơ ông chạm vào một vấn đề lớn của văn học hiện đại: thơ phục hồi phẩm giá cho đời sống thường nhật.

Ở phương diện này, cái “tôi” của Luân Hoán rất đáng chiêm nghiệm. Văn chương cổ điển thường tiết chế tự ngã. Văn chương lãng mạn đưa cái tôi lên trung tâm. Đến một số khuynh hướng hiện đại, cái tôi lại bị phân mảnh, hoài nghi. Luân Hoán đi bằng một đường khác, ông đem cái tôi xuống khỏi bệ. Ông gọi mình là “thợ thơ”, tự giễu tài năng, hình vóc, tuổi tác, sức khỏe… Kể cả việc sáng tác cũng bị ông đùa cợt như một thói quen gần với ăn, ngủ, thở. Trong Đường thơ, ông tự nhận từ “Tôi” thành “Ta”, từ mộng thi nhân trở về làm người “thợ”; trong Ta và thơ, phần thưởng tối hậu của thi ca lại chỉ là giữ được một “hồn bình dân”.[7] Ở đây có một vẻ tiêu dao rất riêng đó là, hạ cái tôi xuống, mà kỳ thực lại nhìn thấy cái tôi rõ hơn.

Tựa sách Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi vì vậy không những là một câu dí dỏm của người luống tuổi. “Hạ cánh” là chữ của thời đại phi cơ. “Cửa đời” lại phảng phất cổ ngữ. “Ngộ” là một chữ Đông phương đầy chiều sâu. “Cái tôi” thuộc ngữ vựng hiện đại. Bốn lớp ngôn ngữ đứng cạnh nhau tưởng chỏi mà hóa ra rất Luân Hoán. Ông sống giữa nhiều thời đại cùng lúc là quê cũ trong ký ức, là chiến tranh trong thân thể, Montréal ngoài cửa sổ, mạng xã hội trên màn hình và tiếng Việt dân gian thấm sâu dưới đáy ngôn ngữ. Đó là hoàn cảnh rất tiêu biểu của nhà văn lưu xứ cuối thế kỷ XX sang thế kỷ XXI: địa lý đã đổi, kỹ thuật đã đổi, nhưng âm vận mẫu ngữ vẫn ở lại.

Cho nên, nét ca dao trong Luân Hoán không đơn thuần chỉ ở lục bát mà nằm trong mạch cảm thức bảo tồn quê hương bằng tiếng nói. Người xa xứ trước tiên mất cảnh quan, rồi địa danh thay đổi, rồi những người cùng thế hệ lần lượt vắng. Sau cùng, thứ còn giữ quê nhà sâu bền nhất có khi chỉ là cách gọi một vật, cách buông một tiếng đệm, một nhịp sáu tám nghe từ thuở nằm nôi. Đỗ Trường khi đọc thơ Luân Hoán đã gọi đó là những trang “hồi ký bằng thơ”, đặc biệt nhấn vào nỗi nhớ quê và lối lục bát mộc mạc, trào lộng.[8] Từ đây có thể đi thêm một bước, thơ Luân Hoán là một hình thức ký ức khẩu truyền đã được cá nhân hóa.

Và điều làm thơ ông không trở thành hoài cổ chính là tiếng cười. Ca dao Việt vốn chưa bao giờ chỉ có trăng, cau, trầu và thương nhớ. Nó còn rất tinh quái, tục mà thanh, cười số phận, cười người rồi quay lại cười mình. Luân Hoán thừa hưởng khá đậm mạch ấy. Ông có thể đang nói sinh tử mà bỗng chen một câu nghịch, đang chạm nỗi đau lại xoay sang tự trào. Cái cười ấy không làm loãng bi cảm. Trái lại, nó là một cách chịu đựng bi cảm. Cổ nhân nói “đối tửu đương ca”, ở Luân Hoán nhiều khi rượu đã ít, bạn đã thưa, thân thể đã mỏi, bèn đối với bàn phím mà làm thơ. Một nụ cười đặt cạnh bóng xế, tự nhiên trở thành triết lý.

Cho nên phía dưới vẻ “ba lơn”, “tào lao”, “gõ chơi”, “linh tinh” mà ông cố ý nhận về mình là một ý thức sinh tử ngày càng rõ. Tác phẩm Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi được ông nghĩ tới như một vật sẽ nằm cạnh tro cốt mình. Và chính ông nói thốt rằng cuốn sách có thể trở thành một thứ “bia mộ riêng”.[9] Ở đây, thơ Luân Hoán chạm đến một cảm thức rất cổ của thi ca phương Đông, nghĩa là con người đứng trước bóng xế của đời mình, biết thời gian đang rút xuống từng ngày mà vẫn bình thản nhìn ngắm những gì còn lại. Nhưng ông không cần mượn những hình ảnh xa xưa để nói chuyện vô thường. Ông có cái giường, lọ thuốc, tuyết ngoài sân, bạn Facebook, ô kính giữ tro. Cảnh đổi mà tâm thế vô thường vẫn vậy. Ngày trước, bóng chiều có thể rơi trên thành quách cũ, một bến vắng, một mái nhà xa. Hôm nay nó có thể hiện lên trong ánh màn hình của một căn phòng Montréal. Ngoại cảnh thay hình, nhưng nỗi hữu hạn của kiếp người thì cổ kim vẫn một.

Chính điểm ấy tạo nên chiều sâu cổ điển âm thầm trong thơ Luân Hoán, dù bề mặt ngôn ngữ của ông gần ca dao, gần khẩu ngữ và đời sống thường nhật hơn những khuôn thức trang trọng. Cái cổ không nằm ở điển tích hay niêm luật, mà ở cách nhìn cảnh hữu hạn, người hữu hạn, thời gian vô cùng. Người xưa thường nén lời cho đến khi chỉ còn một vầng trăng, một dòng nước, một bóng chim. Luân Hoán lại giữ nguyên tiếng động của đời sống, giữ cả cái vụn vặt, cái buồn cười, cái rất đỗi thường ngày. Một bên lặng để thấy phù sinh, một bên sống giữa huyên náo mà vẫn nghe thời gian rút xuống. Rồi sau cùng, tất cả đều trở về một khoảng lặng — nơi con người, sau bao nhiêu lời đã nói, chỉ còn đối diện với chính mình và phần đời đang khép lại.

Văn xuôi Luân Hoán cũng vậy. Ông thường viết như người đang ngồi kể, đôi khi lan man, chen ngoặc, tự cải chính, tự đùa, đang nói chuyện này rẽ sang chuyện khác. Xét bằng tiêu chuẩn văn chương duy mỹ, dễ thấy đó là “tạp”. Nhưng chính cái tạp ấy lại tạo nên phẩm chất tư liệu và giọng người. Văn của ông ít che giấu quá trình nhớ. Trí nhớ vốn đâu đi thẳng. Nó chạm một cái tên thì bật ra một con đường. Chạm con đường lại nhớ một người. Đang kể người ấy bỗng nhớ món ăn hay câu nói bốn mươi năm trước. Cái quanh co ấy, nếu khéo đọc, không phải sự thiếu cấu trúc mà là cấu trúc của ký ức sống. Thơ ông cũng vậy, “lanh quanh” mà không vô hướng. Dòng nước không đi theo thước kẻ, nhưng vẫn biết tìm về chỗ thấp.

Nếu đọc Luân Hoán mà chỉ tìm “câu thơ hay” có khi bỏ mất điều quan trọng hơn. Giá trị của ông nằm nhiều ở một dòng sống được chuyển liên tục thành chữ. Thơ không đứng riêng khỏi tiểu sử. Văn không đứng riêng khỏi đời thường. Tác phẩm không phải tượng đài được xây sau khi mọi bụi bặm đã quét sạch. Ông để cả bụi vào trong đó. Ngày tháng, tên người, đường phố, những vui buồn nhỏ, những câu đôi khi cố tình vụng, những chỗ bông lơn, những chuyện khó đưa vào quan niệm trang nghiêm về thi ca…, tất cả cùng tồn tại. Vì thế thế giới Luân Hoán có cái bề dày của đời sống hơn là cái kín đáo của mỹ học.

Và, chính nơi đây Luân Hoán gặp tinh thần ca dao sâu nhất. Ca dao vốn không hỏi mình có được đứng vào văn học sử hay không. Người xưa hát bởi buồn thì phải nói, thương thì phải gọi, nhớ thì phải ngân lên, làm lụng mệt thì phải có một câu cho nhẹ gánh. Luân Hoán nhiều lần cũng viết thơ với một bản năng tương tự. Thơ “cầm hơi”. Thơ giữ ngày. Thơ làm cho một buổi sáng không trôi mất hoàn toàn. Thơ biến cái đã qua thành cái còn có thể gọi tên. Đối với một người càng về cuối đời càng chứng kiến bằng hữu thưa dần, quê nhà xa dần, thân thể hao dần…, chức năng ấy của thi ca trở nên nghiêm cẩn hơn mọi tuyên ngôn nghệ thuật.

Bởi thế, nói Luân Hoán “bình dân” thì cần phải hiểu chữ ấy theo nghĩa đẹp nhất. Bình dân không phải thấp xuống. Bình dân là còn nghe được tiếng đất dưới chân chữ. “Hồn bình dân” mà ông tự nhận chính là khả năng không để văn chương cắt đứt với đời sống. Từ đó, lục bát của ông vừa quen vừa ngang, vừa giữ nhịp cổ truyền vừa thích phá cách xuống dòng, bẻ nhịp, đưa khẩu ngữ và vật dụng mới vào câu. Nó giống một con sông cũ mà nước mỗi ngày mỗi khác. Bờ là sáu tám. Nước là hôm nay.

Nhìn từ văn học đương đại, đó có lẽ là điều đáng lưu tâm nhất ở Luân Hoán. Giữa một thời chữ nghĩa thường bị thúc phải mới hơn, lạ hơn, trí thức hơn, ông chọn một con đường nghịch hành, càng đi xa càng trở về lời nói. Nhưng sự trở về ấy không hề là thoái lui. Sau gần một đời viết, lời nói giản dị của ông đã mang theo nhiều tầng phù sa, ở đó có chiến tranh và hòa bình, tình yêu và gia đình, thương tật và tuổi già, quê nhà và lưu xứ, giấy bút và kỹ thuật số, hữu hạn thân xác và sự kéo dài kỳ lạ của ký ức… Một câu thơ nhìn qua như thể nói chơi, song phía dưới đã lắng sâu sáu bảy mươi năm đời người.

Bấy giờ, chiều xuống, cổ nhân thường ngẩng nhìn chim về núi. Luân Hoán có lẽ chỉ cần nghiêng người nhìn qua cửa sổ, thấy tuyết, rồi quay lại bàn phím. Ngoài kia là Montréa, nhưng trong câu chữ vẫn còn một giọng Quảng Nam, một con đường Đà Nẵng, một mái nhà, một tiếng gọi người thân. Đất khách đã thành chốn ở. Cố hương nay thành âm vận. Người già sụm đi đến cuối cuộc hành trình, còn lục bát thì vẫn bước, sáu rồi tám, tám lại sang sáu, như nhịp chân một kẻ hành lữ biết rõ đường hữu hạn mà lòng vẫn cứ thương yêu.

Có lẽ đó là cái đẹp sâu lắng nhất trong văn thơ Luân Hoán, cổ vận mà tân thanh, bình dị mà không bạc, bông lơn mà chẳng xem nhẹ cuộc đời. Ca dao ở ông không ở sau lưng như một di sản để tôn thờ. Nó đi bên cạnh, mang dép thường, nói tiếng thường, đôi khi cười rất nghịch. Nhưng mỗi khi bóng chiều chạm xuống câu thơ, bỗng nghe trong lời nói ấy một tiếng rất xa xăm — tiếng người Việt tự ngàn đời vẫn dùng vần điệu để giữ lấy những gì thời gian nhất định rồi sẽ mang đi.

Yuma, AZ 18.09.2026

UYÊN NGUYÊN

_________________

[1] Luân Hoán, Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi, Nhân Ảnh, 2026, tr. 13–15.
[2] Vĩnh Điện, “Nhắc Lại Thời Phổ Lục Bát Ca,” trong Luân Hoán, Một Đời Thơ, Sông Thu, 2005, tr. 382–386; dẫn ý tại tr. 383.
[3] Luân Hoán, Em Từ Lục Bát Bước Ra, Nhân Ảnh, 2008, “Lời Thưa, Mời Đọc Trước,” tr. 13.
[4] Trần Gia Phụng, “Làm Thơ Như Nói Chuyện,” trong Luân Hoán, Một Đời Thơ, Sông Thu, 2005, tr. 327–338; Toronto, 23.7.2004.
[5] Mạc Phương Đình, “Mùa Xuân Và Nét Hồn Nhiên Phóng Khoáng Trong Thơ Luân Hoán,” trong Luân Hoán, Một Đời Thơ, Sông Thu, 2005, tr. 127–137; Milpitas, California, mùa Hạ 2004.
[6] Hoàng Dục, “Đà Nẵng – Cõi Bén Tình Thơ Luân Hoán,” LuânHoan.net; bản đăng lại với nhan đề “Đà Nẵng – Cõi Bén Tình Thơ,” trích từ Phải Lòng Con Chữ.
[7] Luân Hoán, “Ta và thơ,” trong Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi, sđd., tr. 262; “Đường thơ,” sđd., tr. 443.
[8] Đỗ Trường, “Luân Hoán – Những Trang Hồi Ký Bằng Thơ,” Lúa Mới, đăng 30.9.2024; Leipzig, 27.9.2024.
[9] Luân Hoán, Hạ Cánh Cửa Đời Ngộ Cái Tôi, sđd., tr. 14–15.

Trả lời

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.