Trần Quang Ðức: Giống Người Nước Ta Ngày Nay Có Thể Đoán Chắc Là Giống Người Hán!*

14212627_10153826852041526_8388974650663284789_nẢnh minh họa: Phạm Quỳnh với Tạp chí Nam Phong; Hoàng Cao Khải với Việt sử yếu.

13327345_10153614421131526_4072832767222659144_nStatus trước tôi đề cập đến Nhận thức về văn hóa, ngôn ngữ của tầng lớp cai trị, trí thức phong kiến Việt Nam. Và cũng nói nhận thức đó sau 100 năm được thay thế bằng nhận thức Cộng Sản. Tôi đề cập đến nhận thức là đề cập đến lối suy nghĩ, cách nhìn nhận của một cộng đồng người trong một khoảng thời gian nhất định. Đừng nói quá khứ đã qua, không dính dáng đến hiện tại. Không phải vậy! Từ trong vô thức, bất kỳ người nào cũng gánh trên vai di sản của quá khứ, của lịch sử, và đều bị thao túng bởi bộ máy tuyên truyền nhà nước, dù ít dù nhiều. Để làm rõ căn bệnh đương đại, cần phải minh bạch, thẳng thắn nhìn vào quá khứ, chứ không nên đóng cửa ý dâm với nhau khiến bệnh trạng thêm trầm trọng. Và cũng từ lẽ đó, triết lý giáo dục lịch sử không phải nhằm mục đích nuôi dưỡng tình yêu dân tộc, đất nước, mà phải khiến học sinh hiểu biết một cách trung thực về quá khứ, để nhìn rõ cộng đồng mình ở hiện tại, để rồi có những định hướng, cư xử tốt đẹp trong tương lai!

Vì vô tri đối với lịch sử, văn hóa truyền thống, vì bị dẫn dắt bởi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vì bất mãn với những tệ trạng chính trị, kinh tế, văn hóa đương đại v.v. cơ man người Việt hiện nay đều dị ứng khi bắt gặp keyword HÁN, dễ dàng phát tiết những xúc cảm tiêu cực lên tất cả những thành tố văn hóa, ngôn ngữ có dáng dấp Trung Hoa. Ở status này, tôi sẽ dẫn chứng cho các bạn thấy, đầu thế kỷ 20 là một giai đoạn bản lề, là bước ngoặt thay đổi toàn bộ nhận thức của người Việt từ phong kiến thực dân sang cộng sản. Sau khi những ý niệm về nhân chủng, chủng tộc được lan truyền vào Việt Nam theo con đường sách vở, trí thức người Việt lúc này mới chính thức suy ngẫm, lý giải về nguồn gốc dân tộc mình theo tư trào phương Tây. Từ ghép /dân – tộc/ là do người Nhật tạo ra trong giai đoạn cải cách Minh Trị, nửa cuối thể kỷ 19. Và có thể thấy, trí thức Việt Nam đầu thể kỷ 20 đã nhất loạt nhìn nhận dân tộc Việt có nguồn gốc Hán tộc, đồng thời tự hào về điều này. Xin xem phụ lục 1,2,3,4.

Nhận thức ở ngay một con người đã thay đổi theo thời gian. Nhận thức của một cộng đồng, một xã hội cũng thay đổi như thế! Sau rốt những gì trình bày, bản ý của tôi rốt cuộc vẫn chỉ là muốn thế hệ tương lai của Việt Nam hết sợ HÁN, công tâm nhìn nhận Hán là một phần của Việt. Sự phát triển đến tận cùng, bất quá nhằm đạt sự TỰ DO. Mọi người đều được sống vui với những màu sắc riêng của mình. Theo quan niệm cá nhân, người tự do không phải người thoát ra ngoài bốn bức tường vây hãm, mà là người không vướng mắc, không lo sợ, không ảo tưởng trong suy nghĩ của chính mình. Bởi vậy, thứ chúng ta chống lại không phải quá khứ, không phải Hán hay Hoa. Càng không cần thiết phải thoát đi đâu hết mà vẫn có thể vừa Âu hóa, vừa là người Việt Á Đông. Cái cần chống lại là những thế lực vây hãm, hạn chế sự tự do, chống lại quyền con người. Cái cần chống lại là sự độc tài, bất nhân! Vậy mà thôi!

Phụ lục1. Người Giao Chỉ ở thời đại thượng cổ nói chung là ngớ ngẩn, chất phác, thật thà…Một vài người Giao Chỉ còn sót lại số lượng không bằng 1% dân số trong nước, lại rất là đần độn không biết gì, họ như người thời thái cổ. Ngoài ra, những người lanh lợi, khôn ngoan thì đều là hỗn hóa chủng tộc với người Hán Trung Quốc (Lời phê ở sách gốc: Khí hóa truân chuyên, dã man biến thành văn minh. Lẻ ngu xuẩn tất không thể sinh tồn được ở thế giới tri thức.). Sau đây xin lược dẫn mấy điểm có thể chứng tỏ điều đó (…) Gộp những điều chứng trên kia lại mà xét thì giống người nước ta ngày nay có thể đoán chắc là giống người Hán. Giống người mọi rợ khắc trán, giao chỉ kia nhất biến đã thành giống người văn minh xinh đẹp áo mũ chững chàng. Tuy đó là điều không may cho người nước ta ngày xưa, nhưng lại là điều may cho người nước ta sau này. Thế thì con cháu, họ hàng chúng ta ngày nay có nỡ lòng để cái giống nòi này mòn mỏi hèn kém xuống ngang hàng với ngựa trâu được không. (Lời phê ở sách gốc: Thương thay! Nòi giống mỗi lần cứ chìm đắm, để bại vong!) – Phan Bội Châu, Việt Nam quốc sử khảo, năm 1909.

Phụ lục 2. Hán thư chép: thời cổ, người nước ta dùng vải quấn người, tiếng nói khó hiểu. Hán Võ đế đày những người có tội tới ở lẫn. Trong thời gian đó, lại dạy người nước ta, khiến họ biết văn Hán, hiểu tiếng Bắc. Từ Hán Võ đế tới Hán Hiến đế, trong khoảng ba trăm năm, hoặc đặt quan để cai trị, hoặc đặt trường học để khai hóa, đến nay mà giống Giao Chỉ cũ đã hòa tan hết cả, mà thành riêng một dân tộc Việt Nam. Hán Hiến đế đổi Giao Chỉ thành Giao Châu, dùng tên mới thay tên cũ thì dân tộc ngày một khai hóa đã có thể biết được. Từ đó mà xem, dân tộc Nam ta tức là Hán tộc không thể nghi ngờ gì nữa! – Hoàng Cao Khải, Việt sử yếu, năm 1914.

Phụ lục 3. Dân Giao Chỉ xưa vốn là giống Kinh Man, Tam Miêu, sau bị Hán tộc ép bức mà dần di dời xuống phương Nam. Nước ta vào thời thuộc Hán, được mệnh danh là bộ Giao Chỉ, chừng do nét đặc trưng nhân chủng mà gọi như vậy đó thôi. Xem vậy thì biết người thời cổ ở Việt Nam phần nhiều là dân tộc Giao Chỉ, e chẳng có gì đáng ngờ nữa. Song cái luật diễn tiến tự nhiên của ông trời là giỏi-thắng-kém-thua, kẻ thích hợp được sinh tồn. Từ khi Hán tộc xuống phương Nam thì giống người cổ kia dần mai một. Di duệ của họ còn lại được một vài, chính là người thổ thượng du ngày nay vậy. Một giống người mới nảy sinh. Theo sử chép lại, năm 196 trước kỷ nguyên Tây lịch, Tần Thủy Hoàng lệnh cho Nhâm Ngao, Triệu Đà cất 500.000 người đến đóng ở Ngũ Lĩnh. Vậy thì người Hán bấy giờ đã dời xuống phương nam rồi. Lại chép: Con của Triệu Đà là Trọng Thủy lấy con gái của Thục vương là Mỵ Châu thì Nam – Bắc bấy giờ đã thông hôn qua lại rồi vậy. Chỉ có việc cùng chung sống rồi thông hôn, cho nên cư tụ mới ngày một đông đúc, sinh đẻ cũng cực nhanh chóng. Từ thời thuộc Hán, Hán Võ đế mở ra 9 quận, đặt chức Thứ sử, Thái thú, người Hán tới phương Nam ngày một đông. Mà tộc Giao Chỉ cũ đã hòa tan hết cả, mà thành ra giống người Việt Nam ngày nay. Thử xem Lý Bí, Hồ Quý Ly đều là hào kiệt nước ta mà ông tổ bảy đời của Lý Bí là người phương Bắc, cuối thời Tây Hán lánh xuống đất Nam. Ông tổ bốn đời của Quý Ly là Hồ Hưng Dật, người Chiết Giang, thời Ngũ đại tới quy thuận. Vậy thì nhân chủng nước ta đồng hóa thành Hán tộc không thể nghi ngờ gì nữa. Than ôi! Đường đường Hán tộc, giết Si Vưu, xua Tam Miêu, đuổi Kinh Man, dần dần phát đạt, ban đầu ở Hoàng Hà, kế đó là sông Dương Tử, kế nữa là Tây Giang rồi cho đến đất này. Có tính chất văn minh, có năng lực cạnh tranh. Có thể thu lấy Chiêm Thành, chiếm cứ Chân Lạp, bình định các giống man mọi, chinh phục hết thảy chủng tộc cũ mà nghiễm nhiên thành ông chủ của đất nước này! – “Việt sử khảo”, Tạp chí Nam Phong số 50, năm 1918.

Phụ lục 4. Thiên chức của giống Việt Nam ta là phải thực dân cả cõi Đông Dương này, đem hiệu cờ China mà chiến đấu với thế giới Ấn Độ, khiến cho đất Ấn Độ China này (tức Indochina, Đông Dương) thành một đất China dòng. Thiên chức ấy, ta mới làm được nửa phần, vì còn cả đất Lục Chân Lạp (nguyên chú: Cao Miên ngày nay), miền trung lưu sông Cửu Long (nguyên chú: Ai Lao ngày nay) và suốt triền sông Mé nam nước Xiêm, vẫn còn ở ngoài phạm vi của ta vậy. – Phạm Quỳnh, Du lịch xứ Lào, tạp chí Nam Phong số 158, năm 1931.

* Phan Bội Châu, “Việt Nam quốc sử khảo”, 1918.

Advertisements


Chuyên mục:Bài hay trên net.

Thẻ:

1 reply

Trackbacks

  1. Trần Quang Ðức: Hán Nôm chỉ là một cái chìa khóa để tìm hiểu quá khứ – Uyên Nguyên

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: