Triệu Tử Dương/Hồ Như Ý dịch: Sự kiện Lục Tứ 1989: Bài xã luận 26 tháng 4 gia tăng thêm mâu thuẫn

Ông Bào Đồng với cuốn sách mang hình Triệu Tử Dương (DR)

 

2. Bài xã luận 26 tháng 4 gia tăng thêm mâu thuẫn

Vậy nhưng, tại sao về sau phong trào sinh viên bỗng nhiên trở nên hỗn loạn có quy mô lớn như vậy? Mấu chốt là xã luẫn 26 tháng 4. Sinh viên có bức xúc bất mãn, luôn thể hiện điều đó ra ngoài, kể cả ngay lúc đó không đem sự việc quậy tung lên, nhưng sau đó vẫn là thể hiện ra. Vốn luôn là có ý kiến mà! nhưng phong trào sinh viên gây ra quy mô lớn như vậy, vào lúc đó gây ra bất ổn lớn như vậy, chính là bởi xã luận 26 tháng 4. Tình hình trước và sau khi xuất hiện bài xã luận là khác nhau. Nếu như vào lúc đó tùy tình hình đưa ra những hướng dẫn có lợi, làm tốt công tác hạ nhiệt, sự việc căn bản không làm to chuyện đến như thế. Xã luận 26 tháng 4 là điểm bước ngoặt.

Ngày 19 tháng 4, tôi đã tới chỗ Đặng để bàn về chuyến đi thăm Triều Tiên, cũng nói với Đặng về tình hình phong trào sinh viên cùng ý kiến làm thế nào xử lý vấn đề, vào lúc đó Đặng biểu thị đồng ý. Nhưng sự việc hết sức kỳ quái, vào tối ngày hôm tôi rời khỏi Bắc Kinh, thành viên Thành ủy Bắc Kinh là Lý Tích Minh[1], Trần Hy Đồng[2] tìm tới Vạn Lý[3], yêu cầu triệu tập hội nghị Ban thường vụ Bộ Chính trị Trung ương để nghe họ báo cáo. Vạn Lý đã bị họ qua mặt. Góc nhìn của Vạn Lý đối với phong trào sinh viên từ đầu đến cuối đều nhất trí với tôi. Vạn Lý đem yêu cầu của họ chuyển qua nói cho Lý Bằng. Trong thời gian tôi thăm Triều Tiên thì công tác của Ban thường vụ Bộ Chính trị do Lý Bằng chủ trì. Lý Bằng thật là nhanh chóng a, vào tối ngày hôm sau liền đã triệp tập hội nghị Ban thường vụ Bộ Chính trị. Dưới sự chủ trì của Lý Bằng, Lý Tích Minh, Trần Hy Đồng cực lực đem tình hình phong trào sinh viên nói rất nghiêm trọng, bọn họ bất chấp sự thực rằng tình hình phong trào sinh viên khi đó đang có xu thế hòa hoãn. Trên thực tế trong nội bộ sinh viên lúc đó đã xuất hiện sự phân hóa, một bộ phận chủ trương quay lại giảng đường đã quay trở lại lớp học, một số ít phản đối quay lại trường. Ở một vài trường đại học vì thế đã xảy ra tranh chấp, một số sinh viên đã quay về lớp học bắt đầu lên lớp,một số phần tử tương đối cực đoan quá khích đứng ở cửa chặn không cho vào lớp. Xảy ra tình hình như vậy là bởi vì những sinh viên này chưa xả hết bực tức, để cho họ quậy một chút thì sẽ hết? Vào lúc đó nếu làm tiếp những công tác như vậy, dẫn dắt, đối thoại, cho phép sinh viên đề xuất một số yêu cầu hợp lý, đây là một cơ hội rất tốt. Nhưng mà khi báo cáo thì bọn họ lại nói “Một phong trào hành động có quy mô toàn quốc bao gồm sinh viên, bao gồm công nhân đang được tổ chức phát động”, còn nói Đại học Bắc Kinh liên tiếp phái người đi đến các địa phương trong cả nước lôi kéo, đi lên đường phố quyên góp đóng góp kinh phí, muốn tạo ra những hành động có quy mô lớn hơn. Bọn họ đem những ngôn luận quá khích của những sinh viên cá biệt, đặc biệt là thổi phồng tuyên truyền những phát ngôn quá khích đối với cá nhân Đặng Tiểu Bình, đem phong trào sinh viên đổi thành là phản đối Đảng Cộng sản, là nhằm vào Đặng Tiểu Bình. Kể từ sau Cải cách mở cửa, học sinh đặc biệt là sinh viên đại học đã nghe được được xem rất nhiều thứ về Phương Tây. Nói vài câu về lãnh đạo, bọn họ căn bản không xem đó là chuyện gì to tát, không giống như bầu không khí khẩn trương ở trước và trong Cách mạng Văn hóa trước đây. Vào lúc đó nhiều chuyện nói về tôi, nào là mấy đứa con tôi tham gia câu kết “buôn lậu hàng hóa ra chợ đen”[4], nào là dùng xe tải chở bao nhiêu phân bón về quê tôi. Vào lúc đó trong số mấy vạn người ai không nói qua những lời quá khích, phiến diện là điều không thể. Có mười người nói những lời này, một khi anh tham gia tập trung thì không kể rồi. Lý Tích Minh, Trần Hy Đồng bọn họ làm như vậy, là bởi phương thức tư duy đấu tranh giai cấp của họ đã phát huy tác dụng, hay là còn có mục đích khác, vậy thì tôi không được rõ rồi.

Hội nghị Ban thường vụ Bộ Chính trị ngày 24 đem định tính phong trào sinh viên là “đấu tranh chính trị có tổ chức, có kế hoạch, có dự mưu phản đảng phản chủ nghĩa xã hội[5]”, hơn nữa được ghi vào kỷ yếu cuộc họp. Lý Bằng, Lý Tích Minh, Trần Hy Đồng là những người khởi xướng.

Ngày 25 tháng 4, Lý Bằng, Dương Thượng Côn[6] đem tình hình hội nghị Ban thường vụ báo cáo cho Đặng Tiểu Bình. Đặng là con người một mực có chủ trương sử dụng các biện pháp cứng rắn đối với phong trào sinh viên, cho rằng phong trào sinh viên ảnh hưởng tới sự ổn định. Sau khi nghe báo cáo, Đặng ngay lập tức đồng ý đem phong trào sinh viên định tính là “phong trào phản loạn phản đảng phản chủ nghĩa xã hội”, đề xuất “khoái đao chém rối loạn” xử lý quyết đoán nhanh chóng kết thúc sự việc. Vào ngày 19 tháng 4 khi tôi tới chỗ Đặng, góc nhìn của tôi là ông ta hoàn toàn đồng ý. Ngày 25 sau khi Lý Bằng và Dương Thượng Côn báo cáo, Đặng lại đồng ý với góc nhìn của bọn họ, bởi vì điều này nhất trí với chủ trương từ trước tới nay của ông ta. Buổi nói chuyện giữa Đặng và Lý Bằng cùng những người khác ngày 25 tháng 4 vốn là nói chuyện trong phạm vi nội bộ. Nhưng vào đêm hôm đó, Lý Bằng quyết định đem những gì Đặng nói phổ biến rộng ra các cấp cán bộ. Ngày 26 tháng 4 lại đem nội dung nói chuyện này viết thành xã luận đăng trên Nhân dân Nhật báo, công khai đem phong trào sinh viên xác định là “một cuộc động loạn có kế hoạch, có dự mưu, mục đích của nó là phản đảng phản chủ nghĩa xã hội”. Trước khi tôi có chuyến thăm Triều Tiên, Lý Bằng, lãnh đạo thành phố Bắc Kinh đều không hề nói cho tôi biết cách nhìn của họ. Khi tôi vừa mới rời khỏi Bắc Kinh, bọn họ rất nhanh liền triệu tập hội nghị Ban thường vụ Bộ Chính trị, hơn nữa trực tiếp nhận được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình. Chính điều này đã thay đổi những phân tích và phương châm dự bị sẽ được sử dụng của Ban thường vụ Bộ Chính trị.

Đặng Tiểu Bình không hài lòng về việc Lý Bằng đem nội dung phát biểu của Đặng tuyên truyền trên phạm vi lớn như vậy, những đứa con của Đặng cũng không hài lòng về việc đem Đặng đẩy tới tuyến đầu như thế. Vào Tết thanh niên “Ngũ Tứ”[7] tôi có một bài phát biểu. Mao Mao[8] gọi điện thoại cho người chắp bút[9] Bào Đồng[10], hy vọng trong bài phát biểu có thêm nội dung Đặng chủ trương bảo vệ thanh niên. Ngày 17 tháng 5 trong hội nghị quyết định giới nghiêm được tổ chức ở nhà của Đặng, Đặng nói với Lý Bằng: Lần này không nên làm giống với lần trước, không nên đem việc quyết định giới nghiêm của tôi nói ra. Lý Bằng liên tục nói: sẽ không! sẽ không!

Có người lợi dụng những ngôn từ quá khích của sinh viên để kích thích mâu thuẫn, đem đảng và chính phủ đẩy về phía đối lập gay gắt với sinh viên. Sau khi trả qua cải cách mở cửa, việc sinh viên phê phán lãnh đạo vốn đã không tính là việc gì to tát, phát tiết một chút cảm xúc mà thôi, nó không hề có nghĩa là những sinh viên này muốn lật đổ chế độ của chúng ta. Nhưng nếu đem những lời nói phê bình Đặng tập trung lại và nói lại cho Đặng nghe, đây là việc làm kích thích quá mức đối với người gia. Những người này còn đem những phát ngôn quá khích của một số cực ít, tản mát và phân tán nói thành đó là ý kiến chính của phong trào sinh viên, đem mũi nhọn đấu tranh chỉ về phía Đặng. Bởi vì Đặng trong nhiều năm đã hình thành phương thức tư duy “đấu tranh giai cấp là cương lĩnh”[11], do vậy một khi nghe thấy Lý Bằng và những người khác báo cáo như vậy liền có bài phát biểu như vậy. Đây có lẽ là nguyên nhân chủ yếu.

Khi tôi ở Triều Tiên, những ghi chép quan trọng và nội dung phát biểu của Đặng trong hội nghị Ban thường vụ Bộ Chính trị đã được gửi cho tôi thông qua Đại sứ quán. Tôi gửi điện hồi đáp biểu thị: Tôi hoàn toàn đồng ý với quyết sách của đồng chí Tiểu Bình đối phó với tình hình rối loạn hiện nay. Những văn kiện này được gửi tới tôi, tôi nhất định phải tỏ thái độ, cũng không thể bày tỏ ý kiến bất đồng, bởi vì tôi ở nước ngoài không hiểu rõ được tình hình trong nước. Nhưng tôi không đưa ra biểu thị đối với nội dung ghi chép của hội nghị Ban thường vụ. Đọc xong phát biểu của Đặng, phản ứng đầu tiên của tôi ngay vào lúc đó chính là nghĩ rằng lại một cuộc vận động phản tự do hóa sắp xảy ra. Tôi lúc đó nghĩ rằng phong trào sinh viên sẽ không thể dập tắt được, bởi vì tôi không hề cho rằng đây là một vấn đề quá lớn. Điều tôi lo lắng là công cuộc cải cách từ Đại hội 13 cho đến lúc đó, nhất là xu thế cải cách chính trị bị tổn hại, bởi vì Đặng cho rằng, phong trào sinh viên là xuất phát từ cuộc vận động phản tự do hóa không có hiệu quả.

Ở trước có đề cập đến, sau khi lễ truy điệu kết thúc, xu thế của phong trào sinh viên bắt đầu hòa hoãn lại, hơn nữa trong nội bộ sinh viên cũng có bất đồng ý kiến, một bộ phận sinh viên chủ trương quay lại giảng đường, đây là cơ hội rất tốt. Chỉ cần chúng ta thêm một bước làm tốt công tác, phong trào sinh viên có thể bình ổn trở lại. Nhưng bài xã luận 26 tháng 4 vừa được công khai, tình hình lập tức có sự thay đổi, kích thích thêm rất nhiều mâu thuẫn. Sinh viên đã bị kích thích tức giận bởi những ngôn từ và chụp mũ của bài xã luận. Cái gì mà “phản đảng phản chủ nghĩa xã hội”, “có kế hoạch có mục đích” vân vân, sinh viên trong nhiều năm đã không nghe thấy những từ ngữ như vậy, tâm trạng của họ ngay lập tức đã được kích động lên, ngay cả những người vốn đứng ở thế trung lập cũng bị đẩy sang phía thành phần quá khích. Sau khi từ Triều Tiên trở về tôi đã tìm tới mấy sinh viên đại học và nói chuyện cùng với họ, bọn họ đều nói về tình hình gần đây. Bài xã luận 26 tháng 4 vừa đăng, các lực lượng xã hội bao gồm các cơ quan chính phủ đều rất bất mãn, “tại sao lại làm ra thứ đồ như vậy?” Bởi vậy biểu tình đường phố ngày 27 tháng 4 đã có tới 100 nghìn người tham gia. Bởi vì những ngôn từ của xã luận 26 tháng 4 tương đối khắt khe nghiêm khắc, các sinh viên cảm thấy rằng hành động này có thể bị đàn áp, bởi vậy có sinh viên trước khi tham gia xuống đường đã viết thư di ngôn cho người nhà và bạn bè. Xã luận 26 tháng 4 không những kích thích sinh viên, mà các cơ quan, đoàn thể, đảng phái dân chủ[12] cũng nảy sinh tinh thần chống đối phổ biến. Bọn họ không hiểu, chống đối, thậm chí là phản cảm. Họ cho rằng sinh viên quan tâm tới việc quốc gia đại sự, quan tâm tới vận mệnh cải cách, đưa ra ý kiến về các vấn đề điểm nóng xã hội, là hành vi yêu nước đáng quý. Chính phủ không những không bày tỏ bảo vệ, hướng dẫn, ngược lại đứng ở phía đối lập với sinh viên, đem cái mũ “phản đảng phản chủ nghĩa xã hội” chụp lên đầu sinh viên, đem dọa dẫm sinh viên bằng bài xã luận có mùi vị thuốc súng đậm hơn. Đặc biệt là sự phản ứng càng thêm kịch liệt từ phía phần tử trí thức. Chính phủ làm ra hành động như vậy, dư luận xã hội càng đồng tình ủng hộ sinh viên. Từ những ảnh chụp và thước phim quay ở hiện trường thì có thể thấy, khi đội ngũ biểu tình của sinh viên đi đến đâu, quần chúng hai bên đường liền vỗ tay chào đón, hô lên các khẩu hiệu ủng hộ, có một số người thậm chí gia nhập vào đội ngũ biểu tình. Ngay cả lực lượng cảnh sát làm nhiệm vụ ngăn cản biển tình cũng chỉ là hời hợt thi hành một lúc rồi mở đường cho sinh viên. Vốn là có bố trí một số tuyến phong tỏa, đội ngũ sinh viên đi đến đâu, cảnh sát nhường đường đến đó, đoàn biểu tình của sinh viên có thể đi lại không hạn chế.

Vào thời điểm đó có nhiều đồng chí lão thành cách mạng tương đối lo ắng về biểu tình của sinh viên. Bởi vì biết rõ Tiểu Bình có bài phát biểu như vậy, sẽ tăng thêm mâu thuẫn, xảy ra sự kiện đổ máu, nhiều lần bày tỏ muốn Trung ương kiềm chế, không nên sử dụng vũ lực. Bành Chân[13] trực tiếp mấy lần gọi điện thoại cho Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nói rằng bất luận thế nào cũng không được sử dụng vũ lực, bất luận thế nào đều cầm kiềm chế, hy vọng Trung ương không nên để tăng thêm mâu thuẫn. Vào lúc đó chỉ có Lý Tiên Niệm[14] sau khi nghe bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình, đã gọi điện thoại cho Tiểu Bình nói: “Cần hạ quyết tâm bắt giữ mấy mươi vạn người!”, câu nói này không biết là có chuẩn xác hay không. Còn có Vương Chấn, ông ta cũng chủ trương bắt nhiều người một chút. Đối mặt với đội ngũ hàng nghìn hàng vạn người biểu tình, cộng thêm có nhiều đồng chí lão thành đưa ra khuyến cáo, thì những người vốn có quyết tâm giải tán cuộc biểu tình, như lãnh đạo thành ủy Bắc Kinh và Lý Bằng cũng thúc thủ vô sách, không làm gì được. Đây đương nhiên là một việc tốt. Các sinh viên vốn cho rằng biểu tình sẽ gặp phải đàn áp, kết quả là không có sự việc gì xảy ra cả. Như vậy, sau khi những sinh viên tham gia biểu tình quay trở lại trường học, liền ăn mừng thắng lợi, vui sướng nhảy múa, càng thêm không sợ gì nữa.

Bởi vì truyền đạt đi bài nói chuyện của đồng chí Đặng Tiểu Bình, đem nó viết thành xã luận, các hội học sinh, tổ chức đảng đoàn, hiệu trưởng, giáo viên, bọn họ vốn là hết sức ngăn cản sinh viên, nói với sinh viên rằng bất kể thế nào cũng không nên đi biểu tình. Sau khi sinh viên quay về trường, làm cho cán bộ đảng đoàn trong trường gặp phải cảnh bị xa lánh, bọn họ cảm thấy oan uổng, có tâm lý oán hận, cho rằng bị bán rẻ, tự nhiên không muốn làm tiếp. Bao gồm cả những người như Trần Hy Đồng cũng có cảm giác này. Ngày 1 tháng 5 Ban thường vụ Bộ Chính trị nghe báo cáo từ Thành ủy Bắc Kinh, Trần Hy Đồng một bụng lửa giận, nói những cán bộ cơ sở trong trường đại học cảm thấy bị bán đứng. Tôi phê bình anh ta: Ai bán đứng ai?

Kết quả của cuộc biểu tình ngày 27 tháng 4 nói rõ mấy việc sau: Vốn nghĩ rằng một khi xã luận 26 tháng 4 được đăng công khai, luận điệu “phản đảng phản chủ nghĩa xã hội” được định ra, thì sinh viên sẽ không dám hành động tiếp, kết quả không nhưng không ép xuống được, ngược lại để sự việc diễn biến càng lớn. Điều này nói rõ rằng dùng biện pháp cũ khi đem vấn đề nâng tầm thành cương lĩnh đường lối trước đây hiển linh nhưng hiện tại đã không còn linh nghiệm nữa, đó là thứ nhất. Thứ hai, chính vì truyền đạt rộng rãi nội dung phát biểu của Đặng ngày 25 tháng 4, sinh viên đều biết rằng xã luận 26 tháng 4 là Đặng hoàn toàn ủng hộ, nhưng vẫn bất chấp tất cả đi lên phố biểu tình, điều này cho thấy rằng việc dựa vào những lãnh đạo quyền uy nhất để phát ngôn đã không còn linh nghiệm nữa. Thứ ba, thành phố Bắc Kinh vừa mới ban hành quy định quản lý biểu tình mít tinh, đưa ra những biện pháp nghiêm ngặt để quản lý và hạn chế biểu tình, tất cả những biện pháp này đều không còn linh nghiệm nữa, xem như là phế bỏ, cảnh sát ngăn trở cũng không được. Vào lúc đó sau khi tôi quay về Bắc Kinh tìm hiểu rõ những tình hình này thì có một cảm giác, nếu như tình hình không được hòa hoãn thì nhất định sẽ sử dụng vũ lực. Hiện nay tình hình đã không giống với ngày 27 tháng 4 nữa, sinh viên trải qua biểu tình lớn ngày 27 tháng 4 hiện tại đã không còn sợ việc gì nữa. Bọn họ cho rằng chính phủ không làm gì được bọn họ, chính phủ có thủ đoạn gì đều đã dùng hết rồi, chỉ còn thừa lại một chiêu sử dụng quân đội, mà vào lúc đó sinh viên cho rằng chính phủ sẽ không sử dụng quân đội. Do vậy sự việc về sau chính là khó thực hiện tiếp rồi. Tổng kết lại, xã luận 26 tháng 4 đã đưa tới tác dụng ngược đối với toàn bộ sự tình ở Bắc Kinh, tăng thêm độ khó cho việc giải quyết vấn đề ở phía sau đó.

Những điều ở trên đã cho thấy, nếu như không sử dụng những biện pháp khơi thông bế tắc, đối thoại, muốn dùng những thủ đoạn cứng rắn để ngăn chặn phong trào sinh viên, ngoại trừ việc sử dụng quân đội thì không còn biện pháp nào khác. Khi tôi trên đường từ Triều Tiên quay về nước đi ngang qua Thẩm Dương, đã nghe báo cáo của chính quyền Thẩm Dương, bọn họ cũng là truyền đạt bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình, tỉnh ủy đều nghi ngờ: hiện nay còn dùng những biện pháp này thì có được không? Bọn họ nói, sau khi truyền đạt bài phát biểu của Đặng đã có rất nhiều người chửi Đặng. Do đó sau khi tôi từ Triều Tiên trở về cảm thấy cục diện rất nguy hiểm. Sau xã luận 26 tháng 4, những biện pháp khác tất cả đều không linh nghiệm nữa, tồn tại khả năng xảy ra một cuộc đổ máu quy mô lớn.

[1] Lý Tích Minh (1926-2008): Quê ở huyện Đông Lộc, nay là thị xã Tân Tập, tỉnh Hà Bắc. Từng giữ chức Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư thành ủy Bắc Kinh. Trong sự kiện Lục Tứ năm 1989 với vai trò là lãnh đạo của thành phố Bắc Kinh, có vai trò là người tham gia tạo gió thêm sóng nhằm sử dụng vũ lực trấn áp sinh viên. Năm 1993 giữ chức Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc.

[2] Trần Hy Đồng (1930-2013): Quê ở huyện An Nhạc tỉnh Tứ Xuyên. Vào thời điểm đó giữ chức Ủy viên Quốc vụ, thị trưởng thành phố Bắc Kinh. Trong sự kiện Lục Tứ năm 1989 với vai trò là lãnh đạo của thành phố Bắc Kinh, có vai trò là người tham gia tạo gió thêm sóng nhằm sử dụng vũ lực trấn áp sinh viên. Sau sự kiện Lục Tứ, Trần Hy Đồng đại diện cho Quốc vụ viện đọc “Báo cáo tình hình liên quan đến việc chấm dứt động loạn và dập tắt bạo loạn phản cách mạng”. Từ năm 1992-1995 giữ chức Bí thư thành ủy Bắc Kinh. Năm 1995, Trần Hy Đồng xin từ chức Bí thư Thành ủy Bắc Kinh, năm 1997 bị khai trừ khỏi Đảng và bãi bỏ mọi chức vụ. Năm 1998, bị bắt giữ, xét xử và tuyên phạt 16 năm tù về các tội tham ô, không làm tròn nhiệm vụ. Trước đó, vào năm 1997, con trai là Trần Tiểu Đồng cũng bị phạt 12 năm tù vì tội nhận hối lộ. Ngày 31 tháng 5 năm 2006, tại nhà tù Tần Thành, Bắc Kinh, Trần Hy Đồng được phép bảo lãnh tại ngoại chữa bệnh. Qua đời vào sáng ngày 2 tháng 6 năm 2013 ở tuổi 83.

[3] Vạn Lý (1916-2015): Quê ở huyện Đông Bình, tỉnh Sơn Đông. Năm 1977 khi giữ chức Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy An Huy, đã thúc đẩy chính sách thầu khoán đến tận hộ gia đình và thu được thành công lớn. Là một trong những người lãnh đạo và ủng hộ quan trọng đối với Cải cách mở cửa. Từ năm 1980-1988 giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương ĐảngTrung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Ban Bí thư, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp quốc gia. Năm 1988 giữ chức Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Khóa 7.

[4] Trong tiếng Trung là “quan đảo”: Đây là một cách dùng từ thịnh hành trong thập niên 1980 ở Trung Quốc. Nó chỉ hiện tượng quan chức (hoặc thân thích trong gia đình) lợi dụng quyền lực của bản thân, trong chế độ hai giá (giá nhà nước quy định và giá thị trường), đem hàng hóa tuồn ra bán theo giá thị trường để kiếm lợi. Đây là một trong những hình thức tham nhũng, quan – thương câu kết vào lúc đó. Sau đàn áp Lục Tứ, cơ chế giám sát của người dân hoàn toàn biến mất, tham nhũng hủ bại càng nghiêm trọng. Hiện tượng tuồn hàng bán theo giá thị trường chỉ là trò vặt vãnh trong tham nhũng quyền lực trước các hành động thôn tính tài sản nhà nước, chiếm hữu đất công, lũng đoạn nghề nghiệp trên quy mô lớn. Do vậy cụm từ “quan đảo” dần dần biến mất.

[5] Phản đảng phản chủ nghĩa xã hội là một tội danh được sử dụng bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1957 trong “đấu tranh chống hữu khuynh”, một mực được sử dụng về sau, trở thành công cụ đắc lực để Trung Quốc chống lại dị đoan, khác biệt chính kiến.

[6] Dương Thượng Côn (1907-1998): quê ở Đồng Nam thành phố Trùng Khánh. Gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1926, từ năm 1982-1987 giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương ĐảngTrung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch của Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kiêm Tổng thư ký. Năm 1988 giữ chức Chủ tịch nước. Là một trong những nguyên lão có sức ảnh hưởng trong đảng vào thời điểm đó. Trong phong trào sinh viên 1989, ban đầu Dương Thượng Côn ủng hộ phương châm của Triệu Tử Dương, về sau ủng hộ quyết sách của Đặng Tiểu Bình trấn áp sinh viên.

[7] Phong trào Ngũ Tứ: Ngày 4 tháng 5 năm 1919, từ Bắc Kinh làm điểm khởi đầu, đã diễn ra các hoạt động diễu hành biểu tình, bãi công, thỉnh nguyện của sinh viên, học sinh, công nhân, thị dân, trí thức Trung Quốc. Sau khi Thế chiến I, các nước thắng trận đã ký kết bản Hiệp ước Versailles, trong đó có điều khoản chuyển giao chủ quyền tỉnh Sơn Đông từ tay Đức sang cho Nhật Bản trong khi đó chính phủ Bắc Dương có thái độ mềm yếu, các tầng lớp người dân Trung Quốc, đặc biệt là học sinh sinh viên đã đứng lên đấu tranh chống lại quyết định này. Phong trào Ngũ Tứ có sức ảnh hưởng sâu rộng về sau, các phần tử trí thức cấp tiến Trung Quốc dần xa rời mô hình của Phương Tây, tiếp cận gần hơn với lý tưởng cách mạng kiểu Liên Xô, giúp Đảng Cộng sản Trung Quốc đặt nền móng vững chắc về tư tưởng và xã hội để giành chính quyền sau này.

[8] Mao Mao/ Đặng Dung (sinh 1950-). Mao Mao là tên biệt danh của con gái thứ ba của Đặng Tiểu Bình. Về sau đảm nhiệm chức Phó Chủ tịch Hội liên hiệp hữu hảo quốc tế Trung Quốc.

[9] Người khởi thảo viết bài diễn văn kỷ niệm Ngũ Tứ là Viện trưởng Viện khoa học xã hội Trung Quốc Hồ Thằng. Bào Đồng là người biên tập bài phát biểu.

[10] Bào Đồng (sinh 1932-): Quê ở Hải Ninh, Gia Hưng, Chiết Giang. Từng giữ chức Ủy viên Trung ương ĐảngTrung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thư ký Ban thường vụ Bộ chính trị, Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu cải cách thể chế chính trị Trung ương. Trước năm 1987 khi Triệu Tử Dương giữ chức Thủ tướng Quốc vụ viện, Bào Đồng giữ chức Thư ký Thủ tướng Quốc vụ viện, kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách thể chế kinh tế Quốc gia. Trong sự kiện Lục Tứ 1989, Bào Đồng bởi vì phản đối chủ trương trấn áp sinh viên bằng vũ lực của Đặng Tiểu Bình, bị giam giữ phi pháp ở nhà tù Tần Thành. Năm 1992 bị tuyên án giam giữ 7 năm tù.

[11] Đấu tranh giai cấp là cương lĩnh là hạt nhân của tư tưởng Mao Trạch Đông, cũng là “tư tưởng chỉ đạo căn bản” để ông ta tiến hành quyết sách.

[12] Hiện nay ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc có 8 đảng được chính thức công nhận là: Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc (gọi tắt là Dân Cách) Đồng minh dân chủ Trung Quốc (gọi tắt là Dân Minh) Hội kiến quốc dân chủ Trung Quốc (gọi tắt là Dân Kiến) Hội xúc tiến dân chủ Trung Quốc (gọi tắt là Dân Tiến) Đảng dân chủ nông công Trung Quốc (gọi tắt là Nông Công Đảng)Đảng trí công Trung Quốc (gọi tắt là Trí Công Đảng) Học xã Cửu TamĐồng minh tự trị dân chủ Đài Loan (gọi tắt là Đài Minh). Đây là 8 tổ chức chính trị phụ thuộc tuyệt đối vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, là vật trang trí cho bình hoa chế độ.

[13] Bành Chân (1902-1997): Quê ở huyện Khúc Ốc tỉnh Sơn Tây. Là một nguyên lão của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong thời gian dài từng giữ chức Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư thường trực Ban Bí thư. Từng bị thất sủng trong Cách mạng văn hóa. Năm 1979 phục hồi chức vụ, giữ chức Ủy viên Bộ chính trị, Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Từ năm 1983-1988 giữ chức Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc.

[14] Lý Tiên Niệm (1909-2002): quê ở huyện Hoàng An (nay là Hồng An) tỉnh Hồ Bắc. Từ năm 1954-1980 giữ chức Phó Thủ tướng Quốc vụ viện; Trước thời kỳ Cách mạng văn hóa là một trong những trợ thủ của Trần Vân, trong Cách mạng văn hóa đứng về phía Trần Vân, phụ trách công tác tài chính, thương mại và kinh tế. Từ 1977-1987 giữ chức Ủy viên Ban thường vụ Bộ chính trị; năm 1983 giữ chức Phó Chủ tịch nước, sau năm 1988 giữ chức Phó Chủ tịch Chính hiệp; là một trong số các nguyên lão có ảnh hưởng vào lúc đương thời. Về chính trị và kinh tế ông ta đều phản đối cải cách. Trong sự kiện Lục Tứ 1989, ông ta chủ trương dùng vũ lực trấn áp sinh viên và người dân.



Chuyên mục:Lotus Media, Nhân vật - Sự kiện, Nhân vật, Sự kiện, Tác giả - Tác phẩm, Tác giả, tác phẩm, Trên kệ sách

Thẻ:,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: