Đọc lại Tiểu truyện của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn
và một thời sinh tử của Phật giáo Việt Nam
Hành trạng của một bậc cao Tăng đi qua lịch sử đôi khi để lại rất nhiều ngày tháng, ngôi vị…, nhưng có khi tất cả những gì hậu thế cần nhớ thì nằm trong một vài lời nói ngắn ngủi. Đối với Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn, bản Tiểu Truyện mà chính Hòa thượng kể lại tưởng chỉ là bản kê biên niên cuộc đời từ tuổi ấu niên xuất gia, học Phật, giáo dục, hoằng pháp rồi lưu lạc ra hải ngoại, nhưng giữa những điều tưởng chừng rất riêng tư ấy còn thấp thoáng khuôn mặt của cả một thời đại và Phật Giáo Việt Nam, nhìn bằng cảm thức của Hòa thượng về những năm sau 1975 – một thời kỳ “bất tương dung” – với những đe dọa và áp lực từ “cục R[1]”.
Trong ký ức ấy, đặc biệt ấn tượng là lời Hòa thượng thuật lại về một cuộc tiếp xúc năm 1978. Đại ý, người cán bộ nói rằng nếu các thầy không đi cùng chế độ thì họ có thể tạo ra một lớp Tăng Ni khác, đưa một phần tư tưởng Mác–Lênin vào triết lý Phật giáo, thêm vào đó danh vị và quyền lợi; rồi chỉ cần một thời gian đủ dài, khoảng bốn mươi năm, thế hệ cũ sẽ già đi và một cấu trúc Phật giáo khác sẽ thay thế.
Đọc những dòng tiểu truyện này sau gần nửa thế kỷ, điều cần thiết trước tiên là sự bình tĩnh của người học sử. Một hồi ký là chứng ngôn của nhân chứng nên nó có giá trị đặc biệt bởi lưu giữ kinh nghiệm mà văn kiện hành chánh thường không ghi lại.
Bấy giờ, đặt nó đúng vào chức năng chứng ngôn khiến câu chuyện trở nên đáng suy gẫm hơn, nghĩa là chúng ta không còn tranh cãi xem một câu nói đã được ban hành thành chính sách hay chưa, ở đây đặt thành một mệnh đề vì sao một bậc Tăng sĩ sống trong thời đại ấy lại cảm nhận tương lai Phật giáo trước mặt mình nghiêm trọng đến mức như vậy?
Câu hỏi ấy dẫn chúng ta vào một trong những khúc quanh sinh tử nhất của Phật giáo Việt Nam hiện đại.
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời đầu năm 1964 từ một vận động kết hợp nhiều tổ chức và truyền thống Phật giáo, trong bối cảnh Phật giáo vừa trải qua biến động 1963. Hiến chương của Giáo hội từng xác lập một quan niệm đáng chú ý: Giáo hội không đặt sự tồn tại của mình trong một vị thế cá biệt, mà đặt sự tồn tại ấy trong sự tồn tại của dân tộc và nhân loại. Đó là một quan niệm về Giáo hội rộng hơn một cơ cấu hành chánh nghĩa là, Giáo hội như môi trường để Tăng-già, cư sĩ, giáo dục, văn hóa và trách nhiệm xã hội cùng tồn tại trong một trật tự có tính tự chủ.
Sau năm 1975, toàn bộ không gian xã hội Việt Nam bước vào một cấu trúc chính trị khác. Tôn giáo đương nhiên cũng phải đối diện với một quan hệ mới giữa tín ngưỡng và nhà nước, giữa quyền tự trị tôn giáo và cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa. Đối với Phật giáo miền Nam, đây không phải một biến đổi nhỏ về thủ tục hành chính. Những thiết chế giáo dục, văn hóa, xã hội, tổ chức Tăng Ni và mạng lưới sinh hoạt được kiến tạo trong những thập niên trước phải tìm cách tồn tại trong một trật tự hoàn toàn mới.
Đến tháng 11 năm 1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, với 168 đại biểu thuộc chín tổ chức và hệ phái. Trong diễn giải chính thức của GHPGVN, đây là cuộc thống nhất Phật giáo toàn quốc, trên nguyên tắc thống nhất tổ chức nhưng vẫn duy trì truyền thống hệ phái và các pháp môn tu hành đúng Chánh pháp; phương châm được xác định là “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội.”
Nhưng lịch sử của một thời đại hiếm khi chỉ có một cách kể.
Các tư liệu khác, kể cả những báo cáo nhân quyền quốc tế đương thời và những nghiên cứu pháp lý sau này, ghi nhận một mức độ kiểm soát đáng kể của nhà nước đối với sinh hoạt Phật giáo sau 1975 và đặc biệt sau khi cơ cấu mới được thiết lập năm 1981. Một nghiên cứu của Cambridge[2] về cơ chế quản trị Phật giáo tại Việt Nam nhận xét rằng Hiến chương của GHPGVN đồng thời vận hành trong một cấu trúc quản lý tôn giáo gắn khá chặt với nhà nước. Các báo cáo thường niên về nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong giữa thập niên 1980[3] ghi nhận những hạn chế đáng kể đối với sinh hoạt Phật giáo, gồm việc bắt giữ hoặc quản thúc một số Tăng sĩ, hạn chế sự đi lại và đào tạo, đóng cửa một số cơ sở giáo dục Phật giáo, cũng như sự giám sát đối với những trung tâm Phật giáo có ảnh hưởng trước năm 1975.
Giữa hai cách thuật ấy chính là nơi người viết sử phải hết sức dè dặt.
Bởi nếu giản lược toàn bộ lịch sử thành câu chuyện “bên này đúng, bên kia sai”, chúng ta sẽ phạm một bất công và bất kính khác đối với chính Tăng-già Việt Nam. Rất nhiều bậc cao tăng đức trọng đã hiện diện, phụng sự và hoằng pháp trong những cơ cấu khác nhau của Phật giáo Việt Nam. Mỗi vị đứng trước một hoàn cảnh, một nhận thức, một trách nhiệm và một phương tiện thiện xảo riêng. Người ở lại có nỗi khó của người ở lại; người bước vào cơ chế mới có những suy tư của người bước vào cơ chế mới; người từ chối có giá phải trả của người từ chối; người ra đi lại mang theo một nỗi lưu vong khác. Hậu thế không nên dùng sự an toàn của hôm nay để dễ dàng kết án những lựa chọn được thực hiện giữa sức ép của hôm qua.
Bởi vậy, vấn đề lớn nhất mà lời Hòa thượng gợi lên không phải là truy tìm xem một Tăng nhân nào “thuộc bên nào”. Vấn đề sâu xa hơn là số phận của tính tự chủ Phật giáo khi tôn giáo đứng trước một quyền lực có khả năng tổ chức lại toàn bộ môi trường xã hội.
Ở đây, nội hàm “bốn mươi năm” trở nên đặc biệt đáng suy nghĩ.
Bốn mươi năm không nhất thiết phải được hiểu như con số của một kế hoạch mà sử liệu hiện có đã đủ sức chứng minh. Trong chiều sâu biểu tượng của lời thuật, nó biểu thị một phương pháp biến đổi xã hội hết sức hiện đại đó là không cần hủy diệt một truyền thống trong một ngày, chỉ cần thay đổi dần môi trường sản sinh ra truyền thống ấy.
Một ngôi chùa có thể vẫn còn. Một pho tượng vẫn có thể được tôn trí. Chuông mõ vẫn có thể ngân. Lễ hội thậm chí có thể đông hơn trước. Nhưng câu hỏi sinh tử của một tôn giáo không nằm riêng ở số lượng chùa viện hay tín đồ. Nó nằm ở chỗ ai đào tạo thế hệ kế thừa? Tăng Ni được giáo dục trong hệ quy chiếu nào? Quyền uy tinh thần phát sinh từ giới đức và học hạnh hay từ vị trí hành chính? Giáo hội có khả năng tự quyết những vấn đề thuộc nội bộ Tăng-già đến đâu? Tiếng nói lương tâm của người tu có còn khoảng không để hiện hữu khi khác với tiếng nói của quyền lực hay không?
Đó, mới là chiều sâu đáng sợ của một cuộc khủng hoảng tôn giáo!
Một truyền thống đôi khi không bị tiêu diệt bằng bạo lực nhưng có thể bị làm cho biến dạng từ bên trong khi những chuẩn mực tạo nên căn tính của mình dần được thay bằng những chuẩn mực khác. Với Phật giáo, nguy cơ ấy càng tinh vi bởi đạo Phật vốn có khả năng thích nghi phi thường. Hai nghìn năm truyền nhập qua Ấn Độ, Trung Á, Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản cho thấy Phật giáo luôn biết tùy duyên với văn hóa bản địa. Nhưng tùy duyên không đồng nghĩa với đánh mất phần bất biến. Phương tiện có thể đổi; ngôn ngữ có thể đổi; hình thức tổ chức có thể đổi; nhưng Giới–Định–Tuệ, tinh thần vô úy, quyền tự do tìm cầu chân lý và phẩm cách độc lập của Tăng-già không thể chỉ còn là những danh từ sáo rỗng.
Bởi thế, nếu đọc lời Hòa thượng bằng tâm thức Phật học thay vì bằng tâm thức đấu tranh phe phái, chúng ta sẽ thấy nỗi lo của Hòa thượng rộng hơn chuyện tồn vong của một danh xưng Giáo hội. Điều Hòa thượng sợ có lẽ chính là sự thay đổi căn tính của người xuất gia qua nhiều thế hệ.
Một thế hệ bị bắt bớ vẫn còn biết mình bị bắt bớ. Một thế hệ bị ngăn cấm vẫn còn biết điều mình khao khát là tự do.
Nhưng nếu qua nhiều thập niên, một thế hệ mới sinh ra và trưởng thành trong một cấu trúc đã trở thành bình thường thì ranh giới giữa Phật sự và hành chính, giữa phương tiện và mục đích, giữa hộ trì Chánh pháp và bảo toàn vị thế đôi khi trở nên rất khó nhận diện. Khi ấy, điều mất đi nguy hiểm nhất chưa chắc là một cơ sở, một chức danh hay một Giáo hội; điều có thể mất là ký ức rằng Phật giáo từng có một cách tồn tại khác.
Ở điểm này, lịch sử của GHPGVNTN mang một ý nghĩa vượt khỏi chính tổ chức ấy.
GHPGVNTN có thể trải qua phân hóa; nhân sự của Giáo hội cũng là con người nên không tránh khỏi những giới hạn của con người; lịch sử của Giáo hội không phải một chuỗi hoàn hảo. Nhưng trong một giai đoạn nhất định, sự tồn tại dai dẳng của danh xưng ấy đã trở thành ký ức về một nguyên tắc đó là, một cộng đồng tôn giáo có quyền tự tổ chức đời sống tinh thần của mình từ giới luật, truyền thừa và đồng thuận nội tại, chứ sự chính danh tôn giáo không thể hoàn toàn phát sinh từ sự chuẩn nhận của quyền lực thế tục.
Chính nơi đó, vấn đề GHPGVNTN trở thành một chương trong lịch sử tự do tôn giáo của Việt Nam chứ không còn là câu chuyện riêng của một tổ chức.
Nhưng cũng chính nơi đây cần nói thêm một điều để tránh làm tổn thương Tăng-già: bảo vệ ký ức GHPGVNTN không đòi hỏi xúc phạm GHPGVN, càng không cho phép bất kỳ ai tùy tiện phán xét phẩm hạnh của chư Tôn đức đang hoặc từng sinh hoạt trong Giáo hội ấy. Thể chế là một phạm trù; con người là một phạm trù khác. Chính sách của một thời đại là một phạm trù; đạo hạnh của một vị Tăng lại thuộc một bình diện khác. Trong bất cứ thể chế nào vẫn có những bậc chân tu lặng lẽ giữ giới, giáo hóa chúng sinh, dịch kinh, đào tạo Tăng tài và cứu khổ. Đem tất cả con người đặt dưới một bản án chính trị là một cách đọc lịch sử vừa thô bạo vừa trái với tinh thần Phật giáo.
Nỗi bi đát của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên như vậy vì thế không phải là chuyện “Giáo hội này chống Giáo hội kia”. Bi kịch nằm ở chỗ lịch sử đã đẩy những người cùng thờ một Đức Phật, cùng tụng một bản kinh, cùng khoác một màu giải thoát y vào những lựa chọn thể chế khác nhau, rồi để những lựa chọn ấy trở thành vết rạn kéo dài qua nhiều thế hệ.
Nếu hôm nay đọc Tự Thuật của Cố Hòa thượng Thích Huyền Tôn mà chỉ tìm thêm một lý do để trách móc nhau, chúng ta đã phụ chính lời cảnh tỉnh ấy.
Điều cần học không phải là hiềm hận. Điều cần giữ là khả năng nhận diện những điều kiện khiến một tôn giáo đánh mất tự do nội tại của chính mình.
Đức Phật từng không xây dựng Giáo đoàn trên quyền lực cưỡng chế. Tăng-già tồn tại bằng Giới luật, yết-ma, sự hòa hợp và ý thức tự nguyện của cộng đồng tu sĩ. Từ nguyên lý ấy, mọi thời đại đều phải đối diện một câu hỏi căn bản đó là quyền lực thế tục có thể hỗ trợ Phật giáo, bảo vệ di sản, tạo điều kiện cho giáo dục và hành đạo; nhưng đường biên nào phải được giữ để sự hỗ trợ ấy không trở thành quyền quyết định thay cho đời sống tâm linh?
Đó là câu hỏi vượt qua mọi chế độ và mọi thời đại.
Bởi nhà nước nào cũng có nhu cầu quản trị; tổ chức nào cũng có khuynh hướng bảo vệ cấu trúc của mình; con người nào cũng có khả năng bị hấp dẫn bởi danh vị và quyền lợi. Cho nên giá trị của lời Hòa thượng không nằm ở chỗ nó giúp chúng ta xác định một kẻ thù vĩnh viễn. Giá trị của tự thuật ấy nằm ở chỗ chỉ cho Phật tử một nguy cơ vĩnh viễn: khi danh vọng, lợi dưỡng và quyền lực bước vào cửa thiền, nếu giới đức và trí tuệ không đủ mạnh, đạo có thể còn hình mà dần mất thần.
Đấy, mới là điều đáng sợ hơn mọi cuộc đàn áp!
Đàn áp từ bên ngoài thường làm người ta biết mình phải giữ gìn. Sự chuyển hóa âm thầm từ bên trong có thể khiến một ngày kia người ta quên luôn điều gì cần phải giữ.
Cuộc đời cố Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn sau đó lại trở thành một lời pháp bằng chính hành trạng. Ngài rời Việt Nam, trải qua Pulau Bidong rồi định cư tại Úc từ năm 1980; tại đây tiếp tục dựng đạo tràng, giáo dục, trước tác và góp phần xây dựng GHPGVNTN tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan. Những dữ kiện ấy cho thấy người viết những dòng tự thuật kia không phải một người đứng ngoài lịch sử để bình luận. Hòa thượng đã sống ngay trong vết cắt của lịch sử ấy, rồi mang theo một phần ký ức Phật giáo Việt Nam sang một lục địa khác.
Nhìn lại hôm nay, sau quãng thời gian gần trùng với con số “bốn mươi năm” trong lời kể năm nào, điều chúng ta nên làm không phải là kiểm tra xem lời tiên báo ấy “đúng bao nhiêu phần trăm”. Một tôn giáo hai nghìn năm không thể được định lượng như một kế hoạch hành chính. Phật giáo Việt Nam hôm nay vẫn hiện hữu với vô số tự viện, Tăng Ni, đạo tràng, cơ sở giáo dục và những sinh hoạt rộng lớn trong nước lẫn hải ngoại. GHPGVN đã phát triển thành một thiết chế Phật giáo quy mô toàn quốc; GHPGVNTN và những truyền thừa liên hệ vẫn tiếp tục hiện diện dưới những hình thức khác nhau. Lịch sử chưa kết thúc và cũng không thuộc độc quyền diễn giải của bất cứ phía nào.
Điều đáng hỏi hơn là sau bốn mươi năm, người Phật tử Việt Nam còn đủ khả năng phân biệt Đạo pháp với quyền lực hay không? Người xuất gia còn được kính trọng trước hết vì giới hạnh, tuệ học và phẩm cách hay bởi chức danh? Một Giáo hội được đo bằng quy mô tổ chức hay bằng khả năng bảo vệ phẩm giá và tự do tâm linh của Tăng Ni, Phật tử? Và chúng ta có đủ trưởng thành để nhìn lại những vết thương của lịch sử mà không biến ký ức thành hiềm hận mới hay không?
Nếu giải đáp được những câu hỏi ấy, lời của cố Hòa thượng năm xưa mới thực sự hoàn thành sứ mạng.
Bởi tri ân một bậc tiền bối không phải dựng lời của Ngài thành phương tiện để phê phán một người khác. Tri ân là giữ cho chứng nghiệm của người đi trước không bị lịch sử xóa mất; là từ đau thương học lấy trí tuệ; từ chia lìa học lấy bao dung; từ những năm tháng Phật giáo từng bị đặt trước những lựa chọn khắc nghiệt mà hiểu rằng tự do của Đạo pháp quý giá đến nhường nào.
Một thế hệ rồi sẽ già đi. Một cơ chế rồi cũng đổi thay. Một thời chính trị cuối cùng cũng trở thành sử liệu. Nhưng Chánh pháp tồn tại hay không, rốt cuộc vẫn tùy thuộc vào việc mỗi thế hệ Tăng Ni và Phật tử có đủ tỉnh thức để biết điều gì có thể tùy duyên và điều gì tuyệt đối không nên đem đổi lấy sự an ổn, danh vị hay quyền lợi.
Đọc Tự Thuật của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn, vì vậy, xin đừng đọc bằng lòng phẫn nộ. Hãy đọc như nghe một tiếng chuông từ một thời rất tối tăm. Tiếng chuông ấy không gọi chúng ta trở lại quá khứ để tiếp tục một cuộc phân tranh nhưng gọi người học Phật trở về với một câu hỏi muôn đời của Tăng-già: Giữa mọi biến thiên của thế cuộc, làm thế nào để Đạo vẫn là Đạo, người tu vẫn là người tu và ngọn đèn Chánh pháp không phải sáng nhờ quyền lực nào khác ngoài giới đức, trí tuệ và lòng vô úy của chính những người đang mang nó?
Và nếu còn có thể cúi đầu trước những khổ nạn mà tất cả những người con Phật — dù thuộc cơ cấu nào, đứng ở hoàn cảnh nào — từng phải trải qua, thì lịch sử ấy cuối cùng có thể trở thành trí nhớ để hóaa giải, thay vì ký ức để phân ly.
Thành kính đảnh lễ và tri ân Ôn. Tri ân một đời đã đi qua những đoạn trường của Đạo pháp mà vẫn lưu lại cho hậu thế một lời để nhớ, một việc để suy và một ngọn đèn để tự soi mình.
Nam Mô Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn thùy từ chứng minh, hộ trì cho hàng hậu học biết giữ sáng đạo tâm, giữ tròn khí tiết, và tiếp nối Chánh pháp giữa mọi thăng trầm của thế cuộc.
Phật lịch 2570 – Lôi Am Ẩn Tự 08.09.2026
TRÍ-TUỆ
_______________
[1] “Cục R” là cách gọi/mật danh quen dùng của Trung ương Cục miền Nam, cơ quan của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam được giao trực tiếp lãnh đạo công tác của Đảng tại miền Nam trong giai đoạn 1961–1975. Các tài liệu lịch sử chính thức ghi nhận Trung ương Cục có nhiều mật danh như A9, M40, KBN, Ba Đình…, trong đó “R” là mật danh được sử dụng phổ biến và lâu dài nhất, cả trong văn bản lẫn khẩu ngữ. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chức năng lịch sử của Trung ương Cục kết thúc; Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 29 tháng 9 năm 1975 quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam. Vì vậy, khi Hòa thượng Thích Huyền Tôn trong hồi ký thuật lại sự việc năm 1978 và dùng cách gọi “cán bộ Cục R”, nên hiểu đây là cách gọi theo lý lịch hoặc nguồn gốc công tác của những cán bộ từng thuộc hệ thống Trung ương Cục miền Nam, hoặc cách gọi còn lưu hành trong khẩu ngữ sau chiến tranh, chứ không nên hiểu rằng “Cục R” vẫn tồn tại năm 1978 như một cơ quan chính thức.
[2] Ngoc Son Bui, “Governing Buddhism in Vietnam,” in Buddhism and Comparative Constitutional Law, ed. Tom Ginsburg and Benjamin Schonthal (Cambridge: Cambridge University Press, 2022), 272–284, đặc biệt 272, https://doi.org/10.1017/9781009286022.018.
[3] U.S. Department of State, Country Reports on Human Rights Practices for 1985: Report Submitted to the Committee on Foreign Affairs, House of Representatives and the Committee on Foreign Relations, U.S. Senate (Washington, D.C.: U.S. Government Printing Office, 1986), mục “Vietnam,” đặc biệt §2(c), “Freedom of Religion,” pp. 893–903. Báo cáo ghi nhận việc nhà chức trách kiểm soát sinh hoạt tôn giáo, hạn chế việc đào tạo và đi lại của tu sĩ, bắt giữ hoặc quản thúc một số Tăng sĩ, đóng cửa một số cơ sở Phật giáo, và theo dõi chặt các chùa như Ấn Quang, Xá Lợi và Vĩnh Nghiêm.