Phải chăng cuối cùng, chỉ chừng ấy khuôn mặt văn nghệ còn quây quần bên sách. Một buổi ra mắt, vài hàng ghế thưa, những mái đầu đã bạc, những bàn tay quen thuộc chuyền nhau một tác phẩm vừa in. Người viết nhận ra người đọc, người đọc phần lớn cũng là người viết. Ngoài ô cửa, đời sống vẫn cuồn cuộn băng qua bằng một ngôn ngữ khác. Hoàn cảnh này, nếu nhìn với chút cảm hoài dễ gợi thành nỗi buồn của một thời văn chương xế bóng. Song, một khi được nhìn bằng nhãn quan lịch sử thì đây không hẳn là sự cáo chung. Nó là dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng chuyển tiếp của văn học Việt hải ngoại đã đi gần hết chu kỳ hình thành ban đầu nhưng chưa kiến tạo được trọn vẹn những điều kiện để một chu kỳ kế tiếp vận hành.
Văn học Việt hải ngoại không khởi sinh như một trào lưu thuần túy nghệ thuật. Nó được thai nghén trong chiến tranh, vượt thoát, lưu đày, trại tù, biển động và nỗi kinh hoàng của những gia đình bỗng chốc bị lịch sử bứng khỏi quê hương. Đối với thế hệ đầu tiên, cầm bút không những chỉ là sáng tạo. Viết, còn là làm chứng, gìn giữ ký ức, xác lập căn cước và chống lại nguy cơ bị xóa tên khỏi lịch sử.
Bởi vậy văn chương hải ngoại suốt nhiều thập niên mang một trọng lượng đạo lý đặc thù. Mỗi trang viết vừa là tác phẩm, vừa là di cảo của một cộng đồng lưu vong thất tán. Mỗi tờ báo là diễn đàn văn học, đồng thời là một mái nhà tinh thần. Mỗi nhà xuất bản khiêm tốn nhiều khi hoạt động bằng tiền túi và sự hy sinh vô danh, đã làm công việc của một định chế văn hóa mà không hề có ngân sách, trường ốc hay hậu thuẫn quốc gia.
Chính trong hoàn cảnh ấy tạo nên sức mạnh nhưng cùng lúc đã sẵn đối diện nhiều giới hạn. Khi ký ức lưu vong là nguồn năng lượng chủ yếu, văn học dễ neo chặt vào biến cố khai sinh của mình. Biến cố ấy càng lùi xa, người trực tiếp trải qua càng thưa vắng, trong khi những thế hệ kế tiếp không còn sống trong cùng một cấu trúc cảm xúc. Họ có thể kính trọng câu chuyện của cha ông nhưng không nhất thiết nhận câu chuyện ấy làm trung tâm kinh nghiệm của chính mình. Khoảng cách bắt đầu xuất hiện không phải vì lớp trẻ vô tình, mà vì lịch sử đã đặt họ vào một chân trời khác.
Nguyên nhân dễ nhìn thấy nhất là sự lão hóa tự nhiên của thế hệ sáng lập. Những người từng dựng báo, in sách, tổ chức văn đàn và nuôi dưỡng sinh hoạt văn nghệ sau năm 1975 nay đã bước vào tuổi cao niên hoặc lần lượt khuất bóng. Cùng với họ, một lớp độc giả được đào tạo trong nền giáo dục Việt Nam trước đây cũng dần lui khỏi sinh hoạt công cộng. Đây không đơn giản chỉ là chuyện mất đi một số cá nhân, đó là sự tan rã của cả một môi trường tiếp nhận, nơi người đọc từng có chung vốn ngôn ngữ, lịch sử, điển cố và mỹ cảm.
Xa hơn là sự đoạn lìa ngôn ngữ. Tiếng Việt đối với thế hệ thứ nhất là quê hương mang theo. Đối với thế hệ thứ hai, nó thường là ngôn ngữ gia đình. Đn thế hệ thứ ba, nhiều khi chỉ còn là một lớp ký ức văn hóa. Khi năng lực đọc văn chương tiếng Việt suy giảm, tác phẩm dù có giá trị cũng khó bước qua biên giới của cộng đồng đã sản sinh ra nó. Một nền văn học không mất đi ngay khi người viết ngừng viết, nó bắt đầu nguy khốn từ lúc không còn đủ người có khả năng đọc những tầng sâu nhất của ngôn ngữ ấy.
Khủng hoảng kế tiếp thuộc về định chế. Văn học hải ngoại từng phát triển nhờ báo chí, tạp chí, nhà xuất bản, hiệu sách và các hội đoàn địa phương. Phần lớn những cơ sở này tồn tại bằng nhiệt tâm cá nhân hơn là một cơ chế lâu dài. Khi người chủ trương mỏi sức hoặc qua đời, tờ báo đình bản, kho sách thất tán, hồ sơ biến mất, mạng lưới cộng tác tan theo. Chúng ta đã có nhiều người viết đáng quý, nhưng chưa xây dựng được tương xứng những thư viện, trung tâm lưu trữ, quỹ dịch thuật, chương trình nghiên cứu và cơ chế kế thừa đủ sức đưa tác phẩm vượt khỏi tuổi thọ của tác giả.
Thói quen đọc cũng đã đổi khác. Không gian kỹ thuật số mở ra khả năng phổ biến chưa từng có, theo đó làm suy yếu sự chú tâm cần thiết cho văn chương. Một bài viết dài phải cạnh tranh với video ngắn, tin tức tức thời và vô số kích thích được thuật toán liên tục đẩy tới. In sách vì vậy trở nên dễ hơn ở phương diện kỹ thuật nhưng khó hơn ở phương diện tiếp nhận. Sách vẫn ra đời, ra đời ồ ạt, song đời sống của sách nhiều khi khép lại ngay trong buổi giới thiệu, giữa tác giả, bằng hữu và một vòng thân hữu vốn đã quen biết nhau.
Bên cạnh đó là tình trạng nội hướng của chính sinh hoạt văn nghệ. Khi một cộng đồng thu hẹp thì văn chương dễ trở thành một vòng tròn tương kính. Người viết đọc nhau, giới thiệu nhau, trao tặng nhau những lời trang trọng, trong khi phê bình học thuật ngày càng mỏng. Tình nghĩa là điều đáng quý nhưng tình nghĩa không thể thay thế thẩm định. Thiếu phê bình nghiêm túc, giá trị thật và sự tán thưởng xã giao dần lẫn vào nhau. Người đọc bên ngoài không biết đâu là tác phẩm cần tìm, còn người viết trẻ cũng thiếu một môi trường đối thoại đủ khắt khe để trưởng thành.
Cũng vậy, một số diễn ngôn lại quá nặng hoài niệm mặc dù hoài niệm vốn là chất liệu chính đáng của lưu vong, nhưng khi trở thành nơi trú ngụ thường trực, nó có thể biến văn chương thành căn phòng đóng kín. Quê hương trong ký ức được bảo tồn gần như bất động, trong khi quê hương thực tế đã đổi khác và đời sống của người Việt trên thế giới cũng đang nảy sinh những vấn đề mới về căn cước lai ghép, xung đột thế hệ, chủng tộc, giới tính, lao động, tôn giáo, kỹ thuật, khủng hoảng môi sinh và cảm thức thuộc về nhiều nơi mà vẫn bơ vơ giữa nhiều nơi. Nếu văn học không chạm đến những kinh nghiệm đang hình thành ấy, lớp trẻ sẽ tìm thấy tiếng nói của mình trong những nền văn học khác.
Sau cùng là những phân rẽ kéo dài từ lịch sử, chính trị, địa phương và tổ chức. Ký ức cộng đồng cần được bảo vệ, nhưng khi ký ức trở thành hàng rào phán xét, văn đàn sẽ tự thu hẹp biên giới của nó. Một nền văn học chỉ thực sự trưởng thành khi đủ sức giữ lấy sự thật lịch sử mà vẫn mở được không gian cho khác biệt, tranh luận và những kinh nghiệm không giống nhau. Chính kiến có thể làm nên tư cách người viết, ngược lại, phe phái chỉ làm nghèo chân trời sáng tạo.
Nhưng điều đáng lo hơn sự suy giảm số lượng là nguy cơ bị đẩy ra ngoài lịch sử văn học. Hàng chục năm sáng tác ở hải ngoại đã tạo nên một di sản đồ sộ, nhưng phần lớn vẫn phân tán trong tư gia, kho báo cũ, máy tính cá nhân và những trang mạng có thể mất đi chỉ sau một lần máy chủ ngừng hoạt động. Nếu không được sưu tập, hệ thống hóa, số hóa và chú giải, nhiều tác phẩm sẽ qua đời lần thứ hai. Lần đầu khi tác giả khuất bóng, lần sau khi văn bản không còn ai tìm thấy.
Một nền văn học không thể chỉ sống bằng số sách đã in. Nó sống nhờ khả năng được đọc lại, diễn giải lại và tranh luận lại. Tác phẩm muốn bước vào lịch sử cần thư mục, văn bản chuẩn, phê bình, dịch thuật, giáo trình và những thế hệ độc giả mới. Thiếu các tầng trung gian ấy, văn chương dù phong phú vẫn chỉ là những hòn đảo cô độc giữa biển lưu trữ mịt mùng.
Bấy giờ, con đường phía trước trước hết đòi hỏi một sự thay đổi trong quan niệm. Văn học Việt hải ngoại không nên mãi được định nghĩa bằng địa lý hoặc thân phận lưu vong của thế hệ thứ nhất. Nó cần được nhìn như một bộ phận của văn học Việt toàn cầu nghĩa là đa trung tâm, xuyên quốc gia, đa ngữ và luôn vận động giữa quê hương với thế giới. Trong tầm nhìn ấy, một tác giả gốc Việt viết bằng Anh, Pháp, Đức hay Na Uy không nhất thiết đứng ngoài văn học Việt, nếu tác phẩm của họ vẫn đối thoại sâu xa với kinh nghiệm lịch sử, văn hóa và tâm thức Việt Nam.
Mở rộng khái niệm không có nghĩa là làm nhạt tiếng Việt. Trái lại, chính khi chấp nhận thực tại đa ngữ, chúng ta mới có thể bảo vệ tiếng Việt bằng những phương thức khả thi hơn. Cần xem dịch thuật như một con đường huyết mạch chứ không phải công việc phụ trợ. Tác phẩm quan trọng của thế hệ đi trước phải được tuyển chọn và chuyển dịch sang ngôn ngữ nơi cộng đồng đang sinh sống, đồng thời, sáng tác của các thế hệ sau cần được dịch trở lại tiếng Việt. Dịch thuật khi ấy không riêng đưa tác phẩm đến người đọc mới mà còn nối lại cuộc đối thoại đã đứt giữa ông bà, cha mẹ và con cháu.
Công việc kế tiếp là xây dựng ký ức có hệ thống. Cần một chương trình lưu trữ văn học Việt hải ngoại với tiêu chuẩn học thuật như thu thập sách báo, bản thảo, thư từ, hình ảnh, băng ghi âm, hồ sơ xuất bản và chứng từ sinh hoạt văn nghệ. Số hóa với dữ liệu rõ ràng, hợp tác cùng thư viện và đại học, mở quyền tiếp cận hợp lý cho người nghiên cứu. Đây không phải việc riêng của một hội văn bút hay vài nhà sưu tập. Đó là trách nhiệm văn hóa liên thế hệ, của cộng đồng nếu thực sự quan tâm.
Song song với lưu trữ phải là phục hồi phê bình. Văn đàn cần những tiếng nói độc lập, công bằng và có phương pháp. Biết trân trọng công lao nhưng không lấy tuổi tác, danh vị hoặc quan hệ làm thước đo nghệ thuật. Phê bình đúng nghĩa không nhằm hạ thấp tác giả mà đưa tác phẩm ra khỏi vòng giao tế để bước vào đời sống tư tưởng. Khi chuẩn mực được xác lập, những tác phẩm có giá trị mới có cơ hội vượt lên khỏi lớp bụi của sự tán thưởng nhất thời.
Việc truyền thừa cũng cần đi xa hơn những lời kêu gọi lớp trẻ “giữ gìn tiếng Việt”. Không thể trao cho họ một di sản như trao một món nợ. Phải giúp họ thấy tiếng Việt là một miền sáng tạo, nơi họ được phép đặt câu hỏi, thử nghiệm, pha trộn và kể lại lịch sử bằng cảm thức của chính mình. Những chương trình cố vấn sáng tác, giải thưởng minh bạch, trại viết song ngữ, câu lạc bộ đọc sách, ấn phẩm dành cho người trẻ và học bổng nghiên cứu sẽ thiết thực hơn mọi lời than trách về sự thờ ơ.
Không gian kỹ thuật số cũng cần được tiếp nhận bằng tư duy mới. Thay vì chỉ đưa nguyên một bài dài lên màn hình rồi chờ độc giả, người làm văn hóa phải cần tạo nhiều lối vào cho cùng một tác phẩm bao gồm bản đọc âm thanh, đối thoại cùng tác giả, tiểu luận ngắn dẫn nhập, thư mục chủ đề, lớp học trực tuyến và những tuyển tập điện tử được biên tập nghiêm cẩn. Công nghệ không cứu được văn học nếu thiếu nội dung, nhưng nó có thể mở cánh cửa mà hình thức sinh hoạt cũ đã khép lại.
Quan trọng hơn cả, văn chương phải trở về với đời sống. Người đọc không rời bỏ văn học chỉ vì họ bận, nhiều khi họ rời bỏ vì không tìm thấy mình trong đó. Khi tác phẩm nói được nỗi cô độc của người già trên đất khách, sự lạc tiếng của đứa trẻ trong gia đình song ngữ, thân phận người lao động di dân, những va chạm căn cước, tổn thương chiến tranh truyền qua nhiều thế hệ và khát vọng tìm một nơi để thuộc về, văn học v.v… sẽ lại có độc giả. Sức sống của văn chương chưa bao giờ tùy thuộc hoàn toàn vào số người dự một buổi ra mắt, nó tùy thuộc vào việc tác phẩm có đi tới được nơi sâu kín của con người hay không.
Nhìn lại, chừng ấy khuôn mặt quanh sách là một cảnh tượng buồn, nhưng chưa phải lời kết. Những người còn ngồi đó chính là chứng nhân của một thời kỳ phi thường, giữa lưu đày, họ đã dựng nên một quê hương bằng chữ. Điều họ trao lại không đơn thuần chỉ là vài nghìn đầu sách mà là bằng chứng rằng một cộng đồng bị phân tán vẫn có thể dùng ngôn ngữ để giữ lấy nhân phẩm và ký ức của mình.
Dẫu vậy, lòng kính trọng đích thực không ở việc chúng ta lặp lại nguyên vẹn những gì thế hệ trước đã làm. Kế thừa không phải bảo quản tro tàn mà kế thừa, là giữ cho ngọn lửa còn khả năng bén sang một vật liệu khác. Văn học Việt hải ngoại mong tiếp tục hiện hữu phải can đảm rời khỏi chiếc khung từng bảo vệ mình, nghĩa là từ đơn ngữ bước sang đối thoại đa ngữ, từ cộng đồng khép kín bước vào không gian học thuật và văn hóa thế giới, từ hoài niệm bước tới nhận thức, từ tình nghĩa văn đàn bước sang chuẩn mực phê bình và từ những nỗ lực cá nhân bước tới thiết chế lâu dài.
Một nền văn học có thể sinh ra từ mất mát nhưng không thể sống mãi chỉ bằng mất mát. Nó phải tạo được kinh nghiệm mới, ngôn ngữ mới và những người đọc chưa từng ngồi trong các hàng ghế cũ. Nếu làm được như vậy, buổi chiều của một thế hệ sẽ không khép lại trong quạnh hiu. Từ khoảng trống giữa những mái đầu bạc, một lớp người khác sẽ bước vào, có thể nói tiếng Việt bằng một âm sắc khác, có thể viết bằng một ngôn ngữ khác, nhưng vẫn mang trong chữ nghĩa một mạch ngầm Việt Nam.
Khi đó, chừng ấy khuôn mặt quây quần bên sách sẽ không còn là hình ảnh của một nền văn học hiu quạnh. Đó sẽ là phút giao thời bởi những người đã gìn giữ ngọn đèn đang lặng lẽ đặt nó xuống giữa hai thế hệ, để ánh sáng tự tìm lấy con đường đi tiếp.
Yuma, AZ ngày 24 tháng 09 năm 2026.
UYÊN NGUYÊN