Uyên Nguyên: Phượng Hồng-Trần Bé, Cuộc Rong Chơi Của Sắc Không và Một Đời Đem Hội Họa Trở Về Tự Tâm

Trong loạt ảnh tôi còn lưu lại, mái tóc ông đã bạc gần hết. Chiếc kính sẫm màu che khuất đôi mắt, sau lưng chỉ là một vùng gỗ xám lạnh, bình thường đến độ gần như vô sự. Có lúc ông ngước nhìn về một khoảng trời ngoài khuôn ảnh, có lúc cúi xuống như đang lắng nghe một tiếng động rất xa xôi vọng lên từ chính mình. Rồi lại có lúc, giữa hai ngón tay già nua, chỉ còn một đốm lửa nhỏ ửng lên nơi đầu điếu thuốc. Trước mặt ông là một khoảng trống mênh mông. Người ít đi. Không gian nhiều hơn. Hình như suốt một đời, họa sĩ Phượng Hồng cũng đã vẽ như thế, và càng về sau, hình tướng trong tranh càng thưa, điều vô hình càng sâu.

Phượng Hồng, thế danh Trần Bé, sinh năm 1949 tại Nha Trang. Từ khoảng sáu tuổi ông đã theo mẹ lên chùa trong những ngày lễ. Thời thiếu niên từng sinh hoạt Gia Đình Phật Tử. Năm 1964, khi mới độ mười bốn, mười lăm tuổi, ông đã có cuộc triển lãm đầu tiên tại Tỉnh Hội Phật giáo Khánh Hòa, với một thế giới tạo hình mang chủ đề “Phật trong thiên nhiên” mà hôm nay nhìn lại, dường như đã tiên báo gần trọn con đường nghệ thuật của sáu thập niên về sau. Ông không xuất thân từ một học viện mỹ thuật chính quy. Tuổi trưởng thành từng chọn nghề kỹ thuật, rồi qua những dâu bể của thời cuộc lại trở về với cây cọ, tự học qua sách vở, bằng hữu, đồng nghiệp và những tháng năm âm thầm dò tìm lấy con đường riêng. Có lẽ chính vì không bị ràng buộc quá chặt vào một quy phạm học đường, hội họa của ông giữ được một phần thiên tính phóng khoáng: bút đến thì đi, ý tận thì dừng, chẳng quá thiết tha với phép tắc của sự tròn trịa.

Hôm nay, ngày 31 tháng 8 năm 2026, họa sĩ Phượng Hồng từ giã cõi đời vào lúc 1 giờ sáng, hưởng thọ 78 tuổi. Một đời nghệ thuật của ông được nhớ lại qua hơn nửa thế kỷ đi về giữa hội họa, cửa Phật và bằng hữu trong đạo. Nhưng mỹ thuật Phượng Hồng, tự căn để, vốn không quen đặt sự vật trong thế đoạn tuyệt. Mây đổi hình mà trời chưa từng khuyết. Nước qua bến xưa mà dòng vẫn lưu. Một nét mực đã khô trên giấy dó, nhưng cái động của cổ tay năm nào dường như vẫn còn rưng rưng ở phía bên kia con mắt người thưởng ngoạn. Người họa sĩ buông cọ. Hội họa, nếu đã thật sự chạm tới tâm thức, tự nó tiếp tục phần du hành còn lại. Bút dừng mà ý chưa tận. Nhân ảnh khuất mà dư vận vẫn trường lưu.

Điều thú vị nơi Phượng Hồng là ông bước vào mỹ thuật Phật giáo không từ phía một người chuyên minh họa tôn giáo, mà từ phía của một kẻ đã sống khá lâu trong khí hậu tinh thần Phật giáo. Hai điều ấy tưởng gần mà thực ra cách nhau rất xa. Người ta có thể vẽ một pho Phật thật chuẩn tướng hảo mà bức họa vẫn chỉ dừng lại ở tín hiệu biểu tượng. Ngược lại, một bức tranh chẳng hề có tượng Phật, chỉ một cánh phi điểu, một vừng trăng, vài nhánh cây cô tịch, một chiếc thuyền giữa thủy sắc mông lung, vẫn có thể mang đầy thiền khí. Phượng Hồng hiểu rằng Thiền không phải là điều huyền áo ở bên ngoài mà nằm nơi tâm, và Thiền trong tranh là sự chuyển tải “tâm lực” của người hành thiền vào tác phẩm. Bởi thế, thiên nhiên trong tranh ông thường hiện ra với một cánh chim giữa trời không, một con thuyền lênh đênh, non cảnh, nhật nguyệt, thủy sắc, cùng những nhân ảnh nhỏ nhoi trước khoảng không mênh mang. Thế giới ấy vừa động vừa tĩnh, vừa giản phác vừa u huyền. Cái động dường như chỉ để làm sâu thêm cái tịch, cái hữu hình chỉ vừa đủ để mở cửa cho vô hình trường lên.

Ông vẽ bằng nhiều chất liệu sơn dầu, sơn mài, giấy dó, phấn tiên; nhưng đặc biệt tâm đắc với màu nước trên vải. Người từng xem tranh Phượng Hồng dễ nhận thấy một chút dư vị thủy mặc Trung Hoa, một chút thanh đạm của hội họa Nhật Bản, song dưới lớp phong vị Á Đông ấy vẫn hiện rõ khí sắc của một người sinh trưởng bên biển miền Trung Việt Nam. Ông thường vẽ rất nhanh, nhiều khi không phác thảo. Khi cảm xúc đến, cọ đi một mạch cho đến lúc tác phẩm tự tìm được nơi dừng. Cách sáng tác ấy khiến tranh ông có một phẩm tính đặc biệt gợi nhiều hơn tả, để lại những phần chưa nói như cổ thi lưu lại thanh âm phía sau câu chữ.

Trong mỹ học Đông phương, bút vốn không nhất thiết phải đuổi theo đến tận cùng hình vật. Núi có thể chưa thành núi. Nước đôi khi chỉ là một dải nhòa. Nhân ảnh đôi lúc vài điểm sắc đã đủ. Phần chưa vẽ không phải chỗ khuyết mà chính là nơi người thưởng ngoạn được mời bước vào. Cổ nhân nói ý tại bút ngoại, thần khí không nằm hết trong nét mực mà phảng phất ở chỗ nét mực vừa dừng. Khoảng trắng, bởi vậy, không phải phần giấy bị bỏ quên nhưng nó là một sự hiện diện. Có khi chính nơi không vẽ ấy, bức họa mới bắt đầu có hơi thở. Phượng Hồng, dẫu chưa từng tự giam mình trong một hệ thống mỹ học cổ điển nào, rõ ràng có một trực giác mạnh mẽ đối với cõi trống rỗng ấy. Ông không chất đầy thế giới. Ông chừa một khoảng để mây được trôi, để nước được lặng, để con người bỗng nghe ra tiếng thinh không nơi chính mình. Ông để trời được làm trời.

Và chính tại đó, hội họa Phượng Hồng gặp Phật học một cách tự nhiên, không cưỡng cầu, không thuyết giáo.

Bởi Không trong Phật giáo dĩ nhiên chẳng phải khoảng giấy trắng, càng không phải hư vô đoạn diệt. Śūnyatā là sự vắng mặt của một tự tính biệt lập, là lời khai thị rằng mọi pháp chỉ thành tựu trong tương y, tương duyên, tương nhiếp. Bởi vậy, nghệ thuật biết tiết chế hình tướng đôi khi có thể đưa người xem đến gần trực giác hơn một diễn ngôn dài dòng. Áng mây trong tranh Phượng Hồng sở dĩ thành mây bởi chung quanh nó có mênh mông. Chiếc thuyền sở dĩ thành thuyền bởi có nước để lênh đênh. Trăng được nhìn ra vì có trời đêm dung chứa. Bóng dáng con người càng nhỏ, thiên địa càng rộng; thiên địa càng rộng, cái ngã càng thôi cưỡng chiếm vị trí trung tâm của thế giới. Ấy không phải chối bỏ con người, mà trả con người về đúng kích thước của mình giữa trùng trùng duyên khởi — một hạt bụi nhỏ mà vẫn mang đủ trời đất trong từng sát-na sinh diệt.

Từ đó, tinh thần vô ngã nơi Phượng Hồng trước hết biểu hiện ngay trong động tác sáng tạo. Ông thường vẽ liền một mạch, nhiều lúc hoàn tất rồi cũng không muốn cắt nghĩa tác phẩm đến tận cùng. Ông từng ước mong một ngày có thể quên cả mình là ai, quên danh hiệu, quên khen chê, “như giọt sương tan trong bể Phật”. Nếu tách khỏi đời sống, những lời ấy rất dễ hóa thành mỹ từ Thiền học, nhưng đặt trong một Phượng Hồng không qua trường lớp chính quy, sống giản dị, từng lang bạt, từng cơ cực, từng thản nhiên trước sự định giá của danh tiếng, câu nói ấy bỗng mang một trọng lượng khác. Bởi cái “quên mình” trong nghệ thuật không phải là phủ nhận bản thân mà là khoảnh khắc người nghệ sĩ không còn chen cái tôi vào giữa mình và đối tượng. Bấy giờ, cọ tự đi, sắc tự hiện, cảnh tự sinh. Người vẽ dường như lùira  khỏi bức tranh để cho bức tranh được trở thành chính nó.

Xem tranh ông, ta gặp sự bình an. Nhưng điều đó không phải thứ bình an chưa từng biết đến phong ba. Đời ông cũng có những năm tháng vật lộn với cơm áo, có lúc phải bán tranh để mua lại vật liệu, có khi sáng tác đến kiệt sức. Cho nên, sắc nhẹ trong tranh Phượng Hồng không hẳn vì đời đã nhẹ với mình. Có khi ngược lại, chính bởi từng mang quá nhiều nặng nhọc, người ta mới thấu hiểu giá trị của một khoảng không. Người từng đi qua huyên náo mới quý một tiếng chuông xa. Kẻ từng chịu phong sương mới trực nhận một vầng nguyệt lạnh có thể an ủi đến chừng nào. Tịch nơi ông không phải là sự thiếu vắng, nó là phần lắng xuống sau khi bão tố đã đi ngang tâm thức.

Năm 2011, cuộc triển lãm Hành trình tâm linh tại Festival Biển Nha Trang có lẽ là một trong những dấu mốc đẹp nhất của đời họa sĩ. Ông chọn 63 tác phẩm tương ứng với 63 năm đời, phần lớn là màu nước trên vải và giấy dó, bên cạnh sơn mài, sơn dầu, phấn tiên. Rồi xem cuộc triển lãm ấy như một sự trở về, một tặng phẩm được chắt lọc dâng cho quê hương. Lời ông khi ấy rất ngắn, nhưng dường như đủ làm đề từ cho cả đời sáng tác: “Nghệ thuật với tôi chính là đời sống tâm linh.” Một câu giản dị, mà phía sau là cả một quan niệm nghệ thuật, nghĩa là hội họa không ở ngoài đời sống, tâm linh cũng chẳng đứng ngoài nghệ thuật. Khi hai điều ấy gặp nhau, một nét cọ có thể trở thành dấu tích của công phu nội quán.

Nha Trang trong câu chuyện ấy không đóng khung là nguyên quán. Biển, đối với một người vẽ như Phượng Hồng, gần như là một cấu trúc thẩm mỹ đã ngấm vào thị giác từ thuở ấu thời. Lớn lên trước đại dương, người ta học một điều mà phố thị rất khó dạy, đường chân trời bao giờ cũng xa hơn vật thể, và cái thấy chẳng bao giờ tận cùng ở nơi con mắt dừng lại. Núi, tháp, chùa, biển, mây xứ Trầm Hương đã cho tranh ông cái khoáng đạt của trường không, cái mơ hồ của thủy khí, cái phiêu hốt giữa hiện và ẩn. Bởi vậy, ngay khi vẽ Phật, ông cũng ít khi giam Phật trong một điện thờ của tưởng tượng. Phật đi vào thiên nhiên, hoặc sâu hơn, thiên nhiên trở thành một phương thức để con người nhận ra Phật tính. Không nhất thiết phải là tượng vàng trên bảo tọa. Một chút nắng nghiêng qua triền núi, một bóng cô điểu giữa thái hư, trăng lạnh xuyên nhành khô, một chiếc thuyền lặng giữa non nước vô tế… nếu người nhìn đủ tĩnh, pháp âm đã hiện mà chẳng cần một lời kinh.

Ở đây thấp thoáng phong vị cực ít ngôn từ mà dư tình vô tận; người lui xuống để cảnh vật tự cất tiếng. Sơn bất ngôn nhi ý viễn, thủy vô ngữ nhi tình thâm – núi chẳng nói mà ý đã xa, nước không lời mà tình đã sâu. Những bức tranh Phượng Hồng hay nhất cũng thường đi theo lối ấy. Ít thuyết minh. Ít giáo huấn. Không lấy màu sắc dựng thành một pháp tòa. Không đem giáo lý biến thành khẩu hiệu treo trên bề mặt. Ông chỉ hé một cánh cửa, rồi lặng lẽ lui ra. Người xem tranh tự bước qua hay không, ấy là phần nhân duyên của người xem vậy.

Đó cũng là lý do tranh họa sĩ Phượng Hồng không bị giới hạn ở khái niệm “tranh Phật giáo”, nếu khái niệm ấy chỉ được hiểu như một loại hình minh họa. Về lịch sử sáng tác, phần lớn cuộc đời nghệ thuật của ông quả thực gắn liền với Phật giáo, từ cuộc triển lãm đầu tiên tại Tỉnh Hội Phật giáo Khánh Hòa, những lần trưng bày tại Long Sơn, Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi, Học viện Phật giáo Việt Nam, Hội Mỹ thuật Việt Nam, rồi theo tranh đi đến Ohio, Toronto, Melbourne, Paris, California và nhiều phương trời khác. Riêng Tu viện Quảng Đức tại Melbourne từng triển lãm tranh ông trong ba năm liên tiếp 1998, 1999 và 2000. Nhưng thành tựu đáng nói hơn về phương diện mỹ học nằm ở chỗ ông đã thử làm một việc rất độc đáo, chuyển giáo nghĩa thành khí hậu thẩm mỹ mà không làm giáo nghĩa đông cứng thành biểu tượng. Đó là lúc Phật pháp không còn được “vẽ ra”, mà được để cho thẩm thấu vào sắc, vào khoảng trống, vào tiết điệu của đường cọ.

Một bức tranh Phật giáo lớn không phải vì trong đó Đức Phật được vẽ thật lớn. Đôi khi Phật càng nhỏ, thế giới càng rộng, ý niệm về Pháp thân lại càng dễ khởi lên. Một thân người chỉ như dấu chấm dưới chân sơn lĩnh. Một cánh chim vừa đủ lay động cái tịch mịch của trời không. Một chiếc thuyền gần tan vào sông nước. Một vầng trăng khuya chỉ như điểm sáng trong cõi vô biên. Nhìn cái hữu hạn được đặt đúng chỗ như thế, người xem bắt đầu cảm nhận cái vô hạn. Mà cái vô hạn ấy chẳng nằm sau lưng hiện tượng như một thực thể siêu hình nào khác. Nó hiển lộ ngay trong vô số quan hệ đang khiến mỗi hiện tượng có mặt. Chính ở đây, mỹ học Phượng Hồng có thể được nhìn nhận gần với tinh thần duyên khởi hơn là một thứ thần bí thoát ly trần thế. Sắc tức thị không không phải vì sắc biến mất, mà bởi sắc chưa từng tự hữu; không tức thị sắc bởi chính trong tương duyên vô tự tính ấy, muôn hình vạn trạng mới có thể sinh thành.

Bấy giờ, trở về với những tấm ảnh mình còn lưu giữ. Mái tóc bạc phất ngang trán. Cổ áo đen. Kính màu sẫm. Một bàn tay đã già. Đốm lửa đỏ chỉ hiện một sát-na rồi hóa tro. Phía sau là vách gỗ xám ngắt tưởng như chẳng có gì đáng kể; vậy mà trên mặt kính của ông lại phản chiếu một bầu trời, vài bóng cây và chút ánh chiều đang xuống. Chi tiết nhỏ ấy đẹp đến mức tưởng như chính Phượng Hồng đã vô tình đặt đời mình vào một bức tranh cuối cùng. Đôi mắt bị che đi, nhưng trên chính lớp che phủ ấy lại hiện ra một cảnh giới khác. Nhãn căn không thấy, mà cảnh vẫn hiện. Cảnh ngoài kia, cảnh trong này, bất giác chẳng biết đâu là thực ảnh, đâu là tâm ảnh. Một đời họa sĩ, nghĩ đến cùng, có lẽ cũng chỉ là cuộc đi, về giữa hai bờ này.

Một nét cọ vừa chạm xuống giấy đã là khoảnh khắc sắc gặp không. Một mảng màu sinh khởi rồi phai nhạt. Một hình tượng được dựng lên để rồi một ngày rời khỏi người họa nên nó. Nghệ thuật, ở tầng sâu nhất vốn đã hàm chứa sự chia lìa. Họa phẩm khi hoàn tất không còn hoàn toàn thuộc về người họa sĩ nữa, nó bắt đầu đời sống riêng trong những con mắt xa lạ. Nếu Phượng Hồng từng mong mình như giọt sương tan vào “bể Phật”, thì trong buổi sớm cuối tháng Tám hôm nay, chữ tan không hẳn là mất. Sương tan chẳng đi về đâu. Nó chỉ không còn giữ lấy hình hài của một giọt nhỏ để hoàn trả mình cho hư không, cho mây nước, cho càn khôn vốn đã dung nhiếp nó từ thuở chưa thành sương.

Họa sĩ Phượng Hồng đã đi hơn sáu thập niên, từ cuộc triển lãm của một thiếu niên năm 1964 đến buổi sớm cuối cùng của năm 2026. Giữa hai đầu thời gian ấy là biết bao họa phẩm, bao cuộc triển lãm, những nẻo thiên lý, những cửa chùa, những tri kỷ và tao nhân, một đời nghèo giàu tùy duyên, những khuôn mặt Đạt Ma bích nhãn, vài bóng cô điểu, những vầng nguyệt thanh hàn và vô số khoảng trời chưa từng tô kín. Nghĩ cho rốt ráo, những gì chưa được tô hết ấy mới là phần gần ông nhất. Bởi họa sĩ Phượng Hồng dường như chưa bao giờ muốn đóng lại thế giới. Ông chỉ vẽ đủ để người khác biết rằng ngoài nét cọ kia vẫn còn một cõi khác chưa thể định hình.

Ngoài song, mây bạc đã qua núi. Trong thất, trà nguội tự bao giờ. Người họa sĩ không còn ngồi đó nữa mà một khoảng trắng vừa rộng thêm trong tranh. Ở một họa phẩm nào đó, hẳn vẫn còn một cánh chim chưa bay qua hết miền cô tịch; một chiếc thuyền vẫn ở giữa bờ mê và bến giác; một vầng nguyệt còn treo ngoài triền núi; một Đạt Ma của Phượng Hồng vẫn mở đôi mắt bích nhãn nhìn xuyên lớp sắc màu và nhìn xuyên cả người đang đứng trước tranh như muốn hỏi lại một câu hỏi muôn đời của Thiền môn: Người đang tìm cái gì?

Phượng Hồng – Trần Bé. Một đời họa Phật, sau cùng chẳng phải để giữ lấy hình Phật. Một đời gần cửa Thiền, có lẽ cũng chẳng phải huyên náo chữ Thiền. Bởi gọi thành tên thì đã thành danh tướng; giữ lấy hình thì hình ấy rồi cũng thuộc sinh diệt. Điều ở lại dường như giản dị hơn là một chút thanh phong lướt qua đầu núi, một áng cô vân vô tâm quá độ đầu non, một vệt trăng lạng trên dòng thủy mặc, và giữa khoảng tịch nhiên tưởng chừng chẳng còn gì, thần khí của một đường cọ vẫn âm thầm lưu loát.

Bút đã tận mà ý chưa cùng. Mực đã khô mà tâm ảnh chưa phai. Nhân gian từ đây thiếu một người cầm cọ, nhưng giữa trường không của hội họa Phật giáo Việt Nam, dường như lại vừa mở thêm một khoảng vô ngôn. Ở đó, Phượng Hồng vẫn đang rong chơi,  giữa sắc và không, giữa hữu tướng và vô tướng, giữa một sát-na nhân thế và cõi tịch quang vô tận.

Phật lịch 2570 – Yuma, Arizona, 31.08.2026

UYÊN NGUYÊN

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.